Thursday, April 2, 2026

ĐƯỜNG VÀO Z30C (THƠ- NGUYỄN THỊ THANH DƯƠNG)

 


    ĐƯỜNG VÀO Z30C.

( Viết tặng tất cả những người vợ đã thăm chồng tại Z30C)

 

Thăm anh, đường vào Z30C,

Trại tù “cải tạo” ở nơi Rừng Lá,

Hàm Tân, Thuận Hải sao mà lắm gío,

Có phải gío từ Phan Thiết thổi vể?

 

Đường dài hun hút chẳng thấy phía xa,

Chỉ thấy đất cát trải đầy trước mặt,

Cát vướng chân em bước đi rất chậm,

Mấy cây số đường giữa lúc nắng lên.

 

Khu tiếp nhận nằm giữa rừng buồn tênh,

Những lán trại cất vội bằng tre nứa,

Cây Phượng Vỹ ngoài cổng xanh tươi lá,

Xanh như tóc người vợ trẻ thăm tù.

 

Giây phút đợi anh như cả thiên thu,

Chồng của mình bỗng xa như cổ tích,

Năm 1975 anh đi biền biệt,

Anh đi tù, không được biết ngày về.

 

Trại tù đầu tiên em biết qua thư,

Anh ở Long Giao, cái tên rất lạ,

Em quanh quẩn lớn lên ở thành phố,

Có nhiều nơi em chưa biết bao giờ.

 

Trại tù thứ hai khi anh chuyển về,

Thành Ông Năm, Hốc Môn. Chiều mưa đó,

Em đến thăm anh đôi giòng lệ đổ,

Tại trời mưa hay em khóc như mưa.

 

Rồi anh chuyển trại tù lần thứ ba,

Z30 chia thành nhiều khu vực,

Khu A,B,C,D…nào có khác,

Cũng người tù, người thua trận miền Nam.

 

Em ngồi trong lán nhìn ra xung quanh,

Bốn bề núi rừng, nơi nào anh ở

Dù nơi nào cũng ngút ngàn thương nhớ,

Vượn hú chim kêu mỗi lúc chiều buông.

 

Chỉ có mười lăm phút để hỏi thăm,

Bao điều muốn nói em chưa kịp nói,

Em tủi thân nhìn anh quay trở lại

Núi rừng kia tiếp tục một thân tù.

 

Còn em trở về cuộc sống chia lìa,

Chào lán trại những phút giây gặp gỡ,

 Chào cây Phượng vẫn hồn nhiên trong gió,

Đâu hiểu lòng kẻ ở lại, người về.

                    

Chào anh, em rời Z30C,

Cũng con đường ấy, trở về ngao ngán,

Cũng gió ấy, nghe tiếng anh vọng đến,

Anh gọi tên em mỗi lúc một xa.

 Nguyễn Thị Thanh Dương

   

THƯƠNG NHAU (THƠ- BÙI PHẠM THÀNH) & THUỞ MỚI BIẾT YÊU (THƠ Á NGHI)

 





THUỞ MỚI BIẾT YÊU

Ở nhà thấy nhớ muốn điên

Đến nơi chẳng thiết huyên thiên chuyện gì

Người Ta hỏi, chẳng thưa chi

Hết cười lại “Dạ!”, lạ kỳ ghê nơi!

 

Tưởng mình em, hóa ra Người

Tới, lui, chờ đợi tả tơi than trời

Học bài Thử Rể ạ… ơi…

Cưới em Cỏ Nội, bốc hơi Hương Đồng.

*

Thương anh, em chọn làm… chồng!

Á Nghi, 24.3.2026

CÔNG CHÚA NGUYỄN PHÚC NHƯ MAI (NDIEP TRAN- SƯU TẦM)

 


Princesse d’Annam Như Mai

Công Chúa

Nguyễn Phúc Như Mai

con gái vua Hàm Nghi

Tiểu sử (trích trong Wikipedia) :


Nguyễn Phúc Như Mai (阮福如梅) [1] (1905 – 1999) là con gái trưởng của Hoàng đế Hàm Nghinhà Nguyễn với vợ là bà Marcelle Laloë.


    Tên khai sinh của bà tại Alger là Princess Marcelle Suzanne Henriette Ung Lich Ham Nghi d’An -nam, 

   sinh ngày 17 thángtháng 8 năm 1905, tại Biệt thư Ngàn thông (Villa des Pins), làng El-Biar, gần Alger- Algerie

   là con gái trưởng của nhà vua yêu nước Hàm Nghi và Vương phi Marcelle Aimée Léonie Laloe (người Pháp). 

   Công chúa là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên đỗ Thạc sĩ Nông lâm, mà lại đỗ thủ khoa, trên cả hàng chục nhà khoa bảng của Pháp. Kết quả này đã làm ngạc nhiên giới báo chí Paris hồi cuối những năm hai mươi của Thế kỷ XX

   Ngoài bằng Thạc sĩ Nông lâm, Công chúa còn có nhiều bằng về hóa sinh học. Nhưng trước khi mọi người biết đến tài năng của bà, người ta đã vô cùng kính phục cái bản lãnh con gái một ông vua Việt Nam yêu nước của bà. 

   Theo Công chúa Như Lý (em gái), Công chúa Như Mai là một người cởi mở, làm việc có phương pháp khoa học và năng nổ. Công chúa luôn được người trên kẻ dưới quý trọng với tên gọi trìu mến là "Princesse d’Annam" (Bà Công chúa An Nam). 

Suốt thời gian theo học Đại học, bà thường phục sức theo kiểu đàn bà Việt Nam. Các nhà báo hỏi vì sao bà lại ăn mặc như thế, bà cho biết:

Ăn mặc như thế thể theo ý muốn của cha tôi là vua Hàm Nghi.
........



(Elle a obtenu une MAITRISE en Agronomie et sortie Major de l'institut National d’Agronomie) 

Bà ở vậy (célibataire) và qua đời tại Château  de LOOSSE (Thonac, Perigord)) năm 1999 thọ  94 tuổi


hình giữa : Vua Hàm Nghi

cô gái lai 1/2 Việt 1/2 Pháp  thời  trẻ 


Château de LOOSSE (à Thonac en Dordogne  Périgord) xây từ 1576, nơi Bà sống từ 1930 đến cuối đời và an táng ở đây cùng Vua Hàm Nghi 



Les Jardins de la Princesse cạnh Château de LOOSSE  và Sông Vézère 

Vua Hàm Nghi mua lại Château này năm 1930 
Nay thuộc về một Société privée, dùng làm site historique touristique et gastronomique.. 

BẬC NỮ LƯU VƯƠNG GIẢ VÀ CON ĐƯỜNG HỌC VẤN LÀM RẠNG DANH XỨ SỞ

Trong lịch sử hoàng tộc nhà Nguyễn, có lẽ chưa có vị công chúa nào sở hữu một cuộc đời đặc biệt như Công chúa Nguyễn Phúc Như Mai (1905–1999), trưởng nữ của vua Hàm Nghi. Sanh ra tại thủ đô Algiers (Algérie) trong cảnh lưu đày của vua cha Hàm Nghi, bà không được hưởng lầu son gác tía tại Huế, nhưng bù lại, bà đã hấp thụ một nền giáo dục Tây phương ưu tú nhất thời bấy giờ.



Thủ khoa ưu tú và tấm bằng Kỹ sư Nông nghiệp đầu tiên



Cái học của Công chúa Như Mai không phải là cái học thêu hoa dệt gấm cho vui. Bà nổi tiếng thông minh, học lực vượt trội so với các bạn đồng trang lứa người Pháp.



Vào những năm đầu thế kỷ 20, khi phụ nữ còn chưa được khuyến khích đến trường, bà đã làm nên một kỳ tích: Đỗ Thủ khoa vào trường Viện Nông nghiệp Quốc gia tại Paris (Institut National Agronomique). Năm 1926, bà trở thành người phụ nữ đầu tiên ở Pháp tốt nghiệp Thủ khoa Kỹ sư Nông nghiệp.



Tấm bằng này không chỉ là chứng chỉ học thuật, mà là lời khẳng định đanh thép về trí tuệ của con em nước Việt trước thế giới.



Cuộc đời "Thanh tao như đóa mai, cứng cỏi như nhành liễu"



Dù sống trên đất khách, nhưng Công chúa Như Mai vẫn giữ vẹn nguyên cốt cách của một vị hoàng nữ. Bà không bao giờ lập gia đình, dành trọn cuộc đời cho việc nghiên cứu nông nghiệp và làm từ thiện.



Sau khi tốt nghiệp, bà về vùng Dordogne (Pháp) giúp dân địa phương cải thiện kỹ thuật canh tác, trồng trọt. Người dân vùng này kính trọng bà vô cùng, họ không gọi bà bằng tước hiệu cao sang mà gọi thân thương là "Công chúa của những người nông dân".



Bà sống một cuộc đời thanh bạch, giản dị tại lâu đài De la Force. Những người từng gặp bà đều kể lại rằng: Dù nói tiếng Pháp lưu loát, am tường văn hóa Tây phương, nhưng ở bà vẫn toát lên vẻ khiêm cung, lễ độ đúng chất một gia đình nề nếp phương Đông.



Lòng hiếu thảo và nỗi niềm hướng về tổ quốc



Suốt đời, bà là chỗ dựa tinh thần cho vua cha Hàm Nghi trong những năm tháng ông u uất nơi đất khách. Bà là người sắp xếp các cuộc triển lãm tranh cho cha, giữ gìn từng bản thảo, kỷ vật của ông.



Bà mất năm 1999, hưởng thọ 94 tuổi. Di nguyện của bà là được yên nghỉ bên cạnh cha mình. Cuộc đời bà là minh chứng cho việc: Dẫu ở trong bất cứ hoàn cảnh nào, từ vương giả đến lưu vong, cái chữ và cái tâm vẫn là thứ trang sức quý giá nhất của người phụ nữ.



"ĐÓA HOA TRI THỨC" GIỮA KINH ĐÔ ÁNH SÁNG

 Hồi những năm 1920, khi các tiểu thư đài các ở Paris còn mải mê với những buổi dạ tiệc phù hoa, thì Công chúa Như Mai lại chọn cho mình một con đường gai góc hơn nhiều: Khoa học Nông nghiệp.



Vượt qua định kiến bằng thực tài



Thời đó phụ nữ đi học đại học đã hiếm, mà học cái ngành lội ruộng, nghiên cứu đất đai, cây trồng như bà thì lại càng hiếm hơn. Khi bà bước chân vào Viện Nông nghiệp Quốc gia Pháp, không ít những cặp mắt nghi ngại nhìn về phía người thiếu nữ Á Đông bé nhỏ.



Nhưng rồi, bà đã trả lời bằng kết quả học tập "kinh hồn bạt vía". 



Năm 1926, tin bà đỗ Thủ khoa Kỹ sư Nông nghiệp làm chấn động cả giới trí thức. Tờ báo L'Echo d'Alger và nhiều tờ báo lớn ở Paris lúc bấy giờ đã đăng tin, ca ngợi bà là một hiện tượng của nghị lực và trí tuệ. Họ gọi bà là "Đóa hoa của tri thức Á Đông" vì bà vừa giữ được nét dịu dàng truyền thống, vừa sở hữu tư duy khoa học sắc bén của phương Tây.



Cái nết "Pardessus" và sự giản dị thanh cao



Dù nổi danh như cồn, nhưng bà Như Mai đi học lại cực kỳ giản dị. Bà thường khoác chiếc áo "pa-đờ-xuya" (pardessus) sẫm màu, tay ôm chồng sách dày cộm, lẳng lặng lên giảng đường. Người ta kể rằng, dù biết bà là Công chúa, nhưng nếu không nhìn vào cái cốt cách sang trọng toát ra từ bên trong, người ta cứ ngỡ bà là một nữ sinh viên nghèo hiếu học.



Bà không dùng tước hiệu để mưu cầu đặc quyền. Ngược lại, bà dùng kiến thức để giúp đỡ những người nông dân Pháp ở vùng Dordogne sau này. Bà dạy họ cách chọn giống, cách bón phân sao cho hiệu quả. Chính cái sự "dấn thân" này đã khiến giới hàn lâm Pháp phải ngả mũ kính chào.



MỘT LỜI KHUYÊN CHO HẬU THẾ 



Có lần, người ta hỏi bà tại sao lại chọn ngành nông nghiệp vất vả như vậy, bà chỉ mỉm cười nói đại ý rằng: Học là để làm việc, để giúp đời, chứ không phải để làm trang sức cho cái danh hiệu Công chúa.



CÁI VƯỜN ĐỊA ĐÀNG CỦA "CÔNG CHÚA NÔNG DÂN"



Giữa vùng nông thôn nước Pháp thanh bình, Công chúa Như Mai không xây lầu son gác tía, mà bà biến khu đất quanh mình thành một trạm thực nghiệm nông nghiệp thu nhỏ.

Bàn tay vàng trên luống đất: Bà không chỉ chỉ tay năm ngón. Với tấm bằng Thủ khoa Kỹ sư Nông nghiệp, bà tự tay xuống vườn, nghiên cứu từng loại đất để trồng những giống cây mới. Bà đặc biệt chú trọng đến việc cải thiện giống ngũ cốc và các loại cây ăn trái để giúp dân địa phương tăng năng suất.

Sự giao thoa thảo mộc: Người ta kể rằng trong vườn của bà, bên cạnh những giống hồng Pháp kiêu sa hay những hàng nho trĩu quả của vùng Dordogne, bà luôn cố gắng tìm cách di thực hoặc trồng những loài cây gợi nhớ về quê hương. Cái vườn đó vừa có cái khoa học của phương Tây, vừa có cái hồn cốt của phương Đông.

"Bác sĩ" của cây trồng: Dân làng hễ thấy cây bị sâu bệnh hay lúa không trổ bông là lại tìm đến "Mademoiselle Như Mai". Bà tiếp đón họ bằng sự khiêm cung, chân thành. Bà dùng kiến thức uyên thâm để trị bệnh cho cây, hướng dẫn họ cách bón phân sao cho hợp lẽ tự nhiên.

"CHẲNG LỤY DANH PHẦN" GIỮA MÀU XANH CÂY CỎ



Công chúa Như Mai tìm thấy sự bình yên và giá trị cuộc đời qua những mầm xanh nảy nở từ lòng đất. 



Bà sống một mình trong lâu đài cổ, nhưng không hề cô độc. Bầu bạn với bà là sách vở, là cây cỏ và là lòng biết ơn của những người nông dân nghèo. Cái "gót sen dẫm đất" của bà không làm vấy bẩn phẩm giá, mà trái lại, nó làm cho danh tiếng của một vị Hoàng nữ Việt Nam càng thêm tỏa hương thơm ngát giữa lòng nước Pháp.



VỊNH BẬC NỮ LƯU TÀI SẮC



Gió phương ngoại lồng mây viễn xứ, 

Chốn cung đình rạng chữ thi thư. 

Phấn son chẳng lụy thân dư, 

Gót sen dẫm đất, tâm từ nở hoa.



Kìa bướm hoa, Maria tường tận, 

Nọ đồng xanh, Như Mai dấn thân. 

Chí cao chẳng lụy danh phần, 

Gót sen dẫm đất, lòng trần thanh cao.



Lầu nghiên bút, miệt mài kinh sử, 

Dưới tàn mai, thong thả thi chương. 

Thanh cao cốt cách phi thường, 

Ngàn năm còn đọng, sắc hương vẹn đầy.

NDiep Tran sưu tầm 
( lượm trên FB.TN)
image0.jpeg

image1.jpeg

NHỮNG HÌNH ẢNH THÁNG 3 & 4 NĂM 1975

 THANG 4 LAI VE , NUOC MAT NHA TAN


: HÌNH ẢNH THÁNG 4 ĐEN


Tháng 4 ĐEN - HÌNH ẢNH THÁNG 3 & 4.75...


  1. Tại Tuy Hòa , Vạn Ninh (Tỉnh Phú Yên, Tỉnh Khánh Hòa)Ngày 23-3-1975 phần đuôi đoàn xe di tản bị mắc kẹt trên Tỉnh Lộ 7 gần quận Phú Túc, cách Thành Phố Tuy Hòa khoảng 40 km về phía tây, vì pháo cọng sản bắn vào đoàn xe ở phía trướcBà mẹ mất con tại Tuy Hòa. Ngày 25 - 3 – 1975Ngày 26 tháng 3 năm 1975 tại Vạn Ninh, Ninh Hòa. Những người dân chỉ có vài món đồ trên lưng , tức tưởi dẫn gia đình trốn chạy cộng sản
Tại Nha Trang Ngày 31 - 3- 1975 tại phi trường Nha Trang Trên chuyến bay cuối cùng rời khỏi phi trường Nha Trang ngày 31 - 3- 1975 Trong cuộc hổn loạn những người Lính VNCH không chỉ lo cho riêng bản thân mình mà còn giúp đở bảo vệ sự sinh tồn của người dân nhất là những em bé Phi trường Nha Trang Ngày 1 - 4- 1975 Ngày 2 - 4- 1975. Trong cảnh di tản ra khỏi Nha Trang. Một người dân đang đu trên cánh cửa máy bay 3 giờ sáng Ngày 30 - 3 - 1975. Chiếc HQ 802 cập bến cãng Cam Ranh ... đến 8 giờ tối Ngày 30 tháng 3 năm 1975, nhổ neo tiếp tục cuộc hành trình, rời cảng Cam Ranh để về Vũng Tàu Hai ngày sau, là ngày 3-4-1975. Tàu HQ 802 đang trên biển Đông Ngày 2 tháng 4 năm 1975 Nha Trang thất thủ
(CÒN TIẾP)

Wednesday, April 1, 2026

XIN LỖI ANH LONG (KIM LOAN)

 

XIN LỖI ANH LONG

NGƯỜI ĐẸP KIM LOAN.

Hai anh em tôi ngồi trong quán nước bến xe Bà Hạt, lát sau có một thanh niên khoảng gần 30 tuổi tiến đến, chúng tôi nhận ra anh Long vì tuần trước, anh và chủ tàu vượt biên là anh Minh có đến nhà tôi để bàn bạc và thỏa thuận giá cả chuyến đi.

Ba người bắt tay nhau, anh Long tiếp:

-        Cô và anh ngồi đây, tôi còn đi đón thêm người.

Lát sau, anh dẫn đến một phụ nữ cùng cậu thiếu niên chừng 14 tuổi và bé trai cỡ 8 tuổi, anh giới thiệu:

-        Đây là Loan, còn đây là chị Cải và hai con trai của chị ấy: Sơn và Cu Tí. Tôi sẽ là người dẫn đường, là trưởng nhóm, từ đây cho đến khi qua Cambodia, trước khi lên tàu ra khơi mọi người phải đi theo tôi, nghe lời hướng dẫn của tôi!

Vừa lúc đến giờ lên xe đò, anh Long dặn:

-        Chút nữa trên xe sẽ có 3 nhóm khác, tổng cộng là 4 nhóm, tính luôn các trưởng nhóm thì khoảng hơn 20 người, tất cả đều “quen”, nên cứ việc nói chuyện thoải mái, nhưng luôn nhớ nghe lời trưởng nhóm khi có bất cứ việc gì cần thiết.

Mọi người bắt đầu lên xe, tôi quay lại vẫy tay chào anh tôi, rồi đi xuống phía cuối xe, nơi có 3 cô gái đang ngồi hàng ghế chót, còn dư một chỗ, tôi liền ngồi vào đấy. Tôi chẳng biết anh Long ngồi chỗ nào, xe lăn bánh, tiếng nói chuyện bắt đầu rì rào. Tám giờ tối, gió mát mẻ, những phố xá lùi lại phía sau, xe hướng về đồng ruộng vắng vẻ, trực chỉ Long An. Tôi muốn nhắm mắt nghỉ ngơi vì cảm xúc nhớ nhà bắt đầu làm lòng tôi thổn thức, nhưng ba cô gái bắt chuyện hỏi han, mới biết cả bốn đứa chỉ hơn kém nhau 1 tuổi, từng học cùng mái trường, chỉ là khác khóa, khác lớp. Cơn buồn ngủ tan biến, chúng tôi nói chuyện về trường lớp suốt đoạn đường dài cho đến gần nửa đêm khi nhiều người trên xe đang ngon giấc, anh Long bỗng xuất hiện từ phía sau ghế, cúi xuống nói với tôi:

-        Chút nữa xe đến biên giới, cửa khẩu Mộc Hóa, chúng ta sẽ nghỉ qua đêm tại một quán ăn ven đường.

Tôi thắc mắc:

-        Sao mình không đi xuyên đêm luôn hả anh?

-        Giờ này trạm cửa khẩu đóng cửa, ngày hôm sau họ mới làm việc lại.

Bốn đứa dừng nói chuyện, nhìn qua khung cửa xe nao nức chờ đợi phút giây nhìn thấy biên giới dù bên ngoài tối đen.

Xe dừng lại, mọi người xuống xe, màn đêm tĩnh mịch, quán ăn duy nhất giữa đồng có chút ánh đèn le lói, bên trong các bàn ghế xếp gọn gàng. Một người ra lệnh:

-        Ai theo nhóm nấy, lên bàn ngủ, sẽ có mùng mền đem ra. Các nhóm trưởng nằm ngoài hiên hoặc trong xe.

Cô bạn trong ba cô bạn mới quen đề nghị:

-        Nhóm tụi mình ngoài 3 đứa còn có một cặp vợ chồng, hay là tụi mình hỏi ban tổ chức đổi Loan qua bên đây, cặp kia qua bên đó?

Cô bạn khác gạt ngay:

-        Thôi khỏi làm phiền ai. Khác nhóm nhưng vẫn gặp nhau, nay mai lên tàu qua Thái chung cả tàu, lo gì!

Tôi đồng ý rồi bước đến chỗ mẹ con chị Cải đang nằm, mùng mền hẳn hoi, hầu như ai cũng mệt nên chỉ hơn chục phút sau cả quán im lìm, chỉ nghe tiếng ngáy đều trong khuya vắng .

Hơn 6 giờ sáng đã nghe lục đục trong quán, tôi mở mắt, thấy anh Long đang ngồi uống cafe ở chiếc bàn trong góc quán, một vài chiếc mùng cuối cùng cũng đang dọn dẹp, trả lại không gian cũ cho quán. Anh Long nhắc tôi sau khi đánh răng rửa mặt ra ăn sáng. Ai ăn xong sớm thì đi bộ ra ngoài quán, tha hồ ngắm cảnh biên giới, vì đến giữa trưa xe mới chạy qua cửa khẩu, đó là giờ nhóm lính canh gác chịu ăn hối lộ.

Trời đứng bóng, xe chuẩn bị vượt qua cửa khẩu, để tránh sự nghi ngờ và giảm bớt tiền hối lộ, chỉ có người lớn tuổi và trẻ em được ngồi trên xe, còn lại chúng tôi phải đi tắt dưới ruộng lúa khoảng một cây số. Đường ruộng khô cứng, gập gềnh, tôi cố đi nhanh nhưng vẫn bị bỏ lại phía sau. Anh Long thỉnh thoảng dừng lại, chờ tôi, mỉm cười:

-        Cô đúng là tiểu thơ đi vượt biên!

Tôi chống chế:

-        Tại đường ruộng em đi chưa quen.

-        Cô mới vượt biên lần đầu sao?

-        Dạ không, nhưng lần trước đi đường biển miền Tây, khi đang còn nằm tập kết chờ “taxi” đã bị giải tán, có lội ruộng bao giờ đâu!

Rồi cũng ra tới đường lộ, leo lên xe đã chờ sẵn, tiếp tục chuyến hành trình. Trời trưa nắng cháy, cảnh vật hai bên đường nghèo nàn, lác đác có vài căn nhà sàn và bóng người. Càng về gần thủ đô phố xá đẹp hơn, nhà cửa san sát, người qua lại đông hơn. Đến chiều, xe tiến vào Phnom Pênh, qua cây cầu đá dài, có người nói:

-        Đây là cây cầu nổi tiếng của Phnom Pênh, cầu mang tên Sài Gòn.

Xe dừng dưới chân cầu, trước một quán ăn bề thế, tấp nập người ra vào. Một số người chạy đến vây quanh xe, hỏi chúng tôi bằng tiếng Việt “Đổi tiền Riel không bà con ơi!?”. Tôi và ba cô bạn không có tiền để đổi, (có dấu trong người vài chiếc nhẫn vàng  phòng khi hữu sự), vì khi còn ở Việt Nam, chúng tôi đã nộp một số tiền cho ban tổ chức, là tiền mà các người dẫn đường sẽ lo chuyện ăn uống, chỗ ở, xe cộ trong thời gian chờ ngày xuống tàu ra khơi. Tuy nhiên, có một số người vẫn có tiền, họ đổi tiền riel để xài riêng. (Sau này, trên con đường bị bắt giam hai lần tại Cambodia, và tại bãi biển Thailand, tôi mới thấy có tiền rất hữu ích, vì mỗi lần gặp “khó khăn” cần chi tiền vẫn tốt hơn là phải đưa ra cái nhẫn vàng, họ có “thối lại” tiền đâu!).

Xong vụ đổi tiền, cả đoàn kéo vào quán ăn cơm, chủ quán người Việt, các món ăn rất ngon, vì Phnom Pênh nằm giữa dòng chảy sông Mekong và Tonle Sap nên cá tôm tươi rói, ê hề . Mẹ con chị Cải gọi cá kho tộ, canh chua. Bàn bên cạnh mấy cô bạn cũng gọi cùng món, tôi đang phân vân thì anh Long gợi ý:

-        Nếu cô thích ăn tôm thì nên gọi cơm tôm càng kho tàu, món ngon nhất quán đấy.

Tôi nghe theo lời “thổ địa”, nhìn dĩa cơm lấp lánh màu gạch tôm, với bắp cải đậu que luộc và chén nước mắm ớt, tôi ăn ngon lành, đúng là không có chỗ nào chê .

Cơm nước xong, từng nhóm đón xe lam về nhà trọ (xe đò đưa chúng tôi đến Phnom Pênh đã xong nhiệm vụ). Tôi say sưa ngắm cảnh phố phường mà quên mất thân phận vượt biên. Nhà trọ là căn nhà lầu đúc hai tầng, rộng rãi, bên trong chẳng có đồ đạc gì ngoài cái sàn nhà lót gạch bông mát rượi. (Chủ nhà xưa kia khá giả, nay thời thế thay đổi, như Sài Gòn sau 1975, làm nhà trọ để kiếm sống). Mỗi nhóm được một cái mùng to, không mền gối, cứ đem hành lý vào  mùng, muốn ngủ kiểu nào thì ngủ. Ngoài chúng tôi, còn nhiều khách khác, là dân đi buôn lậu hàng hóa Thái-Cam mang về Việt Nam bán lại, họ nói chuyện bằng tiếng Việt và tiếng Cam, ồn ào cả cái nhà trọ. Chúng tôi 4 nhóm được giăng mùng sát nhau, nên ngồi trong mùng nói chuyện, ai mệt thì ngủ, ai thức cứ thức vì các âm thanh hỗn độn nơi đây không bao giờ ngưng.

Sáng hôm sau thức giấc, chỉ còn một mùng của nhóm tôi. Anh Long giải thích:

-        Các con buôn đã thức dậy từ sớm, và các nhóm của chúng ta cũng đã ra khỏi đây, tôi thấy cô và mẹ con chị Cải ngủ ngon quá, không nỡ đánh thức.

Chị Cải áy náy:

-        Mấy mẹ con tui đêm qua ham vui, đến 2 giờ sáng mới chợp mắt, tui xin lỗi nếu làm ảnh hưởng đến đoàn.

-        Đâu có gì gấp! Chúng ta sẽ phải đổi nhà trọ mỗi ngày để tránh bị chú ý, chờ ngày đi cảng Kampong Som xuống tàu, còn bây giờ là đi “tham quan” chợ Olympic và ăn trưa.

Năm người đi bộ, từ nhà trọ khoảng 6-7 blocks đường là đến chợ. Ngôi chợ kiểu như chợ Bến Thành, các gian hàng san sát nhau đủ loại, vì đây là chợ đầu mối lớn nhất Cambodia lúc bấy giờ. Vào chợ, tôi ngạc nhiên vì nhiều tiểu thương nói sành cả hai tiếng Việt-Cam. Chúng tôi thong thả ngắm từng gian hàng, lúc này mới biết chị Cải là dân Việt gốc Hoa, từng sống ở Cam một thời gian, nên chị nói sành sõi cả ba thứ tiếng. Chị mua một vài món đồ cho hai thằng con, rồi quay qua nói với tôi:

-        Mua ít đồ phòng hờ cần xài khi qua trại tỵ nạn.

Anh Long hỏi tôi:

-        Cô Loan thích mua gì không, tôi sẽ mua cho?

-        Dạ thôi, em có mang theo vài món đồ khô dùng trên tàu khi cần thiết.

-        Ý tôi là hàng lưu niệm kìa!

-        Đi vượt biên chớ có phải du lịch mà mua đồ lưu niệm?

-        Thì mua để sau này cô đi định cư mang theo, gọi là kỷ niệm xứ Cam.

-        Xa vời quá, dù sao cũng cám ơn anh.

Đến cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời.

Trên đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát, có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông . Nhà trọ mới, nhỏ hơn nhà trọ hôm qua, được dọn sạch tầng dưới cho hơn chục người khách, tầng trên có hai mẹ con chủ nhà sinh sống và nhận luôn việc nấu cơm cho khách, tôi vui sướng gặp lại ba cô bạn. Chúng tôi xúm vào kể chuyện đi chơi Phnom Penh, và tán dóc với chủ nhà qua lời thông dịch của chị Cải. (anh Long bỏ đi đâu đó, sau này mới biết, họ luôn chạy đôn chạy đáo như con thoi, để liên lạc với ban tổ chức, chờ lệnh tiếp theo).

Gần đến giờ cơm chiều, tôi bỗng bị ói mửa, lên cơn sốt nhẹ, có lẽ vì tôi uống quá nhiều nước thốt nốt ngoài chợ, và lang thang cả buổi ngoài trời nắng. Chị Cải đưa tôi thuốc hạ sốt, rồi tôi chợp mắt ngủ. Tỉnh dậy khi bên ngoài đã chạng vạng tối, tôi tỉnh táo hơn, anh Long hỏi:

-        Cô ăn cháo nhé, tôi đã nhờ chị chủ nhà nấu, những người khác đã ăn cơm xong rồi.

Tôi lắc đầu:

-        Em không muốn ăn cháo, em chỉ thèm một tô hủ tíu mì.

-        Giờ này lấy đâu ra hủ tíu mì cho cô?

-        Hồi trưa trên đường về đây, em thấy quán mì ngay góc đường!

-        Cô tinh mắt nhỉ, không lo cảnh giác lính Cam mà chỉ thấy hàng hủ tíu mì. Nhưng nếu tôi dẫn cô ra đó, sắp đến giờ giới nghiêm, loạng quạng gặp tên lính Cam hỏi giấy tờ, cô lại không biết tiếng Cam, là nó mời về đồn ngay đấy.

-        Thì anh đi mua về cho em.

Chị Cải và mấy cô bạn cũng góp lời, rằng một tô hủ tíu mì sẽ giúp tôi mau lại sức hơn là tô cháo trắng ăn với cá khô. Anh đành khoác thêm chiếc áo sơ mi rồi đi ra ngoài, lát sau xách về tô mì nóng hổi. Ba cô bạn cười nắc nẻ:

-        Anh Long ơi, nhìn anh rảo bước vội vã trong trời mờ tối, áo bay phất phới, xách cái cà-mèn, chẳng khác gì đang chăm vợ đẻ.

Anh tủm tỉm cười:

-        Ối dào, chăm vợ đẻ cũng chẳng vất vả bằng chăm tiểu thơ vượt biên, cho đúng phương châm “vui lòng khách đến vừa lòng khách đi”.

Vài ngày tiếp theo, đổi vài nhà trọ, cho đến một ngày tại nhà trọ ngoài nhóm tôi ra, không có nhóm quen, nhưng có 5-6 người Việt khác, anh Long bảo họ cũng sẽ xuống tàu vượt biên với chúng tôi. Buổi chiều anh Long mang cơm về rồi thông báo, sáng sớm mai sẽ đi thành phố cảng KamPong Som. Ăn xong, mọi người  ngồi uống trà ăn bánh, vì còn sớm, tôi và anh Long mang trà ra ngoài hiên nhà nói chuyện. Biết tôi là cô giáo ở Việt Nam, anh trầm ngâm:

-        Tôi cũng suýt nữa làm thầy giáo đấy.

-        Thế à! anh dạy môn gì?

-        Tôi đậu Cao Đẳng Sư Phạm môn Toán, Lý, nhưng chiến tranh Tây Nam bùng nổ, tôi phải đi “nghĩa vụ quân sự” qua Cambodia.

-        Nhưng ba năm sau anh sẽ được giải ngũ và về học lại chứ?

-        Trên lý thuyết là như thế, nhưng vào cuộc chiến rồi bị kẹt thêm mấy năm nữa, đến khi thế giới yêu cầu Việt Nam rút quân ra khỏi Cam. Dầu sao, cũng có chút an ủi cho tôi, khi ở chiến trường, nhiều lần tôi đã có dịp dạy Toán cho các đồng đội người Việt và người Cam.

-        Rồi sao anh không về nhà?

-        Anh Minh chủ tàu kêu tôi ở lại giúp anh tổ chức đường dây vượt biên. Giai đoạn này Cam còn trong giai đoạn “chuyển tiếp” nên tham nhũng hối lộ tràn lan, các chuyến đi thành công dễ dàng. Có lúc tôi tính nghỉ nhưng thâm tình với anh Minh khiến tôi dùng dằng mãi đến giờ. Tuy nhiên, công việc này kiếm khá nhiều tiền, tôi đã xây nhà cho bố mẹ, cho tiền các em làm vốn đầy đủ, hơn hẳn làm thầy giáo nghèo, cô nhỉ?

-        Vậy sao anh không đi vượt biên ra nước ngoài, sau này bảo lãnh gia đình?

-        Không! Tôi là Bắc Kỳ mới, không phải Bắc Kỳ di cư như cô, lại là bộ đội, khi qua trại sẽ bị phân biệt, khó được các phái đoàn chấp nhận . Đã có nhiều trường hợp đồng đội của tôi, vượt thoát qua Thái, đa số vẫn ăn dầm nằm dề ở trại, có người nản chí quay trở về Cam, có người cũng đã tự tử ngay ở trại, sau này cô qua trại sẽ thấy những gì tôi nói là sự thật.

 

Tờ mờ sáng, chúng tôi ra bến xe, nơi đây các xe chở hàng chạy bằng than cũ kỹ, sẽ dừng lại đón thêm khách. Mỗi khi có xe trờ tới, đám đông xô lấn leo lên, cuối cùng anh Long cũng đưa tôi và mẹ con chị Cải vào một xe bé xíu, bên trong chất đầy bao bố hàng hóa, anh dặn:

-        Chút nữa khi vào cửa ngõ thành phố Cảng, sẽ có một trạm kiểm soát, cô cứ bình tĩnh như những gì tôi dặn tối qua.

Quả thật, xe chạy hơn một tiếng thì bị chặn lại, hai người lính Cam cầm súng AK lục soát xe, chất vấn tài xế, rồi hỏi tôi mấy câu, đại khái là đi đâu, đến đó làm gì, đến câu thứ ba tôi không biết trả lời, (vì học được đúng 2 câu), anh lính chĩa súng vào tôi ra lệnh bằng tiếng Cam, ra hiệu xuống xe. Chị Cải trả lời trơn tru nên được thoát, anh Long bước xuống theo tôi, nhìn vào trạm gác ngay lề đường, thấy ba cô bạn, đôi vợ chồng và hai chú lớn tuổi cũng đứng đó. Anh nói nhỏ bên tai tôi:

-        Vậy là yên chí, tám người cứ vào đấy “nghỉ ngơi” vài ngày, ban tổ chức sẽ chuộc ra.

Đúng như anh nói, chúng tôi bị giam trong căn phòng phía sau trạm gác, có cơm nước do ban tổ chức đưa đến. Chiều ngày hôm sau, có tin nhắn buổi tối sẽ có 4 chiếc xe ôm đến đón đưa ra biển. Trời vùng biển tháng 12 tối thui, bốn chiếc xe phóng đi trong màn đêm, tôi nghe tiếng gió phần phật bên tai. Bỗng có tiếng xe đuổi theo phía sau, tiếng súng bắn chỉ thiên và tiếng chó sủa, bốn chiếc xe ôm tạt vào lề, là khu vườn lau sậy mênh mông, họ quát tháo bằng tiếng Cam, hối thúc chúng tôi xuống xe, rồi họ chạy biến đi trong đêm.

Chúng tôi, theo bản năng sinh tồn, chạy như bay vào vườn lau sậy, chạy càng nhanh càng xa, bất chấp phía trước mịt mùng, tránh xa tiếng chó sủa bắt đầu yếu dần rồi im hẳn phía sau. Mệt lả người, chúng tôi dừng lại, gọi tên nhau khe khẽ, tìm được 5 người, là tôi và hai cô bạn với hai vợ chồng, còn hai chú kia và một cô bạn chẳng thấy đâu. Anh thanh niên bảo, tạm thời là an toàn, nhưng đêm tối thế này, chúng ta nên ngồi xuống, chờ trời sáng tính tiếp, nếu buồn ngủ thì thay phiên nhau ngủ. Nhưng chẳng ai ngủ được, năm người ôm túi hành lý, dựa vào nhau, mắt mở thao láo. Chừng nửa tiếng sau, có ánh đèn pin và tiếng chân người lạo xạo, có hai người nói chuyện bằng tiếng Cam, rồi có tiếng gọi:

-        Loan ơi! Loan ơi!

Tôi mừng rỡ nhận ra giọng anh Long, liền la lên:

-        Tụi em ở đây anh ơi!

Anh Long cầm đèn pin và một anh lính Cam đeo súng, tìm được chúng tôi, anh thở phào:

-        Vậy là đủ người rồi, đi thôi.

Anh Long đi bên cạnh tôi, thấy tôi vừa đi vừa run rẩy, anh lấy trong túi quần ra một chiếc khăn rằn, khoác lên người tôi:

-        Cô ráng giữ ấm, kẻo lên cơn sốt như hôm ở nhà trọ thì mệt lắm, ở đây không có ai đi mua hủ tíu mì cho cô đâu!

Ra tới đường cái, bên kia đường là một trại lính khá kiên cố, có vọng gác và hàng rào kẽm gai xung quanh. Bước vào cổng trại, trong khi chờ anh lính đi gặp cấp trên, anh Long nói với chúng tôi trước khi chia tay:

-        Đây là nhà giam cuối cùng, sau khi dàn xếp bên ngoài xong xuôi, là lên tàu ra biển.

Nhà giam, là một phòng khá rộng, có vẻ là hội trường của trại, chúng tôi vui vẻ đoàn tụ toàn bộ những người trên chuyến xe đò hôm nào, và thêm một số người khác, tổng cộng là 41 người, sẽ cùng chung chuyến tàu ra khơi.

Hơn một tuần ở nhà giam sướng như tiên. Ngày hai buổi họ mở cửa cho ra ngoài, vệ sinh tắm rửa, vận động chân tay. Cơm phục vụ đầy đủ do nhóm tổ chức cho người mang đến. Vui nhất là buổi tối, rảnh rang, có chàng hài hước kể chuyện cười vỡ bụng, có chú kia thích kể truyện Tàu, chị Cải kể chuyện từng sống ở đảo Baklon của Cam, nhóm trẻ chúng tôi xúm lại ca hát. Đêm mệt thì mỗi người gối đầu trên hành lý, chẳng có mùng mền vẫn ngủ ngon lành.

Chiều hôm đó anh Long xuất hiện với người đưa cơm, anh vào trong ăn với chúng tôi và nói: “Tối nay ra khơi!”. Ai nấy lo dọn dẹp hành lý, không cười đùa nữa vì biết giây phút quan trọng sắp đến. Từng nhóm ngồi rải rác trong phòng, im lặng, ánh đèn ngoài sân hắt vào phòng mờ ảo. Một cô lớn tuổi đứng lên:

-        Xin mọi người vẫn ngồi yên vị, những người Công Giáo sẽ cùng đọc kinh. Còn ai có đạo gì có thể cầu nguyện riêng.

Rồi cô xướng kinh, anh Long ngồi kế bên tôi cũng đọc theo, từng lời kinh rõ mồn một. Hết 50 kinh, tôi hỏi:

-        Anh có đạo à?

-        Ừ, tôi gốc Bùi Chu mà! Sau 1975, gia đình tôi dọn vào khu Kinh 9, Cần Thơ ở đến nay.

Tôi chuyển đề tài, hồi hộp:

-        Em lo quá anh Long ơi.

-        Cô yên tâm, phần khó khăn trong đất Cam đã xong, chút nữa lên tàu ra biển, nếu thời tiết thuận hòa, nếu máy tàu êm xuôi, thì giờ này ngày mai cô đang ở bờ biển Thailand.

-        Nghe mấy cái “nếu” của anh cũng đủ làm em run rồi. Từ trước đến nay, có chuyến nào đi bị thất bại, tàu chìm, hoặc gặp hải tặc không?

-        Chắc chắn không có hải tặc vì tàu chạy ven biển. Các tàu ra khơi đều đến nơi bình an. Chỉ có hai lần khi ở Phnom Penh, nghe tin đường dây nhận hối lộ có mâu thuẫn nội bộ, tụi anh phải đưa khách trở về Việt Nam, vậy thôi!

Tôi yên tâm hơn, rồi nhìn anh, chân thành:

-        Anh Long ơi, em muốn nói lời cám ơn anh, suốt thời gian qua đã chăm lo cho mọi người thật nhiệt tình, chu đáo, riêng em còn được anh “phục vụ” hủ tíu mì ...

Chưa nghe hết câu, anh buột miệng:

-        Qua đếnThái, em ...à không... cô viết thư cho tôi nhé?

Tôi hỏi lại:

-        Anh muốn em viết thư?

Anh bối rối, xua tay:

-        Nói thế thôi, vì lời cám ơn của cô làm tôi nhớ những chuyến đưa người đi trước đây, có cô cũng xinh xinh như cô, nói cám ơn, nói qua Thái sẽ viết thư cho tôi, nhưng rồi chẳng có lá thư nào. Tôi bị mấy lần cho leo cây như thế, nên rất sợ mấy cô xinh xinh hứa nhưng không làm.

-        Anh nói em cũng ... “xinh xinh” ư? Vậy thì anh nghe đây, lời hứa danh dự của em, là khi qua trại, việc đầu tiên em sẽ viết thư cho gia đình và cho anh, để anh thấy không phải cô “xinh xinh” nào cũng hứa lèo, nhưng em gửi thư về đâu ?

-        Cô cứ gửi cho gia đình cô chuyển giùm, vì tôi và anh Minh phải đến nhà cô thâu 3 cây vàng.

Tôi lấy chiếc khăn rằn trong giỏ hành lý:

-        Em gửi lại anh chiếc khăn, và một lần nữa, cám ơn anh thật nhiều, vì tất cả.

Anh cầm chiếc khăn, quàng lên vai tôi:

-        Cô hãy giữ chiếc khăn này, tôi đã mua để tặng cô, làm kỷ niệm xứ Chùa Tháp.

Lúc đó, một chiếc xe nhà binh (xe cam nhông) tiến vào cổng, dừng trước phòng giam, anh Long bật dậy, kêu gọi mọi người mau chóng ra ngoài. Anh và vài thanh niên leo lên xe, lần lượt giúp từng người lên, tôi đang chờ tới lượt thì anh lại gọi tên tôi:

-        Loan! Loan! Ra đây, ra đây!

Rồi đi về phía anh, được anh kéo lên thùng xe, tất cả nằm đè lên nhau, xe chạy vun vút, có khi tôi nghe cả tiếng lá cây cọ quẹt vào thành xe những âm thanh chát chúa. Tới bờ biển, xe dừng lại, các người dẫn đường khác chạy ra từ một bụi cây, hướng dẫn chúng tôi chạy xuống chiếc thuyền đang đậu sẵn. Cả 41 người lên thuyền, nặng chịch, mạn thuyền cách mặt nước chưa đầy gang tay, anh Long kêu những thanh niên biết bơi cùng xuống dưới nước, phụ với nhóm dẫn đường, bám theo mạn thuyền, đưa thuyền đến với chiếc tàu ngoài giữa biển. Đến nơi, anh Minh chủ tàu đứng trên boong rọi đèn pin, hễ ai bước lên là đẩy ngay xuống hầm tàu. Vì anh Long vẫn đang ở dưới biển để đỡ con thuyền khỏi bị lật khi đám người đổ dồn về phía tàu lớn, nên tôi không có cơ hội bắt tay anh tạm biệt. Cái bắt tay tôi đã dự định, cái bắt tay duy nhất, lần đầu cũng có thể là lần cuối, đã không thực hiện được.

...................................................................

Đến trại tỵ nạn Panatnikhom, tôi viết ngay lá thư dài, kể cho gia đình chi tiết chuyến đi, ở đoạn cuối tôi viết cho chị tôi: “Chị Thanh, nhờ chị chuyển lá thư kèm theo cho anh Long khi họ quay lại lấy vàng, nhé!”. Thư cho anh Long chỉ một mặt giấy, viết lại những lời cảm ơn chân thành tôi đã nói với anh đêm cuối, vì mục đích chính chỉ là thực hiện một lời hứa danh dự, để anh bớt thành kiến với mấy cô “xinh xinh” . Viết không đầy một trang, dư chỗ tôi bèn viết thêm địa chỉ của tôi ở trại và nhắn: “Anh Long, nếu có thời gian rảnh thì viết thư cho em, còn nếu bận thì không sao cả! Chúc anh nhiều sức khỏe và may mắn trong cuộc sống”.

Rồi chị tôi thay mặt gia đình viết thư hồi âm, kể cho tôi nghe chuyện gia đình, hàng xóm, và tái bút gọn gàng: “Đã chuyển thư cho Long, em yên tâm”. Đọc thư xong, lòng tôi nhẹ nhàng phơi phới, đã trả nợ xong lời hứa.  

Cuộc sống ở trại có đủ buồn vui, qua vài lần chuyển trại, tôi đánh mất chiếc khăn rằn, kỷ niệm của anh Long và xứ Cam. Đôi khi bốn đứa con gái chúng tôi nhớ về chuyến đi, nhắc đến anh Long, tôi lại thầm nghĩ, chắc anh bận rộn nên không viết thư cho tôi, mà suy cho cùng, có gì để mà viết, nhưng ít ra anh cũng đã hiểu rằng không phải cô “xinh xinh” nào cũng thất hứa.

Sau bốn năm ở trại tỵ nạn, tôi đi định cư Canada. Rồi sau đó hàng năm bay qua Mỹ thăm gia đình tôi cũng đã định cư ở Mỹ. Mới đây, khi nhắc về chuyến vượt biên dừng chân ở Cambodia, tôi nói về anh Long, người dẫn đường dễ thương tận tình, rồi nói với chị tôi:

-        Trong lá thư đầu tiên gửi về nhà, em có nhờ chị chuyển thư cho anh Long, rồi chẳng thấy anh ấy viết cho em dù một lá thư.

Chị tôi... thú tội:

-        Lá thư ấy đã không bao giờ gửi.

Thì ra, chị đã đọc thư, tự kiểm duyệt và tự quyết định. Chị lo xa, sợ tôi và anh Long có tình ý gì sẽ... khổ cả hai, còn nếu không (hoặc chưa) có tình ý gì, thì cũng nên... phòng cháy hơn chữa cháy, xé bỏ lá thư là thượng sách, “an toàn trên xa lộ”.

Tôi giải thích cặn kẽ cho chị nguyên do tôi viết lá thư đó, chị đã hiểu ra, và thấy tiếc nuối ân hận vô cùng. Chị nhớ lúc Long và anh Minh chủ tàu đến nhà tôi lấy vàng, Long có chần chừ hỏi thăm tôi vài câu, có lẽ có ý mong chờ,  nhưng chẳng có lá thư nào cho anh.

Anh Long ơi, nếu anh đọc được bài viết này, thì xin anh nhận nơi đây lời xin lỗi của em, vì đã đánh mất chiếc khăn rằn của anh tặng, và xin lỗi vì ngần ấy năm, em đã để anh thất vọng, tiếp nối vào danh sách các cô “xinh xinh” ... thất hứa!

Chị của em cũng gửi lời xin lỗi anh.

Và khi anh đọc đến dòng cuối này, anh hãy xem như đã nhận lá thư năm ấy của em, được không?

Edmonton, Tháng4/2026

KIM LOAN