Thursday, April 9, 2020

BÁC ĐẾN CHƠI NHÀ (THUKỲ)

BÁC ĐẾN CHƠI NHÀ (Thukỳ)

Ông bà Trưởng BTC ĐH 7 Lê Chí Hiếu & anh chị Sơn cùng
Thu Vân & Thukỳ.
(Riêng tặng anh Lê Chí Hiếu TBTC ĐH 7 Atlanta)

“BÁC ĐẾN CHƠI NHÀ”








“Chẳng mấy khi bác đến chơi nhà
Trẻ thời đi vắng, chợ thì xa
Biển sâu hổng lưới sao chài cá
Vườn chật cho nên hổng nuôi gà..”

Đó là tâm trạng gia chủ Thukỳ ẩn cư nơi đảo Navarre, FL. Nên bạn nào muốn đến thăm, không những phải đi máy bay, mà còn phải đem theo lúa gạo để ăn, vì gia chủ “nghèo’ thấy chán…







 
(Trái sang) Thu Vân, anh chị Hiếu, anh chị Sơn & Thukỳ.

Anh chàng lê Chí Hiếu, Trương Ban Tổ Chức ĐH 7 tại Atlanta, gọi phone cho Thukỳ nhân dịp gia đình anh 5 người đi ăn cưới ở Destin, thành phố nằm trên con đường đến nhà Thukỳ, nên anh muốn ghé qua thăm chơi cho biết nhà cô thư ký của ảnh, nên tui vui mừng chào đón ngay không có gì trở ngại.
Sáng Chúa Nhật gia đình anh đến, chẳng có gì ngoài café và bánh ngọt buổi sáng, gia chủ có sao làm vậy.  Nỗi khổ nhất của người VN mình là ít khi hỏi bạn thích ăn món gì, tui thì sắp đi Hawaii mấy tuần, nên trong tủ lạnh lo thanh toán sạch sẽ, không dám để lại cái gì vì vắng nhà khá lâu. Buổi trưa tui lo nấu soup măng cua, hấp bắp, măng tây, squash…sau đó tính làm bò nướng, nên ướp sẵn một chậu thịt to tổ bố để đãi “ông chủ” mình theo kiểu Tây cho sang trọng, quý phái…

Khi dọn thức ăn ra ngồi ngoài nhà thủy tạ, vì ai cũng muốn hưởng gió biển, không thích vào nhà; nhưng nhìn quý vị ăn sao hổng có “enjoy” gì ráo trọi, tui mới lo lắng hỏi: “Ủa dở lắm hay sao mà chỉ ăn có soup và rau thôi, còn mấy thứ thịt thì chê hả?”
Lúc đó anh Hiếu mới nói: “Hôm qua đến giờ đi đám cưới Mỹ, ăn toàn thức ăn Mỹ chán quá; mà ở đây không có tiệm ăn VN, Sơn (cháu anh Hiếu) thích ăn cơm với cá, ngày nào cũng thế không bỏ cơm được, dù là cơm nguội cơm thiu…”

“Anh Sơn hổng thích ăn quà
Quanh năm suốt tháng về nhà ăn cơm..”

Hết cơm rồi, chỉ còn nồi không!!!


Chỉ còn 3 con cá lòng tong đãi khách, hihihi



Tánh tui thật thà nghe sao hiểu vậy, tưởng có mình anh Sơn muốn ăn cơm, nên vội vàng lấy một nồi gang để nấu cơm cho nhanh, và chỉ lấy gạo đủ cho một người ăn.
Khi mang nồi cơm ra, chèn ui ai ngờ 5 mạng đều dành nhau nồi cơm nóng hổi có cả cháy giòn dưới đáy nồi, rồi hỏi chủ nhà có cá kho không?  Tui vội vào tủ lạnh thấy còn mấy con cá kho lòng tong, liền mang ra, thế là nồi cơm cá kho bay sạch, chẳng còn hột nào làm kỷ niệm cho chủ nhà.

Cả nhà anh Hiếu xúm chọc tui “ở đảo không có gạo phải không?”
Khổ nỗi tui ở Mỹ lâu rồi, ai mà đọc tư tưởng mấy thầy cho được, nói sao tui làm dzậy, khổ ghê, thổi cơm dư chẳng ai ăn, nhà có hai vợ chồng lại sắp đi, sợ dư cơm đổ đi “hột ngọc Trời” sẽ bị tội.

 
Trời ơi, đói quá Lê Chí Hiếu phải đi mò cua bắt ốc...



Ăn xong thấy nhà hổng có cá sẵn, anh Hiếu đói quá xuống biển mò ốc, cua… bắt được cái gì ăn cái đó cho xong, chủ nhà này “tệ’ quá, anh Sơn thì móc mồi câu cá..hihihi
Buổi chiều, tui biết ý hỏi thật quý khách muốn ăn món gì,  mọi người bảo thèm bún mắm; OX tui, người Bắc di cư, rất ngạc nhiên khi những người khách PY của tui đòi ăn “bún mắm”, nên phụ làm bếp với tui và ra vườn hái ớt tươi, vì biết ăn mắm là phải có...ớt.
Tui vào nhà luộc bún, làm nước mắm.  May qúa còn hũ mắm cá thu kho đã lọc sẵn.  Thế là khách quý của tui enjoy tối đa, khen ngon, khen ngọt.  Còn cái thau thịt bò mà miếng nào miếng nấy bằng bàn tay bị ế chỏng gọng, vì ai cũng chê.
Thế mới biết dù đi đến nơi đâu thì người PY tui cũng phải có cơm và mắm làm trọng; sang Mỹ mấy chục năm rồi mà vẫn giữ như vậy;  thức ăn Mỹ, Tây chỉ ăn một lần là sợ. Tui suốt ngày cứ lo thổi nấu vì ông chồng tui cũng chỉ Vietnamese food only.


Gia đình anh chị về rồi tui ngồi nhìn những tấm ảnh mà thấy thương, vì tình cảm mặn nồng như mắm muối quê nhà, nhìn cái hình nồi cơm hết sạch, tui cười suốt cả tuần, quý anh chị nhìn cảnh này chắc chẳng ai muốn đến thăm tui, có chết cũng không đến vì thịt thì dư mà gạo mắm thì thiếu…oh, thật là một chuyện “tếu’ khó nói hết nỗi lòng người dân đất Phú mến yêu.

Xin quý anh chị nào có đến thăm tui thích ăn cái gì nói cái đó, đừng có nói “ăn sao cũng được” tui cứ chuẩn bị những thứ mình nghĩ phải đãi khách mới “sang” bao nhiêu lần khách về rồi hai vợ chồng ăn đồ thừa gần chết, mà tui thì mắt to hơn bụng...Tội nghiệp cho tui và OX “ròm” ăn thì ít mà đổ thì nhiều..huhuhu, tui biết ông “xếp” Lê Chí hiếu chỉ thích ăn cơm cá và mắm...Lần sau đến mang bao gạo và chai nước mắm cho “nặng” tình và “mặn” nghĩa:

Kỳ sau “bác đến chơi nhà”,
Kỳ tui đãi bác dưa cà, cá kho
Chắc chắn sẽ được bụng no
Ở chơi một tháng khỏi lo... vét nồi.

Navarre ngày hè,

Thukỳ

THÁNG TƯ NỖI NHỚ (DIỆP THẾ HÙNG)



THÁNG TƯ NỖI NHỚ

Tác giả xin chia sẻ với các bạn tuần này bài thơ THÁNG TƯ NỖI NHỚ dưới đây.  Bài thơ này diễn tả tâm trạng của một người nhớ người mình yêu trong một ngày tháng Tư rất đẹp.
Tình yêu của hai người trong cuộc là một tình yêu ở xa. Nhưng theo bài thơ, họ không có vẻ buồn rầu, bi quan bởi vì họ trao đổi thường xuyên bằng điện thoại.  Tình yêu này được nuôi dưỡng bởi những hình ảnh họ trao đổi với nhau, bởi giọng nói, tiếng cười và những chuyện họ kể cho nhau nghe.
Ở một tuổi nào đó, vấn đề gần gũi thể xác không phải là một vấn đề nan giải. 
Chúc các bạn vui khỏe, bình an.


THÁNG TƯ NỖI NHỚ

Hoa đào nở rộ dưới trời trong
Gió nhẹ lung lay mấy nụ hồng
Nắng sớm tô màu thêm rực rỡ
Xuân về mang lại những chờ mong

Em bé ngày xưa đẹp tuyệt vời
Bao năm biền biệt tận chân trời
Một ngày mình bỗng vô tình gặp
Từ ấy mình không một phút rời

Em vẫn cao sang đẹp mỹ miều
Bao năm không nhạt nét yêu kiều
Vẫn đôi mắt đẹp, thân hình ấy
Anh nhớ em yêu nhớ rất nhiều

Mỗi độ xuân về nhớ biết bao
Trong anh kỷ niệm lại dâng trào
Tình ta nẩy nở mùa xuân ấy
Rộn rã như hoa nở ngọt ngào

Yêu nhau xa cách cũng là yêu
Trao đổi bằng phone đủ mọi điều
Ai bảo yêu nhau không gặp gỡ
Cuộc tình khô cạn sẽ buồn hiu?

Đông đi xuân đến thật là mau
Trời đất cỏ cây đổi sắc màu
Phong cảnh hữu tình tươi đẹp quá
Thời gian cô độc sẽ không lâu. 

Diệp Thế Hùng (April 07, 2020).

TIỂU SỬ VIRUS CORONA (NGUYỄN ĐÌNH TRÌNH)




TIỂU SỬ VIRUS CORONA

Nàng Cô Vít - sát nhân mười chín tuổi
Vốn sinh ra tại Vũ Hán - nước Tàu
Cùng đồng bọn trên dặm trường rong ruổi
Cố ý gây nhiều cảnh tượng thương đau

Là hậu duệ của Cô Cô, Dương Quá*
Xưa tung hoành khuấy đảo giới võ lâm
Nay Dương Tính* theo Cô Vi cũng đã
Giết vạn người bằng những cách âm thầm

Là công dân của Lão Tập Cận Bình
Đi du lịch qua châu Âu, châu Úc
Với châu Á, châu Phi đông nhung nhúc
Rồi tràn lan châu Mỹ thấy phát kinh

Là láng giềng của nước Việt Nam ta
Núi kề núi, sông liền sông bờ bãi
Đang hội nhập và giao thương hoa trái
Mấy trăm người cũng nhiễm bệnh Rô Na

Là kẻ thù quyết chẳng đội trời chung
Của nhân loại ở trên toàn quả đất
Trong cuộc chiến mà một còn, một mất
Cô Vít kia phải đánh dẹp tới cùng

NGUYỄN ĐÌNH TRÌNH

*Cô Cô, Dương Quá - 2 nhân vật trong tiểu thuyết:"Thần Điêu Đại HIệp" của nhà văn người Trung Quốc, tên Kim Dung
*Dương Tính: Kết quả xét nghiệm có mầm bệnh
*Cô Vi: Covid


TỰ LÀM KHẢU TRANG BẰNG NHIỀU CÁCH.



Tự làm khẩu trang bằng áo thun rất đơn giản.



Làm mask bằng vải dễ dàng không phải may



TÌNH YÊU TRONG MUÀ ĐẠI DỊCH (TUYẾT VÂN - PHỎNG DỊCH)



Hayley Munguia-Orange County Register, Tuyết Vân phỏng dịch 



Halley Taylor and Jacob Frank were married in a small ceremony in a private backyard on the Palos Verdes Peninsula on Saturday, March 28, 2020. (Courtesy Liz Erban Photography)

Đám cưới của họ lúc đầu tính có 98 người khách ở Long Beach Museum of Art, sau giảm xuống 80 người, sau nữa còn 50, cuối cùng chỉ có bảy người ở một sân sau của một ngôi nhà tại Palos Verdes Peninsula.
Không có khăn trải bàn màu ngà, không khăn lau miệng màu hồng, không có số bàn màu vàng. Chỉ có tấm voan, cái vương miện, và chiếc áo có dâu dài màu trắng. Cô dâu, Taylor, chú rể, Jacob Frank, đã cưới nhau trong một khuôn viên nhỏ nhìn ra biển Thái Bình Dương.
Đó là ngày hai người đã bàn tính với nhau cách đây hai năm. Một tháng nay với đại dịch Covid-19, đám cưới từ 98 người khách còn chỉ 7 và con chó cưng của họ.

Taylor, 28 tuổi, và Frank, 27, gặp nhau khi họ cùng học Tiểu Học ở một ngôi làng nhỏ thuộc tiểu bang Ohio. Trong lứa tuổi ngây thơ đó, cả hai đã có những tình cảm đặc biệt cho nhau. Họ đâu ngờ rằng tình cảm đó đã đưa họ đi qua hai mươi năm, và hôm nay, đứng trên bờ biển cao này vào một ngày thứ Bảy êm ả để bắt đầu cho một hành trình mới.
Hai bên gia đình muốn họ làm đám cưới ở Ohio nhưng cả hai muốn làm đám cưới ở Cali để gia đình qua đây chơi luôn thể.
Ngày 21 tháng Giêng, tiểu bang Washington có ca nhiễm bệnh đầu tiên. Hai ngày sau, chính phủ Trung Hoa  ra lệnh phong tỏa tỉnh Hubei là nơi trung tâm dịch bệnh bấy giờ.


Frank đang là bác sĩ thực tập. Anh theo dõi bản tin này nhưng nghĩ nó không ảnh hưởng đến ngày cưới của mình.
Những bản tin về dịch bệnh tiếp tục lan ra. Illinois. California. New York. New Hampshire. Và tiếp tục. Ngày 9 tháng Ba, tiểu bang Oho tuyên bố lệnh khẩn cấp. Mỗi ngày điều luật nghiêm khác hơn. Từng người khách, từng gia đình lần lượt cáo lỗi vì không thể nào đến được. Kế hoạch cho ngày cưới của họ thay đổi theo từng ngày. Cuối cùng, ngày 19 tháng Ba, thành phố ra lệnh chỉ có thể tụ họp 10 người cùng một lúc. Người đại diện nơi tổ chức tiệc cưới gọi họ phải dời bỏ.
Trong năm cuối của bậc Trung Học, hai người có hẹn hò một thời gian ngắn rồi mỗi người tiếp tục lo vào Đại Học. Họ gặp lại năm 2013 và gắn bó với nhau từ đó. Buổi chiều khi gia đình và bạn bè tụ họp ăn uống để mừng cho Frank chuẩn bị đi Cali làm bác sĩ thực tập, anh quỳ xuống cầu hôn với Taylor.
Hai năm, sau ngày cầu hôn và cách xa gia đình nửa phần đất nước, ngày cưới lại là ngày không như họ mong đợi. Nhưng rồi họ quyết định vẫn tiến hành. Một cách nhanh chóng, họ lựa được địa điểm, vẫn giữ đúng ngày cưới đã định, trong buổi chiều thứ Bảy, trước bờ biển Thái Bình Dương. Họ trao đổi lời thề, ở bên nhau, lo cho nhau, dù hoàn cảnh tốt hay xấu, dù giàu hay nghèo, dù ốm đau hay khỏe mạnh.





Taylor nói, tôi rất vui chúng tôi đã làm đám cưới được. Sang năm, chúng tôi sẽ làm một bữa tiệc ở Ohio, nơi có gia đình và bạn bè chúng tôi. Nó không phải là một ngày như chúng tôi đã định trước nhưng vẫn là một ngày rất đẹp và chúng tôi rất cảm ơn đã có được ngày nầy.
Xong đám cưới, chúng tôi vẫn còn có công ăn việc làm. Biết bao nhiêu người đã không được như vậy.  
Gia đình và bạn bè của họ gửi lời chúc mừng và tiếc là đã không có mặt để chứng kiến cho họ nhưng với Taylor và Frank, họ đã có quá nhiều may mắn.

Hayley Munguia, Tuyết Vân phỏng dịch

MẤT (ĐẶNG QUANG TÂM)



Mất

Mất nhau rồi làm sao cho hết nhớ
Căn nhà xưa hiu hắt ngọn đèn khuya
Nửa đêm thức một mình nghe sóng vỗ
Sóng bên này cứ tưởng sóng bên kia

Mất nhau rồi đâu còn ai để viết
Bài thơ tình với nỗi nhớ không nguôi
Còn đâu nữa những hẹn hò tha thiết
Tuổi mười lăm mười sáu biết yêu người

Thôi đã hết đâu còn ai để đợi
Chiều nay mưa ai sẽ đón ai về
Căn gác nhỏ có ai chờ mà tới
Lời ai còn trong tiếng gió tỉ tê

Mất nhau rồi đâu còn gì để mất
Tay buông xuôi về lại cõi hoang vu
Vầng trăng khuyết không đủ soi rõ mặt
Ai chờ ai những đêm tối mịt mù

Đặng Quang Tâm
(Nhóm Văn Nghệ Trăng Vàm Cỏ Đông-Tây Ninh)

THƠ VUI VŨ HÁN VIRUS (ST)


THƠ VUI VŨ HÁN VIRUS

CA DAO 1: (*)

Tháng giêng là tháng ăn chơi.
Tháng Hai nghỉ dịch, tháng Ba ăn mày.
Tháng Tư nếu tiếp tục gay
Thắng Năm ăn cháo nửa ngày, cầm hơi

NGUYỄN BÍNH: (*)
Hôm qua em đi tỉnh về.
Đợi em ở mãi con đê đầu làng.
Khẩu trang che mặt kỹ càng.
Em ho một cái cả làng hoang mang.

TỤC NGỮ:
Một con ngựa ho, cả tàu mắc dịch.

NGUYỄN CÔNG TRỨ:
Kiếp sau xin chớ làm người.
Làm Cô Vy khiến loài người hoang mang.
Lơ là một chút sẽ toang.
Nhật Bản cũng chết, Đại Hàn cũng banh.

TẢN ĐÀ:
Đêm xuân buồn lắm! Chị Hằng ơi!
Trần thế nay toang hết nửa rồi.
Cung quế đã ai bị sốt chửa?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi.

CA DAO 2: 
Bắc thang lên hỏi ông trời.
Có ai miễn nhiễm vào thời Cô Vy.
Ông trời ổng mới thầm thì.
Tao còn bị cách ly chi là mày.

NGUYỄN BỈNH KHIÊM: (*)
Ta dại ta tìm nơi trốn dịch.
Người khôn người đến chốn lao xao.
 Thu ăn măng trúc, đông ăn giá.
Xuân cho nghỉ học, hạ học bù.

HÀN MẠC TỬ: (*)
Mơ khách đường xa khách đường xa.
Bịt cho kỹ nhé chớ mở ra.
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh.
Ai biết rằng ai có nhiễm nà.

CA DAO 3:
Chim khôn kêu tiếng rảnh rang.
Người khôn biết bịt khẩu trang ra đường.

CA DAO 4: 
Anh đi anh nhớ quê nhà.
Nhớ canh rau muốn nhớ cà dầm tương.
Nhớ lời em dặn sương sương.
Mấy con “có não” thì thường rất ngu.

HỒ XUÂN HƯƠNG: (*)
Thân em vừa mỏng lại nhẹ hều.
Che mồm che miệng rất đáng yêu.
Đắt rẻ còn tùy tâm người bán.
Nhớ đeo phòng dịch chớ có liều.

NGUYỄN DU: (*)
Cậy em em có chịu lời.
Lại đây cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Ba trăm một hộp được chưa.
Mày mà bán mắc, tao thưa ra tòa.

XUÂN QUỲNH:
Sốt bắt đầu từ dịch.
Dịch bắt đầu từ đâu ?
Con nghỉ học bao lâu ?
Em cũng không biết nữa !

TỐ HỮU: 
Em ạ Cuba ngọt lịm đường.
Mẹ em răng sún thấy mà thương.
Nhưng nay không thấy răng sún nữa.
Khẩu trang bịt hết, thấy cũng thường.

THẾ LỮ
Gặm một khối căm hờn vì mắc dịch
Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua
Khinh lũ người kia ngạo mạn ngẩn ngơ
Giương mắt bé diễu oai linh virus
Bạn Trung Quốc phải nhục nhằn, tù hãm
Bạn Hàn Quốc phải thừa nhận đã toang
Rồi nước Đức cũng đang phải hoang mang
Vậy mà Ý vẫn đang vô tư lự

NGUYỄN TRÃI: (*)
Việc phòng dịch chốt ở sân bay.
Khi nhập cảnh phải đo thân nhiệt.
Như nước Đại Việt ta từ trước.
Vốn đã phòng dịch bấy lâu.
Cách ly phòng ốc đã chia.
Khẩu vị Hàn, ta cũng khác.
Từ bún, phở bao đời xây nền ẩm thực.
Cùng kim chi, bánh gạo mỗi bên hùng cứ một phương.
Tuy mặn nhạt mỗi món khác nhau.
Nếu đem so nước tôi chẳng kém.

BÀ HUYỆN THANH QUAN: (*)
Bước xuống sân bay bóng xế tà.
Dân Hàn chen chúc với dân ta.
Deagu ổ dịch vô vài chú.
Nhập cảnh  khai gian cũng mấy bà.

CHÚC THU CHO CHỒNG CHO VỢ TRONG MÙA COVID-19 (DZUI)



Các anh chị đã viết dzi chúc chưa ?

Gửi đến các bạn 2 chúc thư cho chồng và cho vợ để đọc cho đỡ buồn khi ở nhà trong thời dịch đang lây nhiễm:

 
CHÚC THƯ CHO CHỒNG
 
Em cấm anh không được cho con mẹ Diễm đến nhà quàng. Em ghét cái mặt nó không chịu được. Nó mà dẫn xác đến, em sẽ trợn mắt lè lưỡi ra là nó đứng tim, nó chết ngay tại chỗ cho coi.

Đám ma xong anh phải bán cái nhà đi khỏi cái xóm mình đang ở. Em không thích anh tiếp tục sống cạnh con nhà mẹ Bé nữa. Em thấy nó gian lắm. Nó thấy em đi qua là nó nhổ nước miếng xuống đất rồi quay ngoắt vào nhà, mà nó thấy anh là nó cười ỏn ẻn nhe răng ngựa ra trong khi em có làm gì nó đâu.

Sau ba năm anh muốn lấy ai thì lấy, em không cấm nhưng anh không được lấy con mẹ Nga, con mẹ Lê, con mẹ Cúc… Anh mà lấy một trong mấy con mẹ này thì em hiện hồn về bóp cổ anh ngay. Em xé xác mấy con voi dầy ngựa xéo này chớ đừng có mà trêu ngươi em. Quần áo của em, anh đem cho Salvation Army, cấm không cho mấy con chằng ăn trăn quấn ấy đụng tới. Nữ trang thì đeo hết cho em rồi hãy chôn. Cái hộp bích qui em cất trong garage dưới mấy thùng bột giặt, bọc bằng bao plastic mang đốt đi cho em. Cấm anh không được mở ra coi….Anh mà không nghe lời em, đêm em hiện về em lấy giây điện xiết cổ anh. Trong ấy chỉ có đống hình và thư của mấy con hà bá bạn anh thôi. Không cần phải xem nữa. Ảnh chúng nó bị vẽ râu và chọc mắt rồi thì xem làm gì nữa. Luôn cả quyển sổ điện thoại mà anh tưởng mất, đi kiếm cả tháng không ra hồi đó nữa, chúng nó ở trong đó hết. Hơn nữa mấy con mụ ấy cũng đâu còn ở những số điện thoại cũ nữa mà kiếm. Bây giờ em đã ra đi, anh muốn làm gì với những đứa khác thì làm, em không biết thì không sao nhưng cấm anh không được lạng quạng với mấy con nhỏ kia. Em nghĩ tới chúng nó mà vẫn con lộn ruột. Có đứa còn gọi em là sư tử trong thư viết cho anh mà em bắt được. Chúng nó hỗn như thế sao em chịu được. Anh phải nghe lời em, chủ nhật ra thăm mộ em, đi một mình không được hẹn hò đứa nào trong ngày hôm ấy. Có đi chơi với con nào thì cấm không được đeo cà vạt em mua cho, mấy cái sơ mi, giầy, Jacket em chọn cho anh hồi em còn sống. Em thiêng lắm nói cho anh biết trước. Đừng có chọc em cho em điên tiết lên. Nghe chửa!


CHÚC THƯ CHO VỢ

 Em yêu! Ai mà sống ở đời này được mãi. Ai chả có lúc phải nói lời vĩnh biệt. Khi anh ra đi thì đây là di chúc em nhớ làm những điều anh dặn sau đây:

 1/ Mang cất ngay dàn karaoke vào trong garage. Giọng em tối nào cũng rống lên hãi hùng như thế, không có anh, con mẹ Ấn Độ sau nhà nó nhảy sang xé xác em ngay.

 2/ Tính em vốn không thích làm việc nhà việc bếp, em nên tái giá ngay để có kẻ hầu người hạ thay thế chỗ anh. Trong số bạn anh, anh đề nghị em lấy thằng Long. Vì khi còn sống anh ghét thằng này nhất, lúc nào cũng vênh cái mặt lên cho rằng đời nó hơn anh mọi thứ. Lấy em xong là đời nó tàn thử coi nó huyênh hoang được nữa không?

3/ Nếu thằng Long không chịu lấy em thì em lấy thằng Hoàng. Thằng này mang nữ tính, bảo gì nghe nấy em đỡ phải quát tháo như em đã quát anh.

 4/ Nhưng em nhớ chớ có lấy thằng Dư, nó có võ Bình Định. Hỗn như em nó quýnh chết, không chết cũng u đầu. Tội nghiệp mấy đứa con anh đã mất cha giờ trở thành không mẹ.

 5/ Cũng đừng lấy thằng Phú mắc bệnh đau tim. Cứ mỗi tháng credit card em gửi bills về, nó thấy là nó đột quỵ ngay, em sẽ thành góa bụa lần nữa.

6/ Nếu cả 4 thằng Long, Hoàng, Dư và Phú đều không chịu lấy em thì em cũng đừng đi mỹ viện sửa sang hòng re marry, để dành tiền đó nuôi con vì anh biết chắc chúng chỉ còn da bọc xương trong vòng một tháng.

7/ Em cũng đừng theo tục lệ VN nấu cơm hay cúng giỗ cho anh. Cháo em nấu là khét mang xuống âm phủ chỉ làm Diêm Vương thêm nổi giận. Con cơm em nấu thì anh xin miễn bàn. Em muốn cả địa ngục đi tiêu chảy vì ăn phải gạo sống thì em cứ việc nấu

"NƠI CHỐN ĐI QUA" TRUYỆN NGẮN CỦA TÔ THÙY YÊN (TRẦN DOÃN NHO)



‘Nơi Chốn Đi Qua,’ một truyện ngắn của Tô Thùy Yên
Trần Doãn Nho
 
Trang cuối cùng của truyện “Nơi Chốn Đi Qua” với chữ ký của Tô Thùy Yên.

Chúng ta thường chỉ biết một Tô-Thùy-Yên-nhà-thơ, nhưng ít ai biết một Tô-Thùy-Yên-nhà-văn, hoặc có biết, nhưng không mấy ai lưu ý, có lẽ là vì tài thơ đã che mờ tài văn của ông. Trên các tạp chí văn nghệ trước 1975, thỉnh thoảng người ta đọc được một số sáng tác bằng văn xuôi của ông.


Kỳ này, xin giới thiệu truyện ngắn “Nơi Chốn Đi Qua” cùng quý độc giả.

Là một truyện ngắn hư cấu nhưng theo lời tác giả, “nặng tính chất tự truyện.” Tự truyện là truyện kể về chính tác giả, một người lính, tuy nhiên “Nơi Chốn Đi Qua” mang nhiều nét điển hình của đời lính, thân phận lính như bất cứ người lính nào trong thời cao điểm của cuộc chiến tranh Việt Nam, do đó, riêng thì riêng, đã rồi, nhưng rất chung. Và với một loại văn xuôi đậm đà chất tùy bút trong gần nửa phần đầu của câu chuyện, tác giả suy gẫm lang bang về chiến tranh, về cuộc sống, về những cuộc hành quân, về cái chết, về tù nhân… trước khi thực sự đi vào phần chính của câu chuyện ở nửa phần sau.

Truyện mở đầu bằng sự thuyên chuyển. “Đầu mùa mưa năm đó, tôi thuyên chuyển về một đơn vị trú đóng ở một tỉnh nhỏ miền Tây. Đơn vị này là đơn vị thứ tư của tôi kể từ khi tôi rời khỏi quân trường.” Đời sống quân ngũ và sự di chuyển thường xuyên đã trở thành chuyện bình thường, không gây nên cảm xúc cho tác giả. “Đã là lính, ở đâu cũng vậy thôi.” Đơn vị mới nằm ở một thành phố buồn, “co rút” và “hết sức bỏn xẻn thú vui,” với chỉ mấy con đường hiếm hoi và ngắn ngủn, chung quanh toàn sông nước, kênh lạch. Doanh trại nằm ở một nơi sâu khuất, bên cạnh một phi trường, sát cạnh một khám đường và không xa quốc lộ.

Có lẽ những cái “gần” này khiến cho tác giả cảm thấy có đôi chút khác biệt với những nơi đồn trú trước. Gần phi trường nên nhiều tiếng động: máy bay lên xuống ngày đêm, tiếng động rền rĩ rung chuyển đến cả “đầu óc” những người lính chiến. Gần quốc lộ nên thấy được khung cảnh sinh hoạt của cuộc sống dân dã bên ngoài. Gần khám đường (trại giam nữ phạm nhân) nên ngày nào cũng nghe những bài hát “Quyết tâm diệt Cộng, cứu giang sơn” vang vọng lại.

Nếu trong hai bài thơ về chiến tranh nổi tiếng nhất của ông, hình ảnh chiến tranh được mô tả một cách chi li và sống động, chẳng hạn:
“Tiếp tế khó – đôi lần phải lục
Trên người bạn gục đạn mươi viên” (Anh Hùng Tận)
Hay:
“Quán chật xanh lên rừng lính ướt
Mặt bơ phờ dính gió bao la” (Qua Sông)

Thì ở đây, trong truyện ngắn này, nhà văn Tô Thùy Yên lại dựng ra một khung cảnh có phần khác. Trước hết là sự đều đặn, buồn tẻ của đơn vị mới đáo nhậm: “Sinh hoạt trong thành phố và nhất là trong doanh trại hết sức nhàm chán, đều đặn và lặng lẽ như một dòng nước tê lười. Những cuộc hành quân thường thường diễn ra không quá mười này liên tiếp, cuối cùng cũng chẳng pha đậm thêm được bao nhiêu sôi động trong đời sống loãng nhạt của chúng tôi.” Tuy vậy, khi không hành quân, nhân vật người lính “yêu đời một cách xót xa,” “một cách quyết liệt.” Vì sao?

Đối với người lính trận, chỉ có một vấn đề rất đơn giản: cái chết. “Ở đây, cái chết thường xuyên ray rứt chúng tôi, ngoại trừ những lúc chúng tôi đang đương đầu với cái chết – điều mâu thuẫn đáng suy ngẫm là sự tranh đấu thắm thiết cùng cái chết giúp cho con người tạm quên đi cái chết của chính mình. (…)

Chúng tôi đã mất hết tự tin ở quyền năng tài trí của con người. Cái chết có thể khuất phục chúng tôi trên mỗi bước vô tình.” Ấy thế mà, điều khá nghịch lý là, “Tất cả rồi trở thành thủ tục” kể cả cái chết, theo Tô Thùy Yên. Cho nên, “Những nỗi buồn không sụt xuống thấp lắm và những niềm vui cũng chẳng trồi lên cao lắm, mọi sự đều trầm trầm.”

Đề cập đến những cuộc hành quân truy kích, Tô Thùy Yên đưa ra một nhận xét bất ngờ, khá lạ nhưng lại mang nét nhân văn của người lính miền Nam, “Gặp địch, đánh xong là thôi. Chúng tôi vẫn không phải là những kẻ thù hằn.” Tác giả cho thấy rõ ràng là đối với ông, bắn giết kẻ địch giữa chiến trường xuất phát từ nhiệm vụ của người lính trên chiến trường, chứ không xuất phát từ sự căm thù những người cùng dòng máu ở phía bên kia chiến tuyến. Đây là điểm khác biệt nổi bật giữa lính bộ đội và lính Cộng Hòa. Như ta đã biết, qua những bài hát “đỏ” cũng như những tác phẩm văn chương Cộng Sản, căm thù là động lực chiến đấu của người bộ đội. Và càng khác biệt hơn nữa khi nhà văn – dù là nhà văn quân đội – không hề giấu giếm những điều tiêu cực trong chiến tranh, kể cả những tiêu cực ngay trong hàng ngũ của mình.

Tính cách bi thảm của chiến tranh được tác giả gói ghém trong những hình ảnh điển hình khá lạ lùng, đầy nghịch lý: một bên là cảnh chiến trường máu lửa, thương vong, chết chóc với xác của những người lính chết đã bị thối rữa vì để lâu ngày và thân nhân của họ đến nhận xác trong cơn đau xót, vật vã. Và một bên là lễ mừng chiến thắng. Trong một lần đụng trận, đơn vị của tác giả bị mất mười mấy mạng. Nếu đọc trên báo con số đó không đáng kể, nhưng “nếu nhìn tận mắt một xác chết thôi” thì con số đó vô cùng lớn lao, không gì so sánh nổi.

Ở đây, tác giả tô đậm hình ảnh một người cha khi đến nhận xác con, vẫn không tin con mình đã chết cho đến khi hạ huyệt. Rồi sau đó, khi trận chiến kết thúc, là cảnh khao quân “gồm những món ăn đã hôi ê được xào nấu lại” mà trong đời lính, thế nào “mỗi người lính đều đã thưởng thức ít nhất một lần một chương trình tương tự”: nào dàn chào, diễn văn mừng chiến thắng, thăng thưởng, nào tiệc tùng, trình diễn văn nghệ với những ca khúc lập đi lập lại những là anh anh em em, tiền tuyến hậu phương, áo chiến giày đinh, hoa cài mũi súng, nhớ thương chờ đợi, vân vân. Tác giả chua chát viết, “Bài hát ru dỗ người nghe trong một cơn mê thiếp chập chờn, giả tưởng và rất đỗi bần thần – có lẽ vì ngay trong lúc bị ru dỗ, chúng ta vẫn ý thức rõ ràng đó chỉ là một cơn mê thiếp giả tưởng.”

Nhưng chính trong đêm văn nghệ khao quân này là nơi tác giả gặp lại người tình thuở đầu đời. Và sự gặp gỡ này đã chuyển “Nơi Chốn Đi Qua” từ những dòng tùy bút đến “câu chuyện.” Trong số những người trình diễn trong buổi lễ “mang nặng mặc cảm thua thiệt” như mình, tác giả để ý một ca sĩ tên là Quỳnh Vân. Cô “vóc dáng mảnh mai, mặc đồ trận rằn ri, tóc kiểu Sylvie Vartan, khuôn mặt sáng sủa nhí nhảnh…” Cô nhìn xuống khán giả, “một tia nhìn bén nhọn lạnh lùng” với “thái độ thách thức.” Giọng hát của cô “ân cần, thành khẩn đến độ đau đớn nghẹn ngào.” Trong một bài hát khác, cô “nhún nhảy, quay cuồng, hạ thổ, vặn vẹo cần máy” trông thiệt là “thảm thương.” Hóa ra, cô gái đó là Phụng, người ở cùng tỉnh với tác giả, nơi hai gia đình giao du thân mật, tưởng như sẽ trở thành thông gia, vì thế, thuở nhỏ, hai người thường gặp gỡ nhau. Nhưng tính cách kiêu kỳ của nàng và lòng tự ái của tác giả đã khiến cho cả hai không có dịp tỏ tình với nhau. Về sau, hoàn cảnh thay đổi, gia đình chàng thì vì sinh kế phải đi xa còn gia đình nàng thì lâm vào cảnh sa sút. Chàng nhập ngũ, còn nàng thì theo nghề ca hát, mà khổ nổi chỉ hát trong đơn vị tâm lý chiến chứ không phải là ca sĩ nổi danh ở các vũ trường và sân khấu thành phố.

Sau lễ khao quân, nửa mừng nửa tủi, hai người ngồi trong quán nước nhắc nhở và nuối tiếc chuyện xưa đồng thời dằn vặt chuyện nay. Cuối cùng, “Tôi đưa Phụng về khi thành phố sắp sửa giới nghiêm. Sân khấu đã tắt đèn lặng trang. Chợt Phụng nói, giọng khuya khoắt như trong cơn mê loạn: ‘Có ngày em sẽ nổi danh, hát ở những phòng trà sang trọng tại Sài Gòn kiếm được thật nhiều tiền, cuộc đời sẽ cõng em trên vai. Chừng đó dĩ nhiên, em sẽ thôi không nhảy tuýt nữa.’ Tôi siết chặt tay nàng, ngẫm nghĩ hồi lâu rồi mới nói: ‘Còn anh, anh sẽ cố gắng lập công to, lên tướng để được cầm nhiều quân, đánh những trận lớn.’ Rồi tôi bật cười khan, một cái cười thật độc ác với chính mình.”

Nhưng rồi sau đó, giấc mộng đổi đời của cả hai đều không thành. Tác giả thì bị thương, được chuyển về hậu cứ. Còn Phụng thì không hề trở thành ca sĩ thực thụ, vì “ở những phụ trang sân khấu kịch trường, mãi tôi vẫn chưa tìm gặp sự xuất hiện của nữ ca sĩ nào tên gọi Quỳnh Vân.”

Bằng một giọng văn trầm lắng, ưu tư, “Nơi Chốn Đi Qua,” một trong những truyện ngắn khá hiếm hoi của Tô Thùy Yên, vẽ lại chân dung khá chân thực của một người lính trong quân đội VNCH, gợi nên biết bao xót xa, thấm thía về những số phận long đong vào một thời tao loạn của đất nước.
Xin được nhắc lại: Tô Thùy Yên sinh năm 1938 và mất Tháng Năm, 2019, tại Houston, tiểu bang Texas, thọ 81 tuổi.

 (Trần Doãn Nho)