Wednesday, October 13, 2021

THU ĐẸP (DIỆP THẾ HÙNG)

  THU ĐẸP

Sau một tuần mưa tầm tã, tuần này trời rất đẹp ở Paris. Thời tiết bây giờ rất thất thường, chắc là do climate change.  Mùa thu đẹp là mùa thu với nắng ươm vàng, khí trời lành lạnh, lá đỏ và lá vàng trộn lẫn với những lá còn xanh trên mọi lối đi, trong những công viên. Cảnh vật một ngày thu đẹp làm xúc động những người có hồn thơ, những người có những kỷ niệm tình yêu, hay chỉ là những kỷ niệm của những buổi đi dạo trong một khung cảnh tuyệt vời.

Tác giả xin chia sẻ với các bạn bài thơ dưới đây cảm tác trong một ngày thu rất đẹp của tuần này. Cảnh và tình thường đi đôi trong cảm xúc của thi sĩ. 

Chúc các bạn vui nhiều và an lành.

THU ĐẸP 

Trời ươm nắng, một ngày thu đẹp quá

Cây bên đường khoe lá đỏ vàng xanh

Mưa đi rồi chim về hót trên cành

Thiên nhiên cuốn hồn anh vào cõi mộng


Anh mơ ước anh vô cùng trông ngóng

Ngày lại ngày hy vọng thấy em về

Khi vắng em, buồn nhớ kéo lê thê

Anh chưa biết, chưa hề như thế đó


Ngày thu đẹp mơ cùng em dạo phố

Tay trong tay trên đại lộ muôn màu

Dưới nắng vàng mình âu yếm nhìn nhau

Hôn nồng cháy như lần đầu mình gặp


Anh rất thích nhìn lá rơi tới tấp

Là đỏ vàng phủ khắp lối công viên

Nghe tiếng thu xào xạc, nắng chiều nghiêng

Từng cơn gió thổi xuyên qua hàng liễu


Một ngày đẹp, một ngày thu tuyệt diệu

Nhưng anh buồn vì thiếu bóng em yêu

Chỉ thiếu em là anh thiếu rất nhiều

Làm sao nói mọi điều cho em hiểu?


Diệp Thế Hùng (October 11, 2021).


CHUYỆN ĐỜI TÔI (LÊ KHA)

 

CHUYỆN ĐỜI TÔI.

 

Tôi ra đời được vài ngày thì mất mẹ, mồ côi mẹ đã là bất hạnh nhưng vẫn chưa đau đớn bằng cha còn mà cũng như không. Chỉ vài tháng sau khi mẹ mất, lấy lý do cần người chăm sóc cho con nhỏ, ba cưới thêm vợ kế mặc sự xầm xì to nhỏ của hàng xóm láng giềng.

 

Còn ông bà nội thấy cũng ái ngại với thông gia nên cũng phản đối vài câu lấy lệ, nhưng ngày cưới, ông bà vẫn khăn đóng áo dài the ngồi chễm chệ cho con dâu mới dâng trà.

Sợ cháu chịu cảnh mẹ ghẻ con chồng, ông bà ngoại xin đem tôi về nuôi mặc dù lúc ấy bà cũng rất già yếu, đi phải chống gậy tre. Những ngày đầu còn có sữa “ông Thọ” pha loãng, độ loãng ngày càng tăng khi túi tiền ông bà ngoại dần cạn kiệt. Sau đó là cháo nấu độn khoai lang, cho tới khi tôi có răng thì tất cả những gì hiện diện trong mảnh vườn bé xíu, tôi đều chiếu cố tận tình.

Mảnh vườn nho nhỏ nên ông ngoại phải tận dụng tối đa theo phương châm tấc đất, tấc vàng. Ông trồng khoai mì san sát nhau thay hàng rào trước sân nhà, dưới quê bình yên hàng rào chỉ là để ngăn chia ranh giới với láng giềng chứ không phải để phòng ăn trộm.

Hông bên phải ông trồng dãy chuối từ đầu nhà tới tận bờ ao nơi tắm rửa, giặt giũ. Hông bên trái giáp ranh mảnh ruộng của nhà em họ có năm cây xoài, ông giăng dây trồng bầu và dưa leo nên người ta nói bầu và dưa leo nhà ông ngoại có mùi xoài. Không biết đúng hay sai nhưng ai cũng thích khi qua mua bầu mà lại được tặng mấy trái xoài rụng về dầm mắm ớt chua chua ngọt ngọt ăn ê nguyên hàm răng.

Trong sân thì ông trồng hành lá, sả, ớt, chanh và tất cả các lọai rau nên lợi tức của gia đình là những bẹ lá chuối bán cho bà bán xôi, quầy chuối, thúng xoài, chục chanh cho sạp trái cây ngoài chợ. Rau, bầu bí, dưa leo ai cần cứ đến hái rồi trả bao nhiêu tiền cũng được. Lâu lâu có người vác gạo đến đổi con heo ông nuôi bằng thân chuối và bèo vớt dưới ao. Mỗi lần tiễn heo đi tôi khóc sưng cả mắt nên sau này ông mua con heo sữa cho tôi chơi trước vài ngày rồi mới tiễn heo thịt đi sau.

 

Cuộc sống thần tiên kéo dài sáu năm thì ông bà nối gót nhau bỏ tôi mà đi. Ngày tiễn ông ra nghĩa trang, bà Bảy bán xôi chạy ngược ra sân sau giựt mấy bộ quần áo của tôi đang phơi trên dây bỏ vào cái túi mây xách theo. Sau khi an táng ông xong, bà Bảy dắt tôi tay bế em heo đi vòng vòng trên những con đê ngoằn ngoèo để đánh lạc hướng và sau cùng giao trả tôi và em heo về với ba và dì ghẻ.

 

Gọi là dì ghẻ nhưng dì không có ghẻ, nước da trắng hồng, đôi mắt to như hai cục kẹo “bi don don bi dòn dòn” ông ngoại hay mua cho tôi mỗi khi đi chợ, môi thì đỏ thắm nhìn sang trọng và đẹp hơn bà ngoại và bà Bảy bán xôi. Câu xã giao đầu tiên ba tôi hỏi:

– Mày tên gì?

Hỏi cho có chuỵên để nói thay vì ngồi im chứ ba đi làm khai sinh thì phải biết chứ, trừ khi quên là đã từng có đứa con này. Tôi ngớ mặt chưa kịp trả lời, bà Bảy nhanh miệng đáp:

– Tui nghe ông bà ngoại nó cứ gọi là “Chó con” nên thiệt ra hổng biết nó tên gì.

-Dì bảo nó đen như con chó mực thì từ nay gọi nó là Mực chứ chó con, chó già gì.

Tôi rưng rưng cảm động thầm cám ơn dì đã cho tôi cái tên rất tượng hình, chó nào cũng là chó mà.

 

Vì có gia tài đem theo là em heo nên ngày đầu tôi được miễn lao động và ăn cơm trắng. Những ngày sau đó tôi được sai chạy có cờ vì đúng dịp chị vú xin về quê nửa tháng, nửa tháng sau thì đến phiên anh làm vườn, và cứ luân phiên như thế đến giáp vòng thì việc gì trong nhà tôi cũng đượcc thử qua. À mà xui, anh tài xế không xin phép nghỉ về quê chứ nếu có chắc tôi cũng được lái xe hơi rồi.

 

Khi không ai vắng mặt thì công việc chính của tôi là băm thân chuối cho heo ăn, tôi hân hoan nhận việc vì như thế tôi được vuốt ve và trò chuyện với em heo và các bạn em ấy. Suốt ngày ngồi ngoài chuồng heo nên tôi ít gặp ba. Ông hay lên Sài Gòn khi thì đi tìm mối lái, khi thì đi mua ρhâп bón, mỗi lần đi hai hoặc ba ngày theo tỉ lệ 4/6 nghĩa là làm 4 chơi 6 ha ha ha, đó là tôi nghe lén ông tài xế kể với bác làm vườn. Do đó việc nhà chỉ mình dì ghẻ tự biên tự diễn, phần đông dì diễn xong hạ màn tắt đèn ba cũng chưa hay.

 

Thật ra dì cũng không ác lắm, dì nói chuyện rất nhỏ chỉ nghiến răng và gầm gừ trong cổ họng, nhưng tánh rất đa nghi và dì xiết bù lon thì không chạy vào đâu được. Ai cũng bảo nhờ thế nên mỗi ngày một giàu thêm. Tánh tốt duy nhất của dì mà tôi mang ơn đến mãi bây giờ là dì không đánh đòn con nít, chứ nếu gặp dì ghẻ khác chắc tôi không nhừ đòn thì cũng được thọ giáo vài chiêu chứ.

Một lần thấy tôi nhìn đắm đuối các em chơi ngoài sân, dì ngoắc tôi lại gần bảo:

– Mày bẩn lắm không được đụng vào đồ chơi của các em, tao mà thấy đồ chơi có vết bẩn là mày bị đòn đó.

Từ đó tôi biết thân không dám bén mảng lên nhà trên hoặc ra sân chỗ các em chơi vì sợ bị đòn, chắc vì thế dì “quánh giá” con bé này biết vâng lời nên thương hại. Mấy hôm sau, dì cầm xấp quần áo cũ của các em bảo tôi cất để mặc cho có thay đổi chứ mặc hoài ba bộ mang theo đến lủng đít coi không được. Tôi vui mừng mặc thử, nhưng hình như khó coi hơn cái quần thủng đít vì các em lúc đó 3 và 4 tuổi, còn tôi đã lên 7.

Bà Tư làm bếp dạy tôi gỡ chỉ đường may rồi bà may gộp lại thành một cái áo mới. Áo mới vải còn dày chưa sổ lông nên mặc đẹp và ấm nhưng mặc nó tôi lại phải đổi tên chó mực thành chó vá hoặc chó cầu vồng vì trên người tôi ít nhất phải là bảy màu. Mặc áo mới ai cũng khen xinh xắn dễ thương nên tôi vui lắm mặc nhín nhín những khi cần diện chứ ngồi băm thân chuối, tắm cho heo thì bộ đồ thủng đít vẫn dính sát tôi như tình nhân.

Một hôm tôi được theo bà Tư làm bếp đi chợ vì nhà có khách phải mua nhiều đồ, một mình bà vác không xuể. Khi về mới biết em heo gia tài ông ngoại để lại cho tôi đã bị bán. Biết thân tôi không dám nằm lăn ra đất chân giãy đành đạch gào khóc đến sưng mắt. Chỉ hai hàng nước mắt tuôn thành dòng và tay thì vẫn băm thân chuối như thường lệ, ráng nuốt lệ vào tim mà khẽ gọi thầm:

– Ông bà ngoại ơi, mẹ ơi, con nhớ ông bà, nhớ mẹ và em heo lắm.

Buổi chiều tôi buồn không ăn cơm được và hình như thấy khó chịu trong người. Sáng hôm sau cả gia đình và khách đi Long Hải tắm biển. Tôi nằm bẹp trên giường đầu nặng như búa bổ toàn thân nóng ran. Khi cả nhà đi hết tôi cảm nhận có chiếc khăn lạnh đặt nhẹ lên trán và tiếng bà Tư làm bếp nói khẽ:

– May cho con cả nhà đi vắng, chứ nếu không thì phen này chết chắc với dì ghẻ.

Bác làm vườn, bà Tư và mọi người thay nhau chăm sóc từng chén thuốc, tô cháo. Và sau cùng ai cũng bảo tôi bịnh khôn vì khi nghe tiếng trẻ nhỏ trở về xôn xao ngoài vườn tôi đã bình phục hẳn. Bước vào nhà dì tôi hít hít mũi vài cái rồi hỏi:

– Sao có mùi vỏ cam?

Bác làm vườn vội trả lời:

– Dạ đêm trước mưa to, mấy trái cam non rụng đầy sân tôi lụm vô để cho thơm nhà.

Dì nói trổng:

– Cam trồng để bán chứ không phải để đãi người làm đâu nha.

Dì hỏi cho có vẻ ta đây mặc dù vắng nhà nhưng chuyện gì cũng biết để thị oai cho người làm sợ mà bớt làm những chuyện gian dối, chứ cái vườn cả ngàn cây có ăn cả thúng cũng chả ai biết được. Thật ra, hồi sáng bác có hái vài trái và bóc cho tôi ăn để lành bịnh hẳn. Cam vườn này nổi tiếng rất ngọt và nhiều nước nhưng nghe dì nói sao tôi nghe cay đắng vô cùng. Chuyện này làm tôi suy nghĩ đến nát óc, mấy hôm sau đi vác thân chuối với bác tôi hỏi:

– Bác ơi sao phải nói dối, sao không nói là con bịnh nên bác hái cam cho ăn.

– Bả mà biết sự thật thì có mà chết, mà thôi con còn nhỏ quá biết ít tốt nhiều.

Ngày xưa ông ngọai cũng hay nói như vậy mỗi lần bị bí không trả lời được những câu hỏi ngớ ngẩn của tôi, lâu lắm rồi mới được nghe lại, nước mắt tuôn trào tôi khẽ gọi:

– Ông ngoại ơi.

Bác ôm tôi vào lòng xoa đầu dỗ dành:

– Ông ngoại đây, ông ngoại đây nín đi đừng khóc.

Từ đấy tôi gọi bác và bà Tư làm bếp vợ bác là ông ngoại, bà ngoại. Mỗi ngày ngoài việc chính là chăm sóc đàn heo tôi hay chạy theo bà ngoại rửa rau, cắt hành lá, bày bàn và phơi củi. Chiều chiều ông ngoại dắt tôi ra bờ sông sau hè tập bơi. Ông bảo sống vùng sông nước phải biết bơi mới có lợi, mà lợi thật.

Trưa hè nóng nực nhảy ùm xuống sông ngâm mình trong dòng nước mát lạnh đã ơi là đã. Mà còn đã hơn nữa khi ông ngoại chọi cho trái cam hái lén. Ông dạy để trái cam dưới nước lấy móng tay bóc vỏ rồi ra góc khuất mà ăn thì an toàn. Vì bóc dưới nước tinh dầu trong vỏ cam không bốc mùi, còn bóc trên bờ thì tinh dầu lan tỏa dì ghẻ ngửi được thì ngỏm củ hành tây cả hai ông cháu (ngỏm củ tỏi).

Có hôm ông ném cho trái xoài chín cây, cắn một miếng ngay cuống rồi dùng răng mà tước vỏ rồi ăn. Trái mận, trái ổi thì quá dễ không cần vận dụng mưu mẹo, nhưng trái thơm và trái sầu riêng thì suy nghĩ bao nhiêu năm ông vẫn chưa tìm ra phương cách. Từ đấy con sông sau nhà là phòng ăn chính của tôi, bí mật này chỉ hai ông cháu biết mà thôi.

Tối đến khi công việc xong xuôi, bác Năm tài xế dạy tôi viết chữ và đánh vần. Bác rất nghiêm khắc, mặt lúc nào cũng đăm chiêu, chưa ai thấy bác cười bao giờ nên trông dữ lắm ai cũng sợ. Bác bắt thì học chứ tôi chẳng thấy mấy cái chữ này làm mình ấm thêm những đêm giá rét, chẳng làm mình no bụng để không giật mình thức giấc giữa đêm khuya vì đói. Nhưng sợ bác nên tôi phải học và viết thật đều ngay hàng thẳng lối, mỗi tối khi kết thúc buổi học bác đều gầm gừ trong miệng:

– Mẹ nó, học chui mà còn như dzầy, chứ hổng biết nếu được cắp sách tới trường như con người ta thì làm tới bà gì nữa.

Chỉ cần nghe “mẹ nó” là tôi run bần bật vì thông thường đó là mở màn cho câu mắng chứ có ai dùng để khen? Thế là lại cố gắng nhiều hơn nữa, báo ba tôi đọc xong chất trong thùng carton ở góc bếp chờ bán ve chai tôi lén đem ra gốc khế sau nhà đọc ngấu nghiến. Mỗi lần bắt gặp vậy bác đều quay mặt chỗ khác cười tủm tỉm. Đến lúc tôi đọc thông thạo thì bác bắt đầu dạy cộng, trừ, nhân, chia và những đêm trăng sáng ông bà ngoại, chị vú, các anh làm vườn luộc khoai uống trà nghe tôi đọc truyện Kiều.

Cuốn truyện dày cui đọc đến khan cả tiếng cũng chỉ được vài trang nên chương trình đọc truyện tăng dần một tuần hai lần không cần chờ có trăng nữa. Rồi thì cũng đọc được hết mấy ngàn câu và kết thúc câu truyện, tối kế tiếp anh Cún nói:

– Ông Năm ơi đừng bắt tụi tui nghe lại từ đầu, cho nghe từ lúc Kiều có bầu đi.

– Thằng quỷ làm gì có chuyện Kiều có bầu mà đọc cho mày nghe.

– Cái câu “Thất kinh Kiều chửa biết là làm sao” là có bầu chứ gì nữa. Thất kinh là không có kinh, mà không có kinh là có bầu. Cộng thêm “chửa” tiếng Bắc là có bầu đó ông già ơi.

– Mèn ơi thằng ôn dịch, không lẽ mày già cỡ này mà tao lại phải dạy mày từng câu từng chữ, chứ mày phát biểu kiểu này ông Nguyễn Du nghe được ổng xé sách luôn chứ hổng phải chơi đâu nhe.

*****

 

Thời gian cứ thế trôi, càng ngày thì công việc của tôi càng nhiều, làm từ khi mặt trời ló dạng đến trăng treo đỉnh đầu mới xong. Tối nay sau khi tắm, tay ôm bộ quần áo vừa giặt xong trở về chái bếp vừa định giơ tay mở liếp phên chui vào, tôi giật mình khi thấy ông bà ngoại đứng chờ. Tưởng thế nào cũng bị la vì bà ngoại không cho tắm sông buổi tối. Nhưng tối nay bà không nói gì chỉ ôm tôi thật chặt, hồi lâu bà mặc thêm cho tôi chiếc áo cũng rất nhiều màu như những áo trước. Bà thì thầm bên tai tôi:

– Trong lai áo ngoại giấu mấy chỉ vàng, con giữ phòng khi cần dùng.

Tôi ngơ ngác nhìn bà ngoại ôm chặt mình vào lòng mà nước mắt đầm đìa. Ông ngoại mắt đỏ hoe kéo tôi trở lại bờ sông, ông treo bộ quần áo tôi ôm trên tay nãy giờ lên cành ổi, quàng cái bị nhỏ may bằng vải dù nhà binh trong có hai bộ đồ, một chai dầu xanh, chút gừng khô cắt lát, chục trái chuối khô qua cổ rồi đẩy tôi lên chiếc ghe đang trờ tới:

– Đi đi con, đừng bao giờ trở về đây nha. Mọi chuyện phải cẩn thận, tự lo cho bản thân.

Chiếc ghe nhỏ có vài đứa con nít và vài cặp người lớn. Tôi sợ hãi ngồi bó gối nhìn ra bầu trời tối đen. Tới đêm mọi người lục đục chuyển qua ghe lớn hơn cũng có vài chục người trên đó. Tôi bị dồn vô góc kẹt cạnh hai chị gái có vẻ hiền lành nên yên tâm ngồi im nhắm mắt cho tới lúc ngủ một giấc ngon lành. Đêm đó mưa to, sáng ra cả nhà nhốn nháo rằng con Mực tắm sông đêm rồi chết đuối bộ quần áo còn tòn ten trên cành ổi.

Chuyến đi thật dài, lâu lâu được chuyền cho chút cơm sấy khô hoặc vài ngụm nước cầm hơi lấy sức để ngủ và để ói. Tôi giận ông bà ngoại tại sao đẩy tôi lên đây ngồi yên không nhúc nhích cả tuần lễ không lời giải thích.

 

Đúng một năm sau tôi được định cư Canada và may mắn được gia đình bảo trợ cho cắp sách tới trường. Nhờ vóc dáng nhỏ nhắn trông như em bé, các bạn cùng lớp không biết tôi là “thiếu nhi đứng tuổi” nên rất thương yêu hòa đồng.

Những năm đầu chưa thạo sinh ngữ được lên lớp đã vui lắm rồi, nhưng từ khi vào trung học tôi cố gắng tối đa nên thầy cô lúc nào cũng hài lòng và dành mọi quan tâm đặc biệt.

Có một lần cả gia đình đi mua sắm, tôi nhìn thấy con búp bê biết nhắm mắt mở mắt y hệt con của bé Tú em cùng cha khác mẹ của tôi. Tôi cứ đứng ngây người nhìn tới khi ba má giục về mới quay đi lén quẹt hai giọt lệ vừa lăn trên má. Năm đó sinh nhật ba má tặng tôi con búp bê, thấy tôi vui mừng ôm con búp bê vào lòng ba má hỏi:

– Sao tuổi này rồi mà lại thích chơi búp bê đồ chơi con nít vậy?

– Thời còn bé con thấy bé Tú chơi con búp bê y hệt con này, con đã thầm ước được ôm nó một lần, được sờ vào mái tóc óng ả của nó. Hôm nhìn thấy con búp bê con mừng lắm như thấy lại cả thời thơ ấu nơi quê nhà.

 

Những năm sau đó năm nào ba má cũng bảo tôi viết ước mơ quà gì cho sinh nhật. Năm nào tôi cũng viết không cần quà chỉ xin cho con đi học thành tài để có thể báo đáp ơn nghĩa ông bà ngoại, ba má và những người đã từng thương yêu giúp đỡ lúc con cơ cực.

 

Hôm nay ngoài niềm vui được cầm mảnh bằng Master loại ưu hạng trên tay tôi còn sửng sốt khi nhận ra người lên trao hoa cho tôi ngoài ba má nuôi còn có ông bà ngoại. Thì ra những mơ ước tôi viết mỗi năm không phải chỉ để đọc chơi cho vui mà ba má đã cố gắng biến nó thành món quà ý nghĩa cho tôi ngày tốt nghiệp.

Trời tháng giêng thật lạnh, tuyết rơi trắng xóa nhưng lòng tôi ấm áp vô cùng.

 

Nguồn và ảnh: Lê Ka.

Montreal, Canada.

 


TẠI SAO TÔI YÊU BIỂN (DƯ THỊ DIỄM BUỒN)

 


TẠI SAO TÔI YÊU BIỂN

 

 

“Tưởng nhớ em tôi cố SQ/ Hải Quân

Cao Hoàng Hoanh, tử nạn trên đường

đưa người tìm tự do”. DTDB

 

 

Tại sao tôi yêu biển xanh mây trắng

Yêu cánh hải âu nhàng hạ lượn bay

Yêu bầu trời trong trưa hè ngập nắng

Yêu những chiều trên bến vắng người

 

Tại sao tôi yêu màu và bọt biển

Trắng trinh nguyên trên sóng nước xanh lơ

Khó giữ trong tay, dễ dàng tan biến

Thương thật nhiều cả trong giấc ngủ mơ

 

Tại sao tôi yêu vầng hồng chói lọi

Ánh nắng vương lên mặt biển đầy sao

Mây bay thướt tha, trời cao vòi vọi

Hải ngư giỡn đùa trên sóng lao xao

 

Tại sao tôi yêu hoàng hôn ngát đậm

Mặt trời treo lơ lửng giữa nước mây

Những tia sáng chói chan rồi tắt ngấm

Sắc đẹp muôn màu chỉ có nơi đây.

 

Tại sao tôi yêu trăng vàng trên sóng

Mây mù tan bát ngát tận chân trời

Nước lung linh, nguyệt chập chờn lồng bóng

Ôi mơ màng huyền ảo quá biển ơi

 

Tại sao tôi yêu thương trời biển động

Gió cuồng, cuốn xoay giận dữ thét gào

Mây đen phủ dầy, bốn phương trời rộng

Sấm chớp ầm ầm, sóng bủa, dâng cao

 

 

Đoàn tàu vẫn kiên trì không lùi bước

Tiến âm thầm trong biển nổi cơn điên!

Thủy thủ vững tay ghìm tàu tới trước...

Nên sá gì biển vật vả triền miên

 

Tôi đã yêu, và trọn đời yêu mãi…

Với những gì hiện hữu ở đại dương

Vì lòng biển u huyền vùng Nam Hải

Có cuộc đời, nguyệt mộ của người thương…”

 

DƯ THỊ DIỄM BUỒN

 

DƯỚI TÀNG KHUYNH DIỆP THOẢNG HƯƠNG (NHẤT PHƯƠNG)

 

DƯỚI TÀNG KHUYNH DIỆP THOẢNG HƯƠNG

 

 

Tôi thường đi ngủ rất sớm và thức dậy cũng rất sớm, một phần vì nghe theo lời khuyên của Dr.T. Nguyễn, vị bác sĩ gia đình khả kính, một phần do cách sinh hoạt đã thành nề nếp, từ thuở mới bước chân vào “khung trời mất nước”, nên quen rồi.

Mỗi đầu ngày, thức dậy tỉnh táo bên hương cà phê lan tỏa thơm lừng, ngắm nghía cuộc đời chung quanh đang còn an giấc, tôi như ôm cả khoảng không gian êm đềm, yên ắng trong vòng tay, thú vị vô cùng.  Tôi mở rộng thêm khung cửa bếp, nhìn cây xanh hoa búp mơ huyền mờ ảo hơi sương, lòng cảm thấy tương đối mãn nguyện với chính mình. Ít ra, ở “ga cuối đường tàu”, mượn chữ của chú nhà văn Huy Phương, tôi cũng đang được hưởng một chút gì êm ái nhất.

 

Trời đã vào Thu.  Mới đó mà những người tôi quen gặp hàng ngày đã rộn ràng khoe áo ấm.  Thành phố của tôi, hay đúng hơn là nơi tôi ở, tuy không thật sự đổi màu khi chuyển mùa, nhưng những tâm hồn yêu thích thiên nhiên vẫn háo hức ngẩn cao đầu, khát khao nhìn cây đoán gió.

Từ nhà đi đến công viên, nơi có những tàng cây Khuynh Diệp um tùm, mạnh mẽ đong đưa dưới vòm trời mênh mông, tôi thật sự thấy mình quá bé nhỏ, li ti như các nụ hoa Mimosa vàng chanh, khép nép im lìm trong thăm thẳm hoàng hôn Đà Lạt, một thuở chưa từng biết khổ đau, gói ghém nỗi niềm ly xứ như bây giờ, với những người bạn thân sơ còn xót lại. 

Mỗi ngày, chúng tôi đều nhàn tản ngắm nhìn tàng cây khuynh diệp ấy.  Ngồi xuống chiếc băng gỗ cũ kỹ, im lìm lốm đốm dấu thời gian, được đặt ở cuối đoạn đường mòn, Dũng và tôi vẫn thường tự nhủ:

-Quê mình mãi tận miền Nam nước Việt, chỉ có hai mùa mưa nắng.  Muốn biết “Thu Quyến Rũ” dường bao thì phải ra đất Bắc, hoặc thưởng thức sự gợi hình bởi các áng văn thơ, hay các ca từ trong từng bản nhạc nổi tiếng của biết bao người nhạc sĩ tài hoa.  Miền Bắc cũng là quê hương mà sao chúng  mình chưa từng muốn thử một lần đặt chân ra chốn ấy!?

Hỏi để tự trả lời, để âm thầm đan hứng từng Giọt Mưa Thu của Đặng Thế Phong, một trận mưa kéo dài lê thê, trải qua nhiều thế hệ.  Không gian âm u ảm đạm bởi từng cơn mưa bão ở quê nhà đồng khổ, làm sao lột tả được hết nỗi nhọc nhằn, thương tâm của một dân tộc đã chìm đắm triền miên trong lửa khói chiến tranh, nồi da xáo thịt.  Những cơn mưa Thu đăng đẳng, kéo dài từ năm 1945 cho đến ngày tàn phai cuộc chiến, vẫn là nguyên nhân làm rụng rơi, mất mác nhiều cuộc đời non trẻ.  Thật tội nghiệp và cũng thật đáng hãnh diện cho thế hệ của những con người phải bảo vệ quê hương.

 

Dường như lúc nãy tôi có nhắc đến ‘những người bạn còn xót lại’ của chính mình?  Từng mùa rồi từng mùa đi qua cuộc đời, những người thân yêu, quen biết, phần nào đã bay theo nắng sáng mưa chiều dở dang mà đi luôn không thèm chơi với tôi nữa.  Mất họ rồi, tôi như mất từng mẫu ký ức êm đềm của chính tôi.  Tôi đã mất nhà họ Đoàn, nhà họ Lâm, nhà họ Đặng, nhà họ Phạm, nhà họ Nguyễn…  Họ là những người anh, những người bạn cùng chung sinh hoạt với chúng tôi trong cộng đồng chung, từ hồi “nước Bolsa” của mình mới vừa ổn định để an cư.  Từng giờ qua, từng ngày mất”, tôi âm thầm tiễn đưa các bạn ra Vườn Vĩnh Cữu, ra “thành phố Vui” để thực hiện đúng lời dạy truyền khẩu của các bậc trưởng lão “sống ở thác về”.  Tôi nghĩ đến ngày về của những người đến nơi này từ phương Đông, nhưng lúc này đang sống an lành bên bờ Tây của Hiệp Chủng Quốc. Và Đông Phương, cũng là tên gọi người bạn đời dấu yêu của Thiên Lôi NTĐ.  Tôi định viết bài này để tặng Hội BĐQ, vốn dĩ hy vọng có thể sẻ chia chút xíu những sự hụt hẫng, chia lìa không kịp báo, và dĩ nhiên phải tặng riêng cho ông Thiên Lôi mất búa ấy.  Nhưng ở đời sống vô thường này, đâu thể muốn gì có nấy, đưa tay vói là hái trái được liền.  Tất cả đều phải theo dõi sắc mặt của ông Thời Gian khi cần hứa hẹn, cần hoạch định, để khỏi thất hứa với các bạn hiền.

Gần như mọi lúc, tôi bị ông Thời Gian trói chặt cả hai chân lẫn hai tay trong suốt mùa Thu đẹp tuyệt vời vừa qua với nhiều nguyên nhân, lý do không chờ đợi.  Ông Thời Gian và tôi tranh cải tay đôi nhiều lần, lần nào tôi cũng thua, lần nào tôi cũng khóc vì không được ông cho phép sống 25 giờ trong một ngày. 

 

 Nói vậy cũng đồng nghĩa với lời tạ lỗi chân thành nhất của tôi đến với các bạn, đến với Đông Phương, hay đúng hơn, với nỗi niềm sâu lắng của Thiên Lôi trong ngày tiễn biệt.  Mặc dù cố ý che dấu, nhưng nỗi niềm riêng vẫn luôn phảng phất trên nét mặt, trong lời nói anh, ở thời khắc luyến lưu khi phải giả từ phân nửa kia, bay về nơi miên viễn… NTĐ đối với chúng tôi, như “cơn gió chướng”, bất ngờ thổi đến lúc nào không hay, đẩy Dũng và tôi vào gia đình “Biệt Động Quân…Sát”, cùng với tác giả của bài hát ấy, người nhạc sĩ tài ba và đào hoa, là một trong vài người anh Văn Nghệ, cũng đã bất ngờ từ bỏ chúng tôi, bay đi biền biệt, lâu rồi. Mặc dù vậy, những năm tháng tuy có dài, tấm lòng của người ấy vẫn luôn hiện hữu với cuộc đời này.

 

Riêng tôi, mỗi khi được ngồi thảnh thơi dưới tàng cây khuynh diệp thân yêu, thả lỏng nỗi niềm riêng tư về dĩ vãng, hiện tại hoặc tương lai, tất cả những người bạn của tôi, dù còn hay đã mất, đều không hề thiếu một ai. Tất cả, dường như vẫn đang mỉm môi cười thân ái với tôi.  Người nằm kín trong tim, người ngồi im trong tư tưởng, người đối diện với chính mình trong những khoảnh khắc thật mơ hồ, huyền hoặc nhưng vô cùng gần gủi. Nhớ lần nhấp nhỏm trong lòng con chim sắt, nhìn xuống sông Sài-Gòn tối tăm, như cuộc đời không ngày mai của triệu triệu đồng hương bên dưới cánh bằng.  Nước mắt tôi lả chả rơi, vừa cho mẹ, vừa cho quê hương, vừa cho tất cả những buộc ràng giữa chúng tôi vào thời bao cấp.  Tôi đã một lần, bắt buộc phải bay về phía đông, về đông phương, về nơi “cuống rún chưa lìa”, như con thiêu thân bay vào ánh đèn, may mà không dễ bị “hỏa thiêu”, chỉ bị “giam lỏng” sơ sơ bảy tiếng đồng hồ ở sân bay, suýt nữa không kịp giờ đến nơi đưa tiễn mẹ.  Có lẽ giờ này, Đông Phương cũng đã về tới phương đông mà không cần phải xuất trình Landing Visa như tôi đã từng bị làm khó dễ.  Tôi cầu nguyện để nàng đến được miền hạnh phúc của chính nàng, như tên gọi Đông Phương.

 

Hôm nay trời nắng ấm, một lần nữa được ngồi dưới tàn cây thoang thoảng hương, gió lộng thổi tung miền ký ức thăm thẳm sâu, khiến tâm tư của mỗi người chúng tôi, lại nhớ về khung trời quá khứ, với dòng sông, với con đò, với quãng đời xinh tươi có thật.  Tuổi trẻ Sài-gòn thời VNCH đầy ắp mộng mơ, tuy phải sống trong thành phố Lính bởi chiến tranh Nam Bắc.  Chiến tranh khiến con người trưởng thành hơn ở tuổi hồn nhiên.  Tuy được tự do, bình an trao dồi tri thức, hít thở bầu không khí thanh bình nơi hậu phương, nhưng tâm tư người dân thuở ấy, nói chung, đều cưu mang trong lòng “tình anh lính chiến”, và có lẽ cũng sẳn sàng chấp nhận hết mọi bất toàn không thể tránh, bất cứ khi nào.

Bây giờ, đang gần cuối mùa Đông của nước Mỹ, cây cành trụi lá, lạnh lẽo như băng sơn.  Tàn cây khuynh diệp dấu yêu của tôi như muốn cố gắng dang tay ôm chầm chính nó, bảo vệ sắc xanh ủ dột, hòa quyện đông phong.  Lạ lùng thay, giữa lúc tàn đông, ánh dương vẫn ngời sáng, ngày vẫn hùng dũng tới, chói chan và ấm áp.  Hạnh phúc là gì để ai cũng rắp tâm tìm kiếm?  Tôi đã cùng các bạn vượt thoát đến đây từ phương đông, vậy có phải sau lưng là miền Hạnh Phúc?

 

Nhớ lời của Cố Nhạc Sĩ Du Ca Nguyễn Đức Quang “bỏ nhà ra đi, chúng ta sướng vui hay chúng ta sầu bi”…  Bởi chỉ có chính mình là người hiểu mình, không có người thứ hai, càng không có ngoại lệ, nên tôi đặt hết niềm hy vọng thênh thang (tuy rất mong manh) lên những người bạn còn sót lại của chính tôi.  Hy vọng các bạn ấy sẽ cùng tôi tự vẽ con đường để đi tìm Hạnh Phúc.

Nhà họ Phạm, một người bạn cũ, có lần đã nói:

-Phải chăng, hạnh phúc tuyệt vời chính là đi tìm những thứ mình không bao giờ tìm được?

Có lẽ nhờ thế, đời sống sẽ luôn luôn ửng sắc tươi hồng.

Phương Đông của tôi, của chúng tôi ơi, giờ đây đã thật sự xa khuất tầm nhìn, tít tắp mù khơi, bên ấy…

Tạm biệt nhé, Đông Phương.

 

Nhất-Phương.

 

MỘT NÉN NHANG LÒNG THƯƠNG TIẾC CA SĨ PHI NHUNG (MÊ HOA &TRẦN NGỌC ÁNH)

 


MỘT NÉN NHANG LÒNG THƯƠNG TIẾC

CA SĨ PHI NHUNG 

Nén nhang lòng nói lên lòng thương tiếc,

PHI NHUNG ơi, thần thức em có biết ?

Vạn dân nghèo, bao con trẻ mồ côi,

Nhớ về em, lã chã nước mắt rơi,

Lòng quặn thắt như người thân ly biệt !

Một đời làm thiện,

Giúp kẻ nghèo hèn,

Làm mẹ hiền một bầy con trẻ.

Khổ từ bé…

Lớn lên duyên tình không suông sẻ,

Chẳng than phiền, kể lể…

Tạo hương đời qua tiếng hát vươn xa,

Ấm lòng thế giới, đến tận mỗi nhà…

Một nén nhang lòng thương tiếc giọng ca,

“BÔNG ĐIÊN ĐIỂN” nay thành huyền thoại.

PHI NHUNG ơi, tháng ngày em bươn chải,

Để “nuôi con”, cứu tế kẻ khốn cùng,

Có ngờ đâu em gục ngã giữa dòng,

Hai chữ “vô thường” bất công quá đỗi,

Bánh xe “luân hồi” vòng quay nhịp lỗi,

Ăn ở hiền lành đánh đổi bất an !

Nhớ thương em- Một Tấm lòng vàng,

Thương tiếc em- Trái Tim ấm áp.

Nước mắt rơi, rồi cũng cạn

Lời than vãn, rồi cũng vơi,

Còn lại chăng, lời cầu nguyện khắp nơi,

Cho em được thảnh thơi, nhẹ bước…

Một nén nhang lòng mong em nhắm mắt xuôi tay,

Linh hồn em theo gió thổi mây bay,

Cùng hoa lá vui vầy VƯỜN LỘC UYỂN.

Chốn Thiên Đường em vô ưu hiển hiện,

Bỏ đằng sau Thế Giới Ta Bà,

Mở lòng em với hai chữ “Thứ Tha”,

Quên những thị phi, hơn thua tội lỗi.

Em ơi, “Thiện Hành“ là nguồn cội,

Đường thênh thang, MÂY TRẮNG, cõi em về.

Huế, 29/9/2021

Mê Hoa (AV-LVC-SP Huế)

***

THƯƠNG TIẾC PHI NHUNG

Trần Ngọc Ánh

Nếu mỗi nghệ sĩ là một vì tinh tú,

Làm đẹp bầu trời, làm đẹp thế gian.

Tôi chọn Phi Nhung, ngôi sao toàn mỹ,

Giữa trần ai em tỏa ánh huy hoàng!

Em có quê cha, em ra đời quê mẹ,

Trong em chỉ một thôi dù cách biệt phương trời.

Dẫu mang nặng “ NỖI BUỒN CHIM SÁO

Đau riêng em, hạnh phúc tặng mọi người!

Pleiku đó chắc em còn hoài niệm,

Tuổi thơ buồn như một khúc hát ru.

Để em chọn một không gian màu tím

Bánh xe lăn “thổ mộ” khuất bụi mù!

Em đã từng là cô thợ may giản dị,

Khâu áo cho đời làm đẹp những lứa đôi,

Bàn tay em lại khâu những mảnh đời bất hạnh

Những trẻ thơ bị ruồng bỏ giữa đời!

Hai mươi mấy đứa con giờ mất mẹ,

“Về với con, ơi mẹ Phi Nhung!”

Nghe đứt ruột nước mắt rơi theo bầy trẻ,

Thương tiếc em sáng đẹp một tâm hồn.

Snoqualmie Casino một tối,

Sân khấu Ballroom em đã hát điệu quê hương.

Cái bắt tay giờ đã thành kỷ niêm

Em vội đi sao, ai biết trước chuyện vô thường!

“Paris Về Đêm”, Sài Gòn sân khấu,

Không có em như thiếu vắng một cánh hồng.

Con sáo sang sông có tìm chỗ đậu?

Em bay xa, câu ca dao cũ xé lòng!

Vĩnh biệt em, Phi Nhung ca sĩ,

Vĩnh biệt em, trái tim nhân ái tuyệt vời!

Cớ sao phải hồng nhan bạc phận,

Lần đi nầy sao về được em ơi!

T.N.A.

FB. Nguyễn Phú Yên

********

LỤC BÁT CHO PHI NHUNG

 

Nghe tin “cây cải về trời”

Rau răm rau má đều rơi lệ buồn.

Em là ngụm suối đầu nguồn

Là “Bông điên điển” giữa muôn sóng trào

Em là ngọn thác trên cao

Ướp hương tinh khiết chảy vào nhân gian

Em là thơ giữa nông trang

Hương cau hương bưởi dịu dàng tình quê.

Sau mùa lúa chín ven đê

Em đi rơm rạ nặng thề đêm trăng

Thôi em đi nhé an bằng

Kiếp sau trở lại trong ngần nhé em!

 

Ngủ trưa dậy, nghe tin ca sĩ Phi Nhung mất. Buồn, thương cho một thân phận, một kiếp người.

Mang hai dòng máu Việt-Mỹ, mồ côi từ sớm, qua Mỹ hát dân ca, làm xao xuyến thính giả một thời. Chất phát, chân tình, tài năng và hiếu đạo, nuôi cả bầy con cơ nhỡ, Phi Nhung sống, lao động nghệ thuật và làm việc thiện nguyện, đâu đâu cũng để lại niềm mến mộ nơi công chúng về một nghệ sĩ chơn chất, chân chính giữa siêu bão thị trường âm nhạc.

Đôi lần gặp ở quán cơm chay đường Nguyễn Chí Thanh, vài lần dự định mời lên tham gia trại hè chùa núi, nhưng chưa đủ duyên, ca sĩ đã ra đi trong mùa đại dịch quái ác, sau những chuyến lao vào phát cơm từ thiện cho các bệnh nhân F0 tại Sài Gòn.

Tiếc, thương và ngưỡng mộ, ngưỡng mộ phong cách, nhân cách, tư cách của người nghệ sĩ tài hoa. Chúc Phi Nhung về cõi Phật bình an!

 

* Thuỳ Ngữ Thất,(trưa 28/09/2021)

Nhất Thanh