Wednesday, October 7, 2026

TRĂNG CŨ NGƯỜI XƯA (THƠ- QUỐC NGUYÊN)

 


TRĂNG CŨ NGƯỜI XƯA

Người xa bóng mà tình chưa từng mất,
Trăng năm nào còn sáng phía trời xưa.
Ta vẫn nhớ một bàn tay rất thật,
Đã từng tìm hơi ấm giữa chiều mưa.

Người đi khuất sau nghìn trùng mây trắng,
Bỏ mùa thu đứng lặng cuối con đường.
Chiếc lá rụng nghe như lời từ biệt,
Chạm vai ta thành một vết vô thường.

Ta đã tưởng thời gian rồi sẽ xóa,
Những môi cười, ánh mắt, những bàn tay.
Nào có biết càng đi qua năm tháng,
Một bóng hình càng ở lại thêm đầy.

Có những tối trăng nghiêng ngoài cửa sổ,
Ta ngỡ người vừa trở lại bên song.
Gió khẽ động, rèm lay như áo cũ,
Ta đưa tay… chỉ chạm phải hư không.

Ôi khoảng trống sao mà sâu đến thế,
Một người đi, mang cả nửa đời theo.
Nửa còn lại lang thang cùng kỷ niệm,
Nghe mùa thu rơi lạnh xuống lưng đèo.

Ta vẫn sống giữa nhân gian náo nhiệt,
Vẫn cười vui như chẳng biết đau lòng.
Chỉ đêm xuống, khi muôn người yên giấc,
Mới biết mình còn đứng giữa mênh mông.

Có những nhớ không cần ai nhắc lại,
Có những thương chẳng thể gọi thành lời.
Người đã hóa thành vầng trăng năm cũ,
Cứ âm thầm soi suốt một đời ta.

Nếu có kiếp, xin đừng làm ly biệt,
Đừng để người đứng đợi cuối trời mưa.
Xin gặp lại khi mùa thu vừa chớm,
Ta nhận người từ ánh mắt ngày xưa.

Ta sẽ chẳng hỏi vì sao xa cách,
Chẳng trách đời từng để lạc bàn tay.
Chỉ xin được một lần ôm thật chặt,
Bù trăm năm thương nhớ của đời này.

Rồi nếu phải lại một lần từ biệt,
Ta mỉm cười, không níu bước người đi.
Bởi đã hiểu yêu đâu là chiếm giữ,
Mà giữ người trong tận đáy tâm tư.

Mai tóc bạc, chiều nghiêng qua cửa vắng,
Ta ngồi nghe chiếc lá cuối cùng rơi.
Tên của người vẫn thơm trong ký ức,
Như hương thu còn sót lại bên đời.

Mai ta khuất giữa vô cùng nhân thế,
Trăng năm nào vẫn sáng phía trời xa.
Người xa bóng mà tình chưa từng mất,
Một thoáng thôi… thành vĩnh viễn trong ta.

Và nếu hỏi thiên thu dài bao nhiêu nữa,
Ta chỉ cười, nhìn nguyệt trắng trên cao:
Là khoảnh khắc một người đi khuất bóng,
Mà một người… thương nhớ đến ngàn sau.
Quốc Nguyên
(Người về từ lòng đại dương)

NHỮNG ĐOẠN TRƯỜNG TÂM KHÚC (THƠ - NHẤT PHƯƠNG)

 


NGƯỜI CHẾT TRỞ VỀ. (NGUYỄN THỊ THANH DƯƠNG)

 

CHỊ THANH DƯƠNG (TÁC GIẢ)

 NGƯỜI CHẾT TRỞ VỀ.


Buổi tối bà Lịch thắp mấy nén nhang lên bàn thờ Liên như thường lệ, nhìn gương mặt con gái mờ mờ trong hương khói nỗi đau buồn ân hận dày vò bà không nguôi, cả một năm nay bà không biết làm gì hơn là thắp nhang cầu khấn con gái tha thứ và yên nghỉ.

Mấy tháng đầu sau khi Liên đi vượt biên vợ chồng bà Lịch đã trông chờ tin tức mỏi mòn nhưng niềm hi vọng cuối cùng như ngọn đèn dầu le lói cũng vụt tắt. Bà Lịch đã lấy ngày Liên rời khỏi nhà làm ngày giỗ Liên, đã được một giỗ rồi.

Bà Lịch héo hon thờ thẫn sống như một bóng ma trong nhà mình, nhiều đêm bà ngủ mơ thấy Liên gõ cửa trở về nhà mặt mày tái mét tóc tai rũ rượi  ướt sũng nước từ đầu đến chân như vừa mới được vớt lên từ lòng biển. Liên chỉ nhìn mẹ bằng ánh mắt buồn bã không nói năng gì, những cơn ác mộng này luôn ám ảnh bà Lịch làm bà thường xuyên mất ngủ. Thỉnh thoảng bà thừ người lẩm bẩm một mình:”Ông Lịch nói đúng, giá mà ta đừng nài ép con đi vượt biên, ở nhà lấy chồng thì giờ đây ta đâu có khốn khổ thế này”.

Thấy tinh thần vợ suy sụp ông Lịch đưa vợ đi bác sĩ thì bác sĩ bảo tâm bệnh kê vài món thuốc an thần cho dễ ngủ, để chắc ăn thêm ông Lịch nghe theo lời khuyên của bà con họ hàng đưa vợ đến am một bà thày nổi tiếng ở Hòa Hưng để bà ta trừ tà diệt vong, Liên sẽ không hiện về nữa. Thế là mỗi tối bà Lịch thắp nhang khấn vái Liên cho thêm hiệu nghiệm.

Liên có người yêu là Minh đang học đại học sư phạm năm cuối, còn Liên thi rớt đại học và khó xin được việc làm vì lý lịch trước kia cha làm việc cho  Mỹ. Thời buổi bao cấp xã hội chủ nghĩa cuộc sống khó khăn, Liên ngày ngày đạp xe từ nhà đến chợ Tân Bình phụ cô ruột mua bán hàng chợ trời chờ ngày Minh ra trường có công việc ổn định hai người sẽ tính tới chuyện hôn nhân.

Bà Lịch không ủng hộ chuyện tình này, một đứa lương nhà giáo chẳng là bao, đứa kia bán buôn chợ trời bữa đực bữa cái lấy nhau ở  Việt Nam vừa đói khổ vừa bị kỳ thị lý lịch tương lai tối thui như đêm ba mươi. Khoảng những năm 1980 người ta đi vượt biển như đi chợ, cứ thấy nhà nào có người vắng mặt là tháng sau nghe tin có điện tín đánh về báo tin đã tới đảo nọ đảo kia làm bà Lịch sốt cả ruột. Nhà có hai đứa con bà ước mơ chúng đi tìm tự do xứ người, ăn học đổi đời. Bà Lịch đã tìm được một chỗ vượt biên cho anh em Liên, nhưng Liên vì tình yêu Minh nên cương quyết không chịu đi, thế là chuyến vượt biên ấy chỉ mình anh Luân đi đã thành công, bà Lịch tiếc rẻ Liên đã bỏ lỡ vận may, đã đay nghiến Liên biết bao nhiêu. Liên  cảm thấy mình có lỗi khi không nghe lời mẹ nên sau đó bà Lịch tìm được mối đi nào Liên cũng nghe theo cho vừa lòng mẹ. Nhưng 2 lần đi đều không thành công, chưa bước chân xuống tàu đã bể chuyện trở về, may là chưa bị bắt vào tù.

Bà Lịch chưa ngán vẫn quyết chí cho Liên đi vượt biên tiếp. Đúng lúc này gia đình Ngà bạn thân của Liên  đang tổ chức vượt biển cho toàn gia đình, Ngà rủ Liên đi, chỉ cần đóng góp trước 1 cây vàng  và chờ ngày xuống tàu.

Bà Lịch biết Ngà bạn thân từ thời trung học của Liên từng đến nhà mấy lần, chỗ quen biết tin cậy, giá rẻ, lại thấy con gái ngoan ngoãn chịu đi nên bà Lịch đồng ý góp ngay 1 cây vàng.

Liên chưa đi mà bà Lịch đã cẩn thận cầu nguyện ngày đêm, Bà nói:

-          Má  cầu nguyện cho tới khi con tới đảo thì má mới yên tâm.

Ông Lịch bắt bẻ:

-          Đảo nào? Đảo …Phú Quốc hả? nhiều tàu vượt biên bị bắt ở đảo Phú Quốc lắm đó. Chuyến này nếu Liên đi  không thành công coi như quá tam ba bận thì chấm dứt luôn ở nhà lấy chồng.

Bà Lịch gắt chồng:

-          Ông đừng nói xui xẻo, chuyện nghiêm trọng mà ông cũng đùa được. Dĩ nhiên tôi cầu cho con tới đảo Mã Lai, đảo Indonesia hay đảo Thái Lan chứ.

Ông Lịch về phe con gái, Liên và Minh lấy nhau họ sẽ tự biết bươn chải trong cuộc sống, giàu nghèo no đói có nhau. Chuyện vượt biên không phải lúc nào cũng may mắn, lỡ có bề gì thì ân hận suốt đời, nhưng bà Lịch đã khăng khăng làm theo ý mình, bà có lý luận của bà sống chết có số, vượt biển thành công thì tương lai đời Liên và đời con cháu tốt đẹp hơn.

Ông Lịch chỉ biết thở dài:

-           Tội nghiệp hai trẻ bị bà chia rẽ tình yêu..

-          Tôi cũng thương hai đứa lắm chứ nhưng đành phải thế thôi. Nếu nhà mình có nhiều tiền thì tôi và ông cũng vượt biên luôn nói chi con mình.

Đến hẹn Liên đã khăn gói đi chuyến xe đò đến Cần Thơ, một tuần sau Liên gởi thư báo tin ngày mai sẽ xuống tàu, ba má cứ yên tâm chờ nếu không nghe tin gì thêm có nghĩa là con đang ngoài khơi rồi.

Vậy mà ông bà Lịch đã không nghe thêm bất cứ tin tức gì của Liên suốt một năm nay. Bà Lịch chỉ biết Ngà học hành ở Sài Gòn chứ nào biết quê quán nhà cửa Ngà ở đâu tận Cần Thơ, hơn nữa cả nhà Ngà cũng đi chuyến tàu này. Biết hỏi ai?

………..

Thắp nhang khấn vái xong bà Lịch đợi nhang tàn mới vào giường ngủ, đã 11 giờ tối ông Lịch đang ngủ say từ lúc nào. Bà khép mắt cố dỗ giấc ngủ bình thường, hi vọng không gặp ác mộng. Đêm im ắng bà Lịch đang chập chờn thiu thiu ngủ bỗng có tiếng gõ cửa nhè nhẹ như sợ làm lay động hàng xóm láng giềng chỉ để cho một mình bà  nghe thấy, tiếng gõ cửa từ nơi xa xăm nào vọng về rồi Liên sẽ hiện ra đứng lù lù nơi cửa, tóc tai bù xù và người ướt sũng nước như nhiều lần bà đã mơ thấy. Bà hoảng sợ chùm chăn che kín đầu rồi thều thào lay gọi chồng:

-          Ông ơi…ông ơi..

Giọng ông Lịch ngái ngủ:

-          Gì thế?

-          Trời ơi…có tiếng gõ cửa…con Liên lại hiện về…

   Ông Lịch vừa ngủ vừa lải nhải:

-          Thế bà thắp nhang chưa? Nhang tàn là vong đi theo nhang, Liên không hiện về đâu. Bà thày Hòa Hưng đã bảo đảm thế mà.

Nhưng tiếng gõ cửa lại tiếp tục nhè nhẹ bên ngoài lần này ông Lịch lắng nghe và tỉnh ngủ :

-          Có tiếng gõ cửa thật, chắc là hàng xóm cần chuyện gì ?

Rồi ông trấn an bà:

-          Tiếng gõ cửa thực tế chứ không phải trong những cơn ác mộng hay trong hoang tưởng của bà. Để tôi ra xem.

Bà Lịch túm áo chồng:

-          Tôi ra với ông, nằm đây một mình tôi sợ lắm.

Hai vợ chồng cùng bước ra phòng khách và bật đèn sáng chưng khắp nhà  thì đố ma nào dám bước vào nhà, khi tiếng gõ cửa lại vang lên ông Lịch  hỏi ai đấy, giọng trả lời nghe không rõ nhưng quen quen, ông liền mở cửa, bất ngờ và kinh hãi khi thấy Liên đang  sừng sững đứng trước mặt họ, đôi mắt sáng lấp lánh trong ánh đèn nhà hắt ra, nhìn ông bà Lịch mỉm cười. Bà Lịch  sợ hãi kêu rú lên, suýt ngất trong tay chồng:

-          Ôi…con Liên lại hiện về…!

Ông Lịch vội đỡ cho bà khỏi ngã dù ông cũng kinh hoàng không thua gì vợ, ông đứng chôn chân tại chỗ và cứng họng không thốt nên lời. Bà Lịch hi hí mắt nhìn Liên và ú ớ:

-          Liên là …ma đấy, ông nhìn kỹ xem ….nếu hai chân nó lơ lửng không chạm đất thì đúng là ma…

Liên dậm hai chân thình thịch trên nền nhà:

-          Con là Liên bằng xương bằng thịt đây mà, con không chết, con không là ma. Ba má yên tâm đi.

 Bây giờ ông Lịch mới tỉnh người, mở miệng hỏi:

-          Liên còn sống sót hả con? cả một năm qua ba má chẳng nghe tin tức gì của con.

Bà Lịch thấy Liên ăn mặc chỉnh tề khác hẳn trong những cơn ác mộng thì bớt sợ hỏi tiếp:

-          Con bị bắt ở đảo Phú Quốc hay bị cướp biển mang ra đảo hoang  mới trốn được về nhà hả? Lời ông Lịch nói đùa đã mang cái xui xẻo vào con rồi sao.

Liên vào nhà, đợi cha mẹ bình tâm, bên cạnh sự mừng vui tột cùng của cha mẹ, Liên thong thả kể lại từ đầu  là nàng và Minh yêu nhau tha thiết, đâu có chuyện Liên dễ dàng nghe theo lời mẹ đi vượt biên 3 lần như vậy. Hai lần đi theo mối của mẹ, Liên đã 2 lần cố tình  đến trễ và đến sai điểm hẹn, chưa thấy mặt mũi tàu bè sông rạch gì cả. May quá cả 2 chuyến ấy đều vỡ lở không thành nên bà Lịch chẳng hề nghi ngờ. Biết không thể “lừa” mẹ mãi được Liên đã sáng tác ra kịch bản đi theo gia đình Ngà. Ngà là người bạn có thật Liên chỉ mượn tên Ngà để tạo niềm tin cậy với mẹ và Liên cũng “mượn ” 1 cây vàng của mẹ làm vốn về Cần Thơ sống với Minh. Sau khi ra trường Minh đã được phân bổ về đấy.

Đợi 1 năm cha mẹ đã thấm mùi khổ đau tưởng Liên đã chết ngoài biển khơi, nàng về trình diện cha mẹ trong niềm vui to lớn tái sinh bất ngờ này  chắc sẽ được cha mẹ tha thứ..

Bà Lịch vui sướng khi con mình còn sống nhưng vẫn hờn mát:

-          Sao con không đợi một hai năm nữa mới về rồi ra mộ của má mà xin lỗi.

Ông Lịch thì thực tế:

-          Ngày mai ba dắt con ra ủy ban phường trình diện “đòi” lại hộ khẩu mà họ đã cắt kể từ khi con đi  vượt biên. Rằng con gái tôi không hề đi vượt biên, nó “mê trai” bỏ nhà đi theo tiếng gọi của tình yêu.

Liên đồng ý ngay:

-          Con có những giấy tờ chứng minh đã sống và làm việc ở Cần Thơ trong năm qua. Họ sẽ tin.

Bà Lịch thêm vào:

-          Nếu họ cố tình làm khó dễ thì mình sẽ làm thủ tục “Đầu tiên. Tiền đâu” là xong ngay.

Ông Lịch vui như pháo tết:

-          Rồi con bàn với thằng Minh để ba má tổ chức đám cưới cho hai đứa hiên ngang dưới ánh mặt trời sau một năm chốn chui trốn nhủi ở xứ Cần Thơ nghe con.

-          Dạ, chúng con cũng đã nghĩ đến điều này rồi, ba má anh Minh sẽ tới gặp sui gia chứ. Cám ơn ba má.

Bà Lịch ra chỗ bàn thờ lấy mấy cây nhang ông Lịch la lên:

-          Con nó còn sống về nhà bà còn thắp nhang chi nữa?

Bà hớn hở trách ông:

-          Tôi hạ hình nó xuống không thờ cúng nữa và thắp nhang cảm tạ trời Phật mừng con trở về bộ không được sao.

………

Hiện nay ông bà Lịch và gia đình vợ chồng Liên- Minh đều sống ở Mỹ do anh Luân của Liên bảo lãnh, tuy kẻ trước người sau, tuy chậm tuy muộn nhưng cuối cùng cả đại gia đình đoàn tụ. Bà Lịch và Liên đều vui vẻ hạnh phúc ai cũng đạt được ước mơ của mình.

Nguyễn Thị Thanh Dương

( Oct. 01, 2025)




Tuesday, October 6, 2026

DẤU CHÂN THU (THƠ- NGUYỄN PHAN NGỌC AN)

 


DẤU CHÂN THU

Sáng hôm nay nghe gió về lành lạnh
Thu đã chuyển mùa anh có biết không ?
Mây lang thang hồn trĩu nặng nhớ mong
Nắng dìu dịu...lòng em buồn man mác...

Em bỗng nhớ mùa thu xưa Đà Lạt
Mây Lâm Viên mờ ảo phủ thông rừng
Mi mô da từng hạt lệ rưng rưng
Bên hồ biếc xôn xao con sóng gợn...

Em chưa có mùa thu sông núi Ngự
Huế mơ màng ôm cung điện nghìn xưa
Huế của ai ...sao nhiều nắng lắm mưa
Em ao ước được một lần hạnh ngộ 

Em nghe nói trời mùa thu Hà Nội
Heo may về...từng đợt gió buồn hiu
Lá vàng rơi trên đường phố cô liêu
Hồ Lãng Bạc vết tích xưa huyền sử

Thế là đã ba mấy thu cô lữ
Lá quê người sắc vàng, đỏ mênh mang
Nhưng trong em bao kỷ niệm úa vàng
Niềm cố quốc, quê hương xa vời vợi !

Anh biết đó - em vẫn hằng mong đợi
Một mùa thu ta nhặt...lá vàng rơi...

nguyễn phan ngọc an - thu nhớ 2026

ÔNG GIÁO MẶC ÁO LÍNH (THƠ- LMT)

 


ÔNG GIÁO MẶC ÁO LÍNH

Ông giáo ngày xưa mặc áo lính
Trường Văn hóa quân đội dạy học trò
Con chữ tròn vo các em nắn nót
Rồi sau này theo thầy mang chiếc ba lô.

Hậu cứ có cái phòng họp trống rỗng
Kê tạm bàn ghế với bảng đen
Các em là cháu con gia đình binh sĩ
Trường ốc xa, giúp cho lũ trẻ chuyện sách đèn.

Không hiểu vì sao tôi được chọn làm thầy
Chắc không hẳn là dựa vào cái bằng tú tài
Có lẽ do gương mặt tôi đầy khắc khổ
Cũng có khi họ nhầm tôi... chữ tốt văn hay.

Lũ trẻ là con cháu lính nên rất mến...ông thầy lính
Hàng ngày bụi phấn phủ đầy mái tóc xanh
Thấy tôi còn độc thân lại vui tính
Bắt phải hát cho nghe mấy khúc quân hành.

Mỗi mình tôi bao sân hết các lớp
Từ tập đọc, tập viết đến chính tả, tập làm văn...
Mệt nhưng vui vì các em rất chăm chỉ
Phụ huynh còn gán cho tôi là...robot đa năng.

Vậy là nghề gõ đầu trẻ chọn tôi từ đó
Thì thôi... xay lúa khỏi phải bồng em
Đêm đêm không còn cảnh hỏa châu chong mắt đỏ
Cái lưỡi hái tử thần như mảnh trăng lưỡi liềm.

Mỗi sáng ôm chồng sách giáo khoa lên lớp
Trưa nằm nghỉ...con số, cái chữ cứ nhảy múa trong đầu
Bài sử cũ lâu lâu lại nhói đau trong trí
Cuộc chiến phi lý này rồi sẽ đi về đâu ?

Nhớ các em với phấn trắng bảng đen
Học đi nhé, mai sau lớn lên cũng làm lính
Đừng tính toán thiệt hơn vì mình là con đất Việt
Luôn hiếu học nhưng không chấp nhận sự đớn hèn.
LMT

CÂY GÒN VÀ TUỔI THƠ (NGÔ MINH CHÍNH)

 


Cây Gòn và tuổi thơ

Ngày xưa, cây Gòn già đứng sừng sững giữa khoảng đất trống bên con đường nhựa đã rạn nứt vì nắng mưa, trong xóm ga nhỏ nơi cất giấu cả tuổi thơ của tôi. Nó như một chứng nhân lặng lẽ dõi theo bao đổi thay của cái xóm nghèo. Thân cây to đến mấy người ôm không xuể, lớp vỏ xù xì bạc màu theo năm tháng. Những chiếc rễ già ngoằn ngoèo trồi lên mặt đất như những đường gân nổi lên từ lòng đất cằn cỗi. Tán cây xòe rộng, cành lá vươn xa như đôi cánh khổng lồ, che rợp cả một khoảng trời.

Câu chuyện về cây Gòn bắt đầu từ những năm chiến tranh còn mịt mù khói lửa. Khi ấy, nhiều gia đình tản cư từ vùng bom đạn dắt díu nhau về tá túc trên mảnh đất cạnh đường ray xe lửa. Họ dựng tạm những căn nhà gỗ mái tôn đơn sơ, vách ghép bằng những tấm ván cũ kỹ, chỉ đủ che nắng che mưa qua ngày.
Có lẽ trong một buổi chiều đẹp trời nào đó, người ta tiện tay cắm xuống đất một nhánh Gòn tươi, chỉ mong mai này có chút bóng mát giữa vùng đất cát cháy nắng quanh năm. Không ai ngờ nhánh cây nhỏ bé ấy lại bén rễ, âm thầm hút lấy sinh khí từ mảnh đất khô cằn để lớn lên qua bao mùa mưa nắng. Từ một cành cây mong manh, nó dần trở thành cây cổ thụ nổi bật giữa xóm ga, gắn với biết bao lời đồn đoán và những câu chuyện nửa thực nửa hư của cả vùng quê. Có lẽ ngay cả người trồng nó ngày ấy cũng không ngờ cây Gòn lại trở thành một phần ký ức của cả thị trấn nhỏ.

Rồi chiến tranh qua đi, đất nước yên tiếng súng. Những gia đình năm ấy lần lượt thu xếp trở về quê cũ. Những căn nhà tạm cũng được tháo dỡ mang theo, chỉ còn cây Gòn ở lại giữa khoảng đất trống, lặng lẽ và cô độc như một chiếc bóng cũ không nỡ rời miền đất từng cưu mang con người qua những ngày ly loạn.

Năm tháng dần trôi, bãi đất hoang ngày nào dần trở thành nơi họp chợ của người dân quanh vùng. Ban ngày, tiếng mua bán lao xao vang dưới tán cây, mấy bà bán rau, mấy cô bán cá tranh nhau ngồi nép dưới bóng mát để tránh nắng. Đám trẻ con theo mẹ, theo cô đi chợ thì ríu rít chạy quanh gốc Gòn, nhặt những trái khô nứt vỏ, bóc lớp bông trắng mềm như mây mà nghịch ngợm.

Nhưng cứ mỗi khi hoàng hôn buông xuống, mọi thứ lại đổi khác. Khi ánh nắng cuối ngày vừa tắt, cây Gòn già như bừng tỉnh sau giấc ngủ dài. Chim chóc từ đâu kéo về đậu kín những cành cây đen sẫm. Tiếng cánh đập phành phạch hòa lẫn tiếng gọi nhau vang lên giữa màn đêm, nghe xa vắng và não nề như tiếng than thở của những linh hồn lạc lối. Mỗi lần gió nổi, cả tán cây lại rung lên rì rào như có ai đang ngồi trên cao thì thầm kể lại những câu chuyện rất xưa của một thời nhân gian.
Hồi ấy, con đường làng vẫn chưa có đèn điện, bóng tối càng khiến những đêm trăng non thêm phần huyền hoặc. Cây Gòn hiện lên đen sẫm giữa nền trời âm u, trông như một bóng hình khổng lồ lặng lẽ cúi xuống mặt đất. Lá khô xào xạc trong gió nghe như tiếng chân ai lặng lẽ bám theo sau lưng người đi đường.

Từ đó, trong xóm bắt đầu truyền tai nhau đủ thứ chuyện bán tín bán nghi mang màu sắc huyền hoặc. Người bảo từng thấy bóng trắng ngồi vắt vẻo trên cành cây lúc nửa đêm. Người lại kể rằng mỗi khi trời trở gió, cây Gòn phát ra những âm thanh não nề như tiếng người đàn bà khóc trong đêm khuya vắng. Người lớn nghe chuyện chỉ dửng dưng im lặng, chẳng ai giải thích mà cũng chẳng ai thật lòng phủ nhận. Còn đám trẻ con chúng tôi thì tha hồ thêu dệt thêm đủ điều ly kỳ nào là có ma giữ cây, nào là đêm khuya vẳng lên tiếng ai gọi tên người đi đường. Thế là “cây Gòn xóm ga” dần trở thành nỗi ám ảnh mơ hồ của cả một thời thơ bé.

Mỗi lần đi ngang qua lúc trời tối, đứa nào cũng cắm đầu chạy thật nhanh, tim đập thình thịch, chẳng đứa nào dám ngoái đầu nhìn lại phía sau. Có hôm, cả đám đứng nép bên đường chờ người lớn hoặc một chiếc xe đạp chạy ngang mới dám lật đật chạy theo. Chúng tôi còn mong có chuyến tàu đêm đi qua, để ánh đèn hắt sáng cả đoạn đường, xua bớt cảm giác sợ hãi đang bám chặt trong lòng.

Những đêm khuya, trái Gòn già khô nứt ra, từng cụm bông trắng bay lất phất trong gió, lập lòe dưới ánh trăng mờ như những linh hồn không nơi trú ngụ đang chập chờn tìm đường về cõi cũ. Sợ thì sợ thật, nhưng chính nỗi ám ảnh ấy lại nuôi lớn tuổi thơ chúng tôi bằng một thứ cảm xúc rất lạ vừa hoang mang, vừa mê hoặc. Cây Gòn xóm ga phủ bóng lên những năm tháng nghèo khó, thiếu thốn, nhưng cũng chở đầy trí tưởng tượng và những câu chuyện huyền bí của lũ trẻ miền quê ngày cũ.

Rồi chúng tôi lớn lên. Mỗi đứa trôi dạt một phương trời kẻ Nam, người Bắc, người tha phương tận miền xa, có đứa rời quê sang cả bên kia nước Mỹ, nhiều năm mới một lần trở lại chốn cũ. Nhưng trong sâu thẳm ký ức, cây Gòn già vẫn đứng đó, nghiêng mình dưới ánh trăng, lặng lẽ nhìn những chuyến tàu đêm hú còi lao qua xóm nhỏ, như nhìn tuổi thơ chúng tôi âm thầm trôi mất theo năm tháng.

Nhiều năm sau trở lại quê nhà, tôi bàng hoàng nhận ra khoảng đất năm nào giờ đã đổi khác. Nhà cửa mọc chen chúc, đèn điện sáng choang, chẳng còn dấu vết của bãi đất hoang xưa cũ. Cây Gòn già cũng không còn nữa. Người ta đã đốn bỏ nó để lấy đất xây dựng. Nghe đâu hôm hạ cây, thợ còn phải mời thầy cúng đến làm lễ, bởi ai cũng e ngại cái vẻ linh thiêng, âm u đã phủ quanh nó suốt mấy chục năm trời.

Nhưng tôi biết, với những đứa trẻ từng lớn lên nơi xóm ga nghèo ấy, cây Gòn chưa bao giờ thật sự biến mất. Bởi có những điều, khi rời khỏi mặt đất, lại bén rễ sâu hơn trong ký ức con người. Cây Gòn xóm ga với bóng tối chập chờn, tiếng chim đêm hỗn loạn cùng những cụm bông trắng bay lơ lửng trong gió sẽ mãi là một phần không thể phai mờ của tuổi thơ chúng tôi.

Thỉnh thoảng trở về quê, mỗi lần có dịp đi ngang nơi ấy, tôi lại vô thức mỉm cười, như thấy bóng dáng tuổi thơ mình thấp thoáng dưới tán cây đã không còn nữa, giữa âm vang tiếng tàu xa đang dần chìm sâu vào miền ký ức.

NGÔ MINH CHÍNH.