Wednesday, March 30, 2022

BIỂN VÀ HOA (ĐỖ BÌNH)

 


BIỂN VÀ HOA

 

Mùa ly loạn em ra đi năm ấy
Thuyền lênh đênh hoàng hôn ráng chân mây.
Trời gió nhẹ biển loáng màu nắng ngả
Nghiêng xuống em lấp lánh giải ngân hà.
Đêm trở gió chiếc thuyền con thăm thẳm,
Biển hãi hùng trời đất rất xa xăm!
  Từng lớp sóng ngọn cuồng như thác đổ, 
Bao kiếp người thành bọt sóng hư vô!
Trên sóng nước em bồng bềnh trôi mãi
Trôi theo trăng về lối ngõ thiên thai.
Biển và em là bài thơ dang dở
Dòng sông quê đành gởi lại bến mơ!

Em theo sóng về thiên thu cõi mộng
Biển vẫn xanh hồn thành đám mây hồng.
 Như pho tượng đượm nét buồn thế kỷ
Ðời chìm sâu những giai điệu tình si
Tít mù khơi loài chim nhỏ thiên di,
Vút tiếng hát từ xa xăm mộng mị
Về biển xanh mang theo chút phù sa
Sóng dìu em vào tận cõi thiên hà
Em chắc lạnh nơi hành tinh băng gía?
Chiếc tàn y sao đủ ấm làn da!
Sóng nhấp nhô biển hoàng hôn trắng xóa,
Mắt em buồn màu cỏ úa xót xa!
Ôi giai nhân trong đáy nước nhạt nhòa,
Em trôi mất mảnh thuyền xưa mục rã!

 

Đỗ Bình


NỖI NHỚ QUÊ HƯƠNG (BẰNG SƠN)

 


Nỗi Nhớ Quê Hương.

💧💧💧💧💧💧💧💧💧💧💧



Đi thơ thẫn giữa thành đô xa lạ
Nhìn con tàu rẽ sóng ngút ngàn xa
Lòng bâng khuâng mang nổi nhớ quê nhà
Chừ cũng đã bốn mươi mùa phượng nở


Sài gòn hỡi mái trường xưa ngói đỏ
Lá me vàng che khuất nắng ban trưa
Đôi tình nhân còn dạo phố chiều mưa???
Hay còn lại những cành khô lá rũ


Mang tâm sự những đêm dài không ngủ
Ôm nổi buồn viễn xứ nhớ cố hương
Rồi một ngày tạm biệt những người thương
Không còn thấy bầu trời xanh đất mẹ

Vầng trăng sáng đêm nay buồn da diết
Chợt nỗi lòng tha thiết nhớ quê hương
Dẫu bây giờ có cách biệt nghìn phương
Tim ta vẫn trọn mối tình chung thủy


Nổi nhớ Quê hương

🔷🔷🔷🔷🔷🔷🔷🔷🔷🔷🔷

Bằng Sơn

Ủ GIỌT TÀN ĐÔNG (NHẤT PHƯƠNG)

 


Ủ giọt tàn Đông

      Nhất-Phương


Nước ở phương nào nước tới đây?

làm mưa ướp trái sầu trên cây

màn mưa luân vũ, màn hư ảo

ủ giọt Đông tàn dưới vạt mây

 

Từng giọt ru êm tiếng hát buồn

ngoài kia lịm tím ánh chiều vương

gió lay, lá uốn mình ôm gió

mấy vạn năm dài gió có thương?

 

Tiếc thay nhánh lá đau vì gió

ngơ ngác đường quen, lây lất bay

dấu vết thời gian mòn mỏi đó

bao mùa bão cũ đến hôm nay

Mùa chuyển thầm khơi gợi nỗi niềm

làm sao xóa bóng chìm trong tim

phủ mớ Đông tàn lên bóng nhạt

 cuốn mối tơ làm chỉ rối thêm

 

Nước giữa lưng chừng nước cứ rơi

mênh mong vời vợi tiếng không lời

chim ngủ, lạnh lùng quên điệu hót

muôn thú xa dần những cuộc chơi

…………………………………………………

Đông khứ, Đông tàn.  Xuân đáo Xuân

Dường nghe chim trở giấc ngoài sân

Khóm hoa Thiên Điểu tươi màu lá

Khoát áo hoàng kim, thở rất gần.


     Nhất-Phương

 


TRONG ĐÊM (DIỆP THẾ HÙNG)

 

TRONG ĐÊM

 

Tác giả xin chia sẻ với các bạn bài thơ song thất lục bát dưới đây nói lên một tâm trạng của một người yêu cô đơn. Yêu thì vui ít, buồn nhiều, nhưng không yêu chỉ cô liêu suốt đời. Bởi vậy trong đời sống, ta phải yêu để có một người để trông ngóng, một người để mơ tưởng.

Tác giả chắc chắn là ai trong chúng ta cũng có một tình yêu. Tình yêu có khi là tình câm nín, có khi là tình đơn phương, nhưng trong bất cứ trường hợp nào, tình yêu vẫn là một mộng mơ nuôi sống con tim của chúng ta.

 

TRONG ĐÊM 


Trong bóng tối, anh nằm trăn trở

Nghĩ đến em, nhung nhớ triền miên

Yêu em anh đã nhiều phen

U sầu anh chịu, ưu phiền anh mang

 

Trong tâm khảm ngổn ngang kỷ niệm

Hình ảnh em về chiếm tâm can

Vườn anh hoa nở chưa tàn

Em đà rời khỏi để ngàn buồn đau

 

Em đã khóc giọt sầu trên má

Tinh trái ngang tất cả màu đen

Như đêm tăm tối không đèn

Thẩn thơ em để buồn len vào hồn

 

Đêm này nữa bồn chồn trong dạ

Ngày tháng qua anh quá cô đơn

Ngoài hiên gió thổi từng cơn

Như mùa đông vẫn còn hờn chưa đi

 

Yêu là chịu những khi chờ đợi

Những khi ngồi mong mỏi người yêu

Yêu thì vui ít buồn nhiều

Nhưng không yêu chỉ cô liêu suốt đời.

 

Diệp Thế Hùng (29 March 2022).

 

VƯƠNG NIỆM CHO EM (DƯ THỊ DIỄM BUỒN)

 


VƯƠNG MIỆN CHO EM.

 

“Tưởng nhớ phu quân tôi!

Sau 100 ngày, anh vĩnh viễn ra đi” DTDB

 

 

Vương miện trắng anh tặng em ngày cưới

Nét trang đài cài trên tóc cô dâu

Dưới bầu trời xanh lung linh nắng mới

Bạn bè chúc: “...Phải sống đến bạc đầu...”

 

Trong hạnh phúc anh rạng ngời ánh mắt

Em mỉm cười e thẹn nép vào anh

Đôi chim én lượn trời xuân ấm mát

Muôn hoa tươi thắm sắc nở đơm cành

 

Sau trăng mật anh ra đi biền biệt

Cờ Đỏ, Tháp Mười, Châu Đốc, U Minh

Là lính chiến trên “Bốn Vùng Chiến Thuật”

Có sá gì trong gian khổ tử sinh...

 

Những đêm đen ánh hỏa châu vàng võ

Tiếng súng đì đùng... vọng lại từ xa

Thương con thơ dại nằm nôi bé nhỏ

Cả năm cha chưa trở lại thăm nhà

 

Những chiếc trực thăng tải thương lên xuống

Xe cứu thương hụ còi chạy ngược xuôi...

Nghe tiếng khóc than, lòng em luống cuống

Chị hàng xóm chồng lính mới lìa đời!

 

Cô đồng nghiệp chồng ra đi vĩnh viễn

Mấy hôm trước trong trận chiến Chợ Bưng

Đến thăm bạn cõi lòng nghe đau điếng

Bên quan tài, chị khô mắt lệ rưng

 

Nhìn nỗi khổ người tâm tư xao xác

Thấy cảnh thương đau chợt nghĩ đến ta

Giặc gây chiến tranh, quê hương tan tác

Cầu an bình cho lính trận miền xa...

 

Quê hương vẫn dằng dai trong cuộc chiến

Thương cô phụ héo hắt nỗi chờ mong

Những chàng trai bôn ba ngoài giới tuyến

Vợ chiến binh luôn thấp thỏm, phập phồng

 

Đoàn quân anh về giải tỏa An Lộc

Mấy tháng ngóng trông vắng bặt tin thư

Tiếng súng xa xa, rầu lo em khóc!

Con vô tư nhìn mẹ nhoẻn miệng cười

 

Bình Long vẫn còn trong cơn ác chiến

Trực thăng lên xuống bệnh viện Cộng Hòa

Đã bao tuần anh bị thương chuyển đến...

Trầm trọng hôn mê ngày lại ngày qua

 

Gần cả năm trị thương, anh giải ngũ

“Cấp độ tàn phế bảy chục phần trăm!”

Hai phần thân... gởi chiến trường năm cũ

Mấy mươi năm, cố quán chẳng về thăm

 

Xứ người tự do, nhân quyền, hạnh phúc

Nuôi dạy các con nối nghiệp cha ông

Tội dân Nam vẫn còn trong tù ngục

Mang kiếp tha hương không thẹn với lòng

 

Ngày anh đi... tóc em cài vương miện!

Không bằng hoa trắng, phủ chiếc khăn sô!

Vĩnh viễn biệt ly nghẹn ngào đưa tiễn

Vương miện cho em, anh liệm dưới mồ!

 

Dư Thị Diễm Buồn

 

Email: dtdbuon@hotmail.com

 

 

BIỂN CỦA NGƯỜI VƯỢT BIỂN (NGUYỄN THỊ THANH DƯƠNG)

 


BIỂN CỦA NGƯỜI VƯỢT BIỂN.

 

Biển đẹp hay xấu, biển vui hay buồn,

Biển kỷ niệm của mỗi người mỗi khác,

Dù biển nào cũng màu xanh cát trắng,

Dù biển nào cũng vô tận bao la..

 

Biển của người Việt Nam tìm tự do,

Là bao gian nan là bao ác mộng,

Từ con sông nhỏ, dòng sông nước ngọt,

Đưa người ra biển, biển mặn mù khơi..

 

Giã từ cửa biển nước lợ đôi nơi

Sông và biển đã gặp nhau hòa hợp,

Tàu đi âm thầm không người đưa tiễn,

Biển đã xa sông, người đã xa nhà....

 

Biển của người vượt biển không là thơ,

Ngày và đêm cuộc hành trình mạo hiểm,

Mây trời xanh cũng làm người nghi vấn,

Ánh sao khuya soi muôn dặm hãi hùng.

 

Giữa biển trời  chiếc tàu nhỏ lênh đênh,

Sóng gió yên người chưa yên lo sợ,

Bọn hải tặc hại người và cướp của,

Bao oan hồn vất vưởng ở biển Đông.

 

Giữa biển trời cuộc hành trình cô đơn,

Một chiếc tàu và bao nhiêu sinh mạng,

Họ trôi theo tiếng thét gào của biển,

Tiếng họ thét gào biển có nghe không?

 

Biển của người vượt biển là tử thần,

Từng ngọn sóng cũng có mầm ác độc,

Từng ngọn gió cũng trở thành tàn nhẫn,

Tàu chòng chành chìm khuất giữa biển khơi.

 

Biển của người vượt biển là  cuộc chơi,

Không ai biết được điều lành điều dữ,

Tàu khát vọng vượt qua từng hải lý,

Bến bờ vui ai sẽ đến ai không?

 

Bao nhiêu năm nữa biển vẫn màu xanh,

Đẹp cho đời thường cho người thơ mộng,

Bao nhiêu năm nữa biển còn dậy sóng,

Trong lòng những người vượt biển năm xưa.

 

Nguyễn Thị Thanh Dương.


LỜI TẠ ƠN THAY CHO MỘT NGƯỜI (KIM LOAN)

 

Chú thích hình: KimLoan và anh Hai chụp năm 1995

 

LỜI TẠ ƠN THAY CHO MỘT NGƯỜI

 

Gia đình tôi có tám anh chị em, anh Hai tôi là con trai lớn, sau bà chị Cả. Trước năm 1975, ba tôi làm Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà, má tôi mở quán cà phê giải khát tại nhà, đối diện khu Lục Quân Công Xưởng ở Hạnh Thông Tây, Gò Vấp.

Anh Hai, là con trai trưởng, đã sớm ý thức việc học hành để làm gương cho lũ em nhỏ, hầu sau này tiến thân, không phải vất vả. Anh học rất giỏi, vì yêu thích Y Khoa, anh vào học Khoa Học Sài Gòn. Nhưng vì Mùa Hè Đỏ Lửa tổng động viên năm 1972 anh phải từ bỏ giấc mộng Bác Sỹ, vào trường Sư Phạm. Miền Nam bị cưỡng chiếm, đưa biết bao người vào bước ngoặt mới của cuộc đời, trong đó có gia đình tôi. Má tôi mất sau đó một tháng, ba đi cải tạo về chưa có việc làm, mọi việc trong nhà đều đặt nặng trên vai bà chị Cả và anh Hai vì lũ chúng tôi còn trong lứa tuổi ăn chưa no lo chưa tới.

 

Lúc đó anh đang dạy học ngoài Cần Thơ, nhưng là thủ lĩnh tinh thần của cả nhà. Một vài tuần anh bắt xe về thăm nhà, dặn dò mọi điều, rồi trở về Cần Thơ. Anh cũng là người cương quyết không cho gia đình nghe lời dụ dỗ và ép uổng của chính quyền đi kinh tế mới. Và cũng chính anh, là người nhen nhóm trong nhà tôi hai chữ “vượt biên”, vì như theo lời anh nói, “không thể sống chung với cộng sản”.

 

Lần đó anh về thăm nhà như thường lệ, rồi họp cả gia đình, báo tin buồn, anh bị “trúng tuyển nghĩa vụ quân sự” theo chỉ tiêu của nhà trường để đáp ứng nhu cầu gửi quân qua biên giới Campuchia. Bà chị Cả khóc lóc, ba tôi rầu rĩ, mấy anh em khác thì lặng im che dấu nỗi buồn, nhưng anh Hai tôi mỉm cười cho mọi người lên tinh thần. Sau đó anh nói:

- Đây chính là cơ hội để con tìm đường đi bộ qua biên giới, vào Thailand tỵ nạn, xin mọi người bình tâm mà cầu nguyện cho đầu xuôi đuôi lọt.

Nói rồi anh lấy trong túi xách ra tấm bản đồ biên giới Campuchia-Thailand mua ngoài chợ trời. Tấm bản đồ bằng Tiếng Anh, nhưng với vốn liếng mấy năm học ở Hội Việt Mỹ trước năm 1975, và giáo viên dạy Anh Văn tại trường Phan Thanh Giản Cần Thơ, thì tờ bản đồ anh xem không khó gì. Anh vẽ chi chít và ghi chú cẩn thận trên bản đồ, và chỉ cho mọi người xem dự tính của anh, sẽ đào ngũ, đi qua Siêm Riệp, rồi từ đó theo đường mòn biên giới vào Thái. Nghe anh nói ngon ơ, nhưng ai cũng biết là biết bao hiểm nguy chờ đợi. Bọn Khmer Đỏ còn rình rập giết chóc, đường rừng ngập các bãi mìn, chưa kể là lính đào ngũ còn bị quân đội Việt Nam tìm bắt ráo riết, chạy đâu cho thoát.

 

Cả nhà ngày đêm cầu nguyện, lắng lo thì bỗng ba tuần sau anh về nhà, báo tin vui, vì nhà trường cần những giáo viên giỏi như anh, nên đã xin đặc biệt cho vài giáo viên được tạm hoãn thi hành “nghĩa vụ quân sự”.

 

Sau lần đó, anh vẫn kiên quyết tìm đường vượt biển, nên mùa hè năm tới anh ra khơi, và xui xẻo thay, cả nhóm bị bắt khi đang chờ tàu lớn, rồi bị giam lại Long Đất chín tháng trời. Khi ra tù, anh mất việc, mất cả hộ khẩu nên tìm về Sài Gòn, ở nhà “ ăn không ngồi rồi” đợi chờ cơ hội tiếp theo. Trong thời gian này, anh lại đi tìm ngoài chợ trời mua sách của Hải Quân VNCH, và la bàn đi biển để học cách làm hoa tiêu. Anh vào thư viện tìm thêm tài liệu, lục lọi các tiệm sách cũ…và rồi cuối cùng, nhờ bạn bè giới thiệu với một chủ tàu, anh được mời đi vượt biên miễn phí với tư cách là hoa tiêu. Họ còn cho anh dẫn theo một người, mà trong gia đình tôi lúc đó, tôi là “ứng cử viên” sáng giá nhất cho chuyến đi vì tuổi mới lớn, vừa bước vào trung học, có cơ hội học tiếp khi qua Mỹ. Anh đã trằn trọc mấy đêm liền, không biết có nên mang tôi đi theo hay không. Vì lúc đó thời tiết bị ảnh hưởng bão nên mưa gió, ngoài biển đâu phải lúc nào cũng êm ả. Mà chuyện đi vượt biên thì đầy may rủi, “con nuôi má” thì ít, mà “con nuôi cá” và “má nuôi con” cũng chẳng hiếm, chưa kể nạn cướp biển đang hoành hành. Xóm tôi cũng đã có mấy gia đình cho con cái đi mà chẳng bao giờ đến nơi, cũng không trở về nhà.

 

Đêm cuối cùng trước khi ra biển, anh thao thức đến khi trời gần sáng. Không ngủ được, anh ra ngoài phòng khách tìm nước uống. Khi đi ngang qua chiếc giường thấy tôi đang ngủ say, bên cạnh là chiếc bàn học của tôi sách vở xếp gọn gàng với chiếc cặp táp chuẩn bị đến trường ngày mai. Thế là anh quyết định dứt khoát, anh sẽ ra đi một mình, để tôi được tiếp tục những ngày tươi đẹp hồn nhiên của tuổi học trò. Vì anh là “mạng cùi”, không còn gì để mất, còn tôi là “mạng vàng”, mới lớn ngây thơ, anh không dám mang ra biển cả gian nguy, bấp bênh.

 

Trời không phụ lòng người, chuyến đi may mắn thành công, cập bến Bidong, Malaysia dù anh mới lần đầu làm hoa tiêu. Thuyền vừa vào bờ đất Mã, mọi người sung sướng lạy trời lạy đất cảm tạ, còn anh thì xót xa day dứt khi để tôi ở lại nhà. Suốt thời gian ở trại, mỗi lần ra cầu Jetty đón người mới đến, hay khi đứng trên lớp dạy Tiếng Anh cho đồng bào tỵ nạn, anh vẫn chưa nguôi nỗi buồn tiếc nuối đó. Vì vậy, anh quyết tâm bằng mọi giá, sẽ bảo lãnh toàn bộ gia đình qua Mỹ trong thời gian sớm nhất.

 

Từ trại tỵ nạn, anh đến định cư tại thành phố Wichita, Kansas là bắt đầu tìm hiểu chuyện học đại học. Giấc mơ Y Khoa năm nào chợt bừng sống lại, nhưng ở độ tuổi ngót nghét ba mươi, chương trình học Y vừa dài vừa tốn kém. Vì mục tiêu lớn hơn là cứu gia đình còn kẹt lại Việt Nam, một lần nữa, anh phải từ bỏ ước mơ của mình, vào học ngành Engineer. Anh vừa đi học vừa đi làm cuối tuần để một vài tháng “tiếp tế” cho gia đình một thùng quà giá trị. Hàng xóm chung quanh hay nói với tôi:

- Nhà người ta có con gái qua Mỹ gửi đồ về là hãnh diện lắm, vì con gái biết thu vén tối đa cho gia đình. Còn nhà cô, chỉ cần một ông anh thôi cũng bằng hai, ba cô con gái nhà người ta cộng lại.

 

Nhờ thông minh, siêng năng cần cù, dù vừa học vừa đi làm, anh tốt nghiệp Electrical Engineer với điểm xuất sắc (Cum Laude), được chọn ghi tên vào cuốn sách Who’s Who Among Students in American Universities. Vừa ra trường, anh đầu quân cho hãng Boeing, sau làm cho Kelly Air Force Base ở San Antonio, Texas. Khi Base này đóng cửa anh chuyển qua Tinker Air Force Base ở Oklahoma, rồi lại qua Defense Contract Management Agency (DCMA) under U.S. Department of Defense tai Dallas, Texas cho đến ngày nay.

 

Ngay khi vừa vào đại học, anh đã bắt tay vào việc làm hồ sơ bảo lãnh gia đình. Trong khi nhiều người bạn học khác chỉ lo học hoặc đi làm, chưa thấy được tầm quan trọng của việc bảo lãnh thân nhân, thì anh đã xúc tiến từng bước thủ tục. Anh tự tìm hiểu qua phone hoặc trên giấy tờ (thuở ấy chưa có internet để lên mạng dễ dàng như ngày nay). Không cần đến văn phòng luật sư, anh sử dụng khả năng English của mình rất kiên nhẫn, tự tin, theo dõi cập nhật hồ sơ một cách khoa học, đúng trình tự.

 

Cuối năm 1989, vì nôn nóng không thể đợi giấy tờ bảo lãnh hiệu lực, gia đình đã cho tôi đi vượt biên, và tôi đến trại tỵ nạn Panatnikhom, Thailand. Nghe tin tôi đến trại, anh mừng rỡ vô cùng. Mỗi tháng anh gửi tiền chu cấp đều đặn. Khi những người xung quanh tôi, cũng có thân nhân nước ngoài, người thì nhận tiền nhỏ giọt, người thì tháng có tháng không, còn tôi thì cứ tuần đầu tháng là có thư, vì cứ mỗi ngày mồng một của tháng, anh hoặc vợ anh (lúc ấy anh mới lập gia đình) đi gửi tiền, suốt bốn năm như thế, chưa trễ một lần nào.

Đặc biệt, lúc đó, anh tôi còn “nổi tiếng” trong trại, ít nhất là khu tôi ở, vì sự chăm lo “có một không hai” dành cho cô em gái là tôi. Sợ tôi bị rớt thanh lọc, anh bảo tôi cứ bình tĩnh để anh tìm cách, chứ dứt khoát không để tôi phải quay về Việt Nam. Anh nghĩ ra cách đăng trên mục “Tìm Bạn Bốn Phương” của Mỹ giùm tôi, với ước mong sẽ tìm được một người nào đó, tốt đẹp, và biết đâu sẽ tiến xa hơn, đưa tôi qua khỏi cuộc thanh lọc. Nên mới có chuyện một buổi sáng kia, cả dòng người xếp hàng chờ thư bên bưu điện xôn xao vì tôi có hơn 20 lá thư trên list, mà toàn là từ Mỹ và tên người gửi cũng là tên Mỹ. Nhưng rồi giải pháp đó cũng chẳng có kết quả gì.

 

Còn nữa, sợ viết trong thư không thể nói hết về nước Mỹ để tôi mở mang kiến thức, anh còn ngồi thâu băng cassette, kể chuyện nước Mỹ cho tôi nghe. Kể về thành phố Wichita thời sinh viên của anh, về thành phố San Antonio nơi gia đình anh đang sinh sống, về các trường đại học, về cuộc sống người Việt và người Mỹ, về mọi thứ trên đất Mỹ. Đêm đêm tôi mở cuộn băng “Nước Mỹ” cho cả lô nhà cùng nghe (bằng cái máy cassette nho nhỏ chạy bằng loại battery có thể rechargeable anh gửi). Mọi người nằm nghe say mê, rồi đi vào giấc mộng êm ái mơ màng với nước Mỹ bên kia bờ đại dương. Một hôm, có người tìm đến căn nhà tỵ nạn tôi, hỏi lớn:

- Cô Loan ơi, cho tôi mượn cái băng cassette.

- Băng ca sỹ Ngọc Lan hả anh? (Vì chị dâu tôi cũng hay gửi băng nhạc cho tôi nghe, bà con xung quanh cũng hay qua mượn)

- Khồng…ồng …!! Tui muốn cái băng “Nước Mỹ” mà anh cô kể chuyện hấp dẫn đó.

 

Trời! Tôi đâu ngờ sự “nổi tiếng” của anh tôi đã vượt ra khỏi lô nhà tôi đang ở, mà lan truyền qua cả những lô khác. Cho người đó mượn băng “Nước Mỹ” hơn hai tuần chưa thấy trả lại, tôi đến tìm, họ xin lỗi bằng cách cười trừ, rồi khai thiệt là đã chuyền tay cho người này, người nọ cùng nghe. Cuối cùng, tôi tìm được nhà chú kia, người thứ bao nhiêu sau khi chuyền tay cũng chẳng nhớ. Chú ấy phân trần:

- Chẳng dấu gì cô, tui cũng có thằng con bên Mỹ. Tiền viện trợ nó gửi còn thưa thớt, tháng nhớ tháng quên, chớ đừng nói gì đến chuyện kể về nước Mỹ cho tui nghe.

- Dạ, vậy bây giờ chú nghe băng “Nước Mỹ” xong chưa, cho con xin về cho người khác mượn.

- Cô để thủng thẳng tui nói hết đã chứ. Tuần sau cô quay lại lấy được không, vì tôi đem cuốn băng đó ra tiệm nhờ sang ra hai ba cuốn, mà họ làm chưa xong!

- Úi trời, chú sang ra hai ba cuốn làm gì?

- Thì để cho bà con chung trại cùng nghe, và một cuộn tôi sẽ gửi về Việt Nam cho vợ con tui biết về nước Mỹ, cô thông cảm nha!

 

Nhờ may mắn, có thêm sự “cố vấn” của anh, tôi đã vượt qua cửa ải thanh lọc, nhưng “phúc bất trùng lai”, tôi bị phái đoàn Mỹ từ chối tại cuộc phỏng vấn, và theo lời khuyên của anh, tôi xin định cư bên Canada. Vừa qua Canada chưa kịp nóng chỗ, anh tôi đã lên ngay chương trình “giải cứu” tôi qua Mỹ, nhưng “người tính không bằng trời tính”, tôi có nợ có duyên với xứ lạnh tình nồng cho đến nay.

Trong thời gian bốn năm tôi bị kẹt bên trại, gia đình tôi bên Việt Nam lần lượt đi qua Mỹ theo diện ODP bảo lãnh của anh tôi. Vậy là anh đã thoả mãn ước mong, không còn một thân nhân ruột thịt nào còn lại với chế độ Cộng Sản. Mấy người bạn cũ thời đại học Wichita của anh, có người lận đận mãi mới đưa được người nhà qua đây, thậm chí có người vẫn còn cha mẹ bên quê nhà, chỉ vì hồi đó chủ quan và…làm biếng! Họ nói với anh:

- Tụi tôi phục ông sát đất! Không tốn một đồng xu nào cho luật sư mà đưa được cả gia đình anh chị em qua đây đầy đủ. Hồi đó tụi tôi không chịu nghe lời khuyên của ông, giờ hối hận thì đã muộn!!

 

Là người đi trước, anh hướng dẫn, chỉ bảo kinh nghiệm cho các anh chị em trong nhà những bước đầu hội nhập trên xứ Mỹ. Tới đám con, cháu, thế hệ thứ hai, anh luôn khuyến khích hướng tới các ngành đại học danh giá, dễ kiếm việc, nhất là Y Khoa, mà anh đã phải từ bỏ.

Anh là cuốn “Từ Điển Bách Khoa” của đại gia đình tôi với trí nhớ dẻo dai, hiểu biết rộng và chính xác. Mỗi lần qua Mỹ, tôi say sưa ngồi nghe anh nói chuyện hàng giờ mà vẫn chưa đủ. Tên quốc tịch của anh là David, và tôi hay gọi một cách thân thương là “anh Dave thông thái của chúng ta”. Riêng kiến thức về nước Mỹ thì anh có thể nói không cạn đề tài. Ngoài lãnh vực chuyên môn nghề nghiệp, còn có chuyện chính trị, xã hội, y tế …vì anh là một công dân Mỹ gương mẫu, yêu nước Mỹ và tự hào về nước Mỹ. Các gia đình anh chị em chúng tôi (kể cả tôi bên Canada) đều treo tấm bản đồ nước Mỹ trong nhà, là món quà đầu tiên anh tặng cho mỗi gia đình.

Cứ ngỡ anh đã an phận vì “giấc mơ Mỹ Quốc” của gia đình mình đã trọn vẹn, nhưng anh vẫn quan tâm giúp đỡ những người quen khác còn ở Việt Nam. Hàng năm vào dịp Tết, anh đều đặn gửi tiền cho vài hàng xóm vẫn còn lao đao nghèo khó. Chị Nga Sún bán khoai luộc đầu xóm mỗi lần nhận tiền đều cười vui vẻ, khoe:

- Ôi, hồi đó mỗi lần ảnh từ Cần Thơ về xóm là chiều chiều đi ngang qua nhà tui. Thằng con tui thấy ảnh về là ôm bài tập qua hỏi thầy giáo liền á!

Bác Sương kế bên nhà tôi ngày xưa phát biểu:

- Nói thiệt, hồi đó tui chỉ mong cậu ấy ngắm nghía con gái tui là tui bắt về làm rể. Ai ngờ, cậu ấy ôm mộng vượt biên!

Riêng tôi còn nhớ chị Quỳnh Giao, xinh đẹp thuỳ mị nhất nhì trong xóm, có lần đến thăm anh khi anh mới về thăm nhà. Hai người ngồi ngay phòng khách nói chuyện tới khuya. Chiếc giường ngủ của tôi kế bên đó, tôi chỉ nhắm mắt giả vờ ngủ, để nghe được những câu dịu dàng nũng nịu chị đã trách móc anh tôi:

- Lần nào anh về cũng không có thời giờ qua nhà thăm em sao? Em chờ hoài chẳng thấy nên đành phải…xuống nước qua đây tìm anh đó, anh hiểu không?

Hình như anh tôi có cười xin lỗi, và chắc sau này chị ấy đã hiểu, anh phải gạt bỏ chuyện tình yêu để ưu tiên cho chuyện vượt biên, tìm tương lai tươi sáng và lo cho gia đình.

 

Với những học trò trường Phan Thanh Giản xưa và những họ hàng xa ngoài miền Bắc, anh làm theo phương châm “giúp họ câu cá tốt hơn là cho họ cá”, vì quà cáp cho họ anh cũng vẫn làm, nhưng biết bao giờ mới đủ? Ai đang độ tuổi kết hôn, hoặc đã dang dở hôn nhân, nếu có ước muốn, anh đều giúp bước đầu bằng cách đăng mục Tìm Bạn Bốn Phương của Mỹ (kiểu này nhanh hơn Tìm Bạn Bốn Phương với Việt Kiều). Sau đó tuỳ theo duyên phận của từng người, mà kết quả cũng có vài mối lương duyên Việt-Mỹ, đang có happy ending trên đất Cờ Hoa.

 

Mới đây trong lần Family Reunion bên Texas nhân dịp đám cưới đứa cháu, tôi hỏi đùa anh:

- Giờ anh có còn muốn đưa ai qua Mỹ nữa không nà?

Anh cười lớn:

- Nếu được, anh ước gì mang toàn dân Việt Nam qua đây, cho họ nếm mùi “tư bản rẫy chết” của Mỹ, nhưng coi bộ khó quá. Thôi thì chỉ cầu mong cho quê hương mau dẹp tan cái đảng Cộng Sản ăn hại, cho người dân được nhờ.

 

KIM LOAN