Showing posts with label SỨC KHỎE.. Show all posts
Showing posts with label SỨC KHỎE.. Show all posts

Sunday, September 13, 2026

ĐỪNG ĐỢI KHỎE MỚI ĐI, MÀ PHẢI ĐI ĐỂ MÀ KHỎE (THÁI LAN NỮ- CHUYỂN TIẾP)

 


ĐỪNG ĐỢI KHỎE MỚI ĐI, MÀ PHẢI ĐI ĐỂ MÀ KHỎE
Đây là sai lầm lớn nhất của 90% người già chúng ta, và tôi cũng đã từng mắc phải.
"Khi nào hết đau chân rồi tôi sẽ đi bộ."
"Khi nào hết chóng mặt rồi tôi sẽ ra công viên."
"Khi nào khỏe hẳn rồi tôi sẽ đi gặp bạn bè."
Tôi đã đợi. Và càng đợi, tôi càng yếu.
Cho đến năm 70 tuổi, tôi mới ngộ ra một chân lý ngược đời nhưng đúng đến xót xa: Đừng đợi khỏe mới đi. Phải đi thì mới khỏe được.
CÁI GIƯỜNG LÀ NƠI GIẾT CHẾT NGƯỜI GIÀ NHANH NHẤT
Các nhà khoa học Mỹ đã làm một thí nghiệm rùng mình: Cho một người già khỏe mạnh nằm trên giường chỉ 10 ngày không vận động.
Kết quả: Cơ bắp của họ mất đi 1kg. Xương loãng đi tương đương 10 năm lão hóa. Và trí nhớ giảm sút như người mất ngủ 3 đêm liên tục.
Cái giường êm ái chính là nấm mồ êm ái nhất.
Tôi có một người bạn, bằng tuổi tôi. Anh ấy bị ngã trẹo chân. Bác sĩ bảo nghỉ 2 tuần. Anh ấy nghỉ luôn 2 tháng cho "chắc ăn". Sau 2 tháng, chân anh ấy khỏi trẹo, nhưng đôi chân đã quên luôn cách đi vững. Bây giờ anh ấy phải chống gậy suốt đời, không phải vì cái chân trẹo, mà vì 2 tháng nằm yên.
Người già chúng ta: Nằm một ngày, yếu một ngày. Nằm một tuần, mất một tháng sức khỏe. Đó là quy luật.
ĐÔI CHÂN LÀ TRÁI TIM THỨ HAI, NHƯNG TA LẠI BẮT NÓ NGHỈ HƯU SỚM NHẤT
Cả cơ thể ta, tim đập suốt đời không dám nghỉ. Phổi thở suốt đời không dám nghỉ. Chỉ có đôi chân, 60 năm cõng ta đi khắp thế gian, đến 70 tuổi ta lại cho nó nghỉ hưu.
Ta thương nó nên không bắt nó đi. Nhưng ta không biết, đôi chân càng nghỉ, nó càng nhanh chết.
Bàn chân có hơn 7.000 dây thần kinh nối thẳng lên não. Mỗi bước chân ta đi là một lần não được mát-xa.
Người già không đi bộ, não sẽ teo lại rất nhanh. Đó là lý do vì sao người nằm nhiều hay lú lẫn, hay quên.
Bạn có để ý không? Những cụ 80-90 tuổi ở quê mà vẫn minh mẫn, nói chuyện vanh vách, đều là những cụ sáng nào cũng ra đồng, chiều nào cũng đi bộ quanh làng. Không có cụ nào nằm trong nhà mà minh mẫn cả.
Muốn đầu óc sáng, phải bắt đôi chân làm việc.
ĐI RA NGOÀI KHÔNG PHẢI LÀ ĐI CHƠI, MÀ LÀ ĐI TÌM THUỐC
Nhiều người nghĩ đi cà phê với bạn già là tốn thời gian, là ăn chơi.
Không. Đó là đi uống thuốc.
Viên thuốc mang tên "Tiếng Cười".
Ở nhà một mình, ta đối diện với 4 bức tường, với huyết áp, với tiểu đường, với nỗi lo con cháu. Bệnh nào cũng nặng thêm.
Ra ngoài công viên, gặp ông bạn già chửi nhau một trận về ván cờ, rồi cười ha hả. Nụ cười ấy tiết ra một chất gọi là Endorphin, nó mạnh hơn cả viên thuốc giảm đau Paracetamol.
Viên thuốc mang tên "Nắng Sớm".
Nắng 7 giờ sáng cho ta Vitamin D miễn phí, giúp xương chắc, giúp ngừa ung thư. Nằm trong nhà uống Vitamin D 1 triệu một lọ, không bằng ra sân phơi nắng 15 phút.
Viên thuốc mang tên "Được Nhìn Thấy".
Về già, nỗi sợ lớn nhất không phải là ốm, mà là bị lãng quên. Ra ngoài, có người chào: "Ông Hoa đi tập thể dục à?" - Chỉ một câu chào đó thôi, ta biết mình vẫn còn tồn tại, vẫn còn được người đời nhìn thấy. Ta vui cả ngày.
VẬY NÊN, TỪ NGÀY MAI, XIN ĐỪNG ĐỢI NỮA.
Đừng đợi hết đau chân mới đi. Hãy đi khập khiễng cũng được, đi chậm cũng được, nhưng phải đi. Vừa đi vừa xoa, chân sẽ hết đau.
Đừng đợi con cháu rảnh mới đi. Hãy tự xách xe đạp, tự bắt xe buýt mà đi. Độc lập chính là tự do.
Đừng đợi có bạn rủ mới đi. Hãy cứ ra công viên ngồi một mình. Ngồi một mình 3 hôm, khắc sẽ có bạn.
Tôi 71 tuổi, mỗi sáng vẫn đi 3.000 bước. Không phải vì tôi khỏe. Mà vì tôi biết, nếu hôm nay tôi không đi, ngày mai tôi sẽ phải nằm.
KẾT LẠI MỘT CÂU THÔI, XIN HÃY NHỚ:
Tuổi trẻ, ta dùng sức khỏe để kiếm tiền.
Tuổi già, ta phải dùng tiền để mua lại sức khỏe, nhưng không mua được.
Chỉ có một cách duy nhất để có sức khỏe ở tuổi này: Đó là ĐỨNG DẬY VÀ ĐI.
Đi để mà khỏe. Chứ đừng đợi khỏe mới đi.
Sáng mai, bạn có đi không?

Saturday, August 15, 2026

NỖI LO SỢ CỦA TUỔI GIÀ- BỆNH LÚ LẪN ALZHEIMER (BS. NGUYỄN THƯỢNG CHÁNH & DS. NGUYỄN NGỌC LAN)



 Nỗi Lo Sợ Của Tuổi Già – Bệnh Lú Lẫn Alzheimer.

Đây là một bài tóm lược từ một tài liệu học tập (formation continue) của công ty dược phẩm Apotex Canada gởi cho dược sĩ tại Québec.
(Pharma Conseils – Volume douze / Numéro trois – Automne 2008: «Mise à jour sur la maladie d’Alzheimer»)
Bài viết nầy chỉ để phổ biến kiến thức khoa học chớ không có mục đích để chẩn đoán hay chữa trị.
Mọi thắc mắc hay nghi vấn về cách chẩn đoán hay chữa trị bệnh Alzheimer, xin quý bạn hãy tham khảo trực tiếp với bác sĩ gia đình của quý bạn.
NTC & NNL

* * *



Ngày xưa ở Việt Nam, tác giả cũng đã từng gặp rất nhiều bác lớn tuổi đi chơi trong xóm nhưng lại không biết đường về nhà, hoặc có khi thì con cái đã dọn cơm ăn rồi nhưng lại trách móc là tụi nó chưa dọn cơm ăn… Thuở đó, mình cứ nghĩ rằng hễ già cả rồi thì ai cũng có thể bị lú lẫn như vậy hết, và có người bị nặng có người bị nhẹ. Chỉ đơn giản vậy thôi!
Cho đến sau ngày định cư tại Canada năm 1980, mình mới được nghe đến cái tên Alzheimer lần đầu tiên.
Đây là một căn bệnh của người già nên ít ai quan tâm đến như bệnh tim mạch, bệnh tiểu đường hay ung thư, vân vân.
Người Việt Nam mình dù cho sống ở đâu đi chăng nữa, cũng vẫn có thể bị vướng bệnh Alzheimer như mọi dân tộc khác trên quả địa cầu nầy…

Alzheimer: căn bệnh của thế kỷ.


Alzheimer là bệnh thoái hóa hệ thần kinh (neurodegenerative), và không thể nào làm hồi phục lại được.
Bệnh nhân dần dần sẽ bị mất trí nhớ, thay đổi tâm tánh cùng với sa sút trí tuệ.

Bệnh do Bác Sĩ Alois Alzheimer (Đức Quốc) tìm ra vào năm 1906 sau khi giải phẫu khám nghiệm một người đàn bà lớn tuổi đã chết vì chứng sa sút trí tuệ.
Quan sát não bộ cho thấy có sự hiện diện của rất nhiều mảng thoái hóa amyloides (neuritic plaques, plaques amyloides) nằm ở bên ngoài tế bào thần kinh chết, và những xoắn sợi thần kinh (neurofibrillary tangles, écheveaux neurofibrillaires) do protein Tau tạo ra nằm trong tế bào đó… Chính các mảng amyloides và các xoắn sợi thần kinh nầy đã làm tổn hại đến hệ thần kinh và ngăn trở sự dẫn truyền những mệnh lệnh… Dần dần đưa đến sự sa sút trí tuệ hay là sự mất trí nhớ hoặc còn được gọi là bệnh lú lẫn ở người già.
Đây là một hội chứng phức tạp vì bao gồm nhiều triệu chứng khác nhau như sự mất trí nhớ, mất khả năng phán xét hay lý luận, thay đổi nhân cách hay tâm tánh, cũng như hành động cử chỉ, v.v.
Trải qua nhiều thế kỷ, người ta vẫn thường tưởng rằng những triệu chứng kể trên là những giai đoạn bình thường trong tiến trình của sự lão hóa.
 


Cho mãi đến ngày nay, khoa học cho biết sự sa sút trí tuệ là hậu quả của nhiều căn bệnh khác nhau thí dụ như: đứng đầu là Alzheimer, kế đó là tai biến mạch máu não stroke, bệnh Parkinson, bệnh Hungtinton, bệnh Creutzfeldt–Jacob (còn gọi là bệnh bò điên), cancer não, chấn thương sọ não. Và cũng là hậu quả của sự lạm dụng rượu hay sự sử dụng một vài loại thuốc Tây, vân vân.
Thống kê cho biết, tại Canada hiện có 300.000 người bị bệnh Alzheimer.
Cứ 20 người tuổi trên 65 thì có một người bị bệnh Alzheimer. Theo ước đoán, vì tầng lớp người già không ngớt gia tăng thêm lên mãi, cho nên số bệnh nhân Alzheimer có thể lên đến 3 tới 4 triệu người vào năm 2031.
Hoa Kỳ hiện có 5.3 triệu bệnh nhân Alzheimer… Trong số nầy gồm có 5.1 triệu người trên 65 tuổi và 200.000 người bệnh dưới 65 tuổi.
Alzheimer không những chỉ tàn phá bệnh nhân mà thôi, mà nó còn gây ảnh hưởng nặng nề luôn đến sự sinh hoạt và cuộc sống gia đình của người thân ở chung quanh nữa.
Ngoài ra, cũng phải nói đến một gánh nặng về chi phí… y-tế !


Tại sao có bệnh Alzheimer?

Cho tới ngày nay, các nhà khoa học cũng chưa tìm ra được nguyên nhân thật sự của căn bệnh quái ác nầy. Họ nghi ngờ bệnh có thể là do:
- một loại virus có biến chuyển chậm (lentivirus);
- độc tố từ chất nhôm aluminium;
- ô nhiễm môi sinh (pesticides, nông dược);
- do hiện tượng tự miễn autoimmune;
- do di truyền (maladie d’Alzheimer familiale autosomique dominante), nghĩa là đã từng có xảy ra cho một người thân nào đó trong gia đình hay trong dòng họ qua nhiều thế hệ rồi, hoặc nếu cha mẹ mang gène Alzheimer thì con cái có thể có nguy cơ bị Alzheimer sau nầy.
Nhưng, hình như các nhà chuyên môn thiên về phía giả thuyết «protéine bất thường» nhiều hơn hết, trong đó protéine beta amyloide không hoà tan, đóng một vai trò then chốt trong sự làm phát sinh ra bệnh Alzheimer… Protéine nầy hiện diện một cách bình thường trong các tế bào thần kinh và cả trong tế bào của các cơ quan khác nữa.
Ở người khỏe mạnh bình thường, beta amyloide sẽ tự phân hủy và bị loại đi nên không thể tạo ra các mảng amyloide được. Còn đối với bệnh nhân Alzheimer, protéine beta amyloide không thể tự phân hủy mà còn kết hợp lại với nhau thành những mảng amyloides trong mô não.
Người ta cũng nhận thấy có sự tan biến tế bào thần kinh trong những vùng thuộc về trí nhớ, và các vùng tâm thần xung yếu khác của não bộ. Ngoài ra còn có sự tuột giảm nồng độ của acetylcholine là chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmitters).


Những giai đoạn của bệnh Alzheimer.



Bệnh Alzheimer có diễn biến chậm và tuần tự thông qua ba giai đoạn. Sự phân chia nầy rất cần thiết để giúp bác sĩ có một mô hình tổng quát của người bệnh, hầu có thể phát họa kế hoạch chữa trị thích nghi:

1/ Giai đoạn tiên khởi: Kéo dài từ 2 đến 4 năm.
Thỉnh thoảng hay quên việc nầy việc nọ.
Bệnh nhân than phiền khó tiếp thu được những thông tin từ bên ngoài, hoặc cảm thấy khó khăn để thi hành theo lời chỉ dẫn. Người bệnh cũng gặp nhiều trở ngại trong cách diễn đạt tư tưởng của họ, không thể tìm ra đúng chữ để sử dụng… Khó phân biệt giai đoạn nầy với giai đoạn lão hóa thông thường của mọi người, vì bình thường thì người già cũng hay quên những chi tiết nào đó hoặc những chuyện lặt vặt trong sinh hoạt hằng ngày.
Thay đổi nhẹ về nhân cách, thí dụ như tâm tánh bất thường, lo âu, trầm cảm, có khi giận dữ, mất đi sự hồn nhiên thường nhật, bớt tánh khôi hài thường nhật, từ từ sống khép kín hoặc rút ra khỏi các sinh hoạt quen thuộc.
Thêm vào đó là bệnh nhân không còn nhớ chi tiết việc gì đó từ việc nhỏ tới việc lớn.
Và sự mất trí nhớ càng ngày càng tăng thêm theo thời gian và theo sự tiến triển của bệnh.


2/ Giai đoạn trung gian: Kéo dài từ 2 đến 10 năm.
Suy thoái về các khả năng trí tuệ và thể xác.
Mất trí nhớ, quên cả quá khứ của mình, quên bạn bè là những ai, hoặc quên luôn cả người thân.
Không thể định hướng trong không gian và thời gian.
Một số bệnh nhân trở nên không thể… ở yên, cứ đi tới đi lui hay đi lang thang hoặc lai vãng từ chỗ nầy đến chỗ nọ mà không có mục đích rõ rệt. Mất sự tập trung tư tưởng. Giai đoạn nầy gây nhiều khó khăn cho những người có nhiệm vụ chăm sóc bệnh nhân.
Rối loạn trong việc sử dụng ngôn ngữ, khó khăn trong việc tìm chữ thích hợp để nói hay dùng những từ không chính xác.
Trở nên thù nghịch, chửi thề, chụp giữ, đánh cắn, đập phá, hung bạo với người xung quanh, bạn bè và cả với những người thân trong gia đình.
Tâm thần không ổn định, thường hay bực tức, la hét, hoảng loạn. Giấc ngủ bị xáo trộn, và sau đó thì rơi vào trạng thái trầm cảm.
Không thể sống một mình được, cần phải có người săn sóc một cách thường trực.


3/ Giai đoạn cuối cùng: Thường rất ngắn ngủi, chỉ kéo dài từ 1 đến 3 năm mà thôi.
Hay ngủ suốt ngày hay bất động. Không còn hiểu hay nhớ gì hết. Không còn biết phương hướng. Và cũng không còn nhận được người nhà.
Ăn uống không được, hay bị sặc, khó nuốt nên dễ bị mất cân và gầy ốm rất nhanh.
Mặt vô cảm không biểu hiện một cảm xúc nào hết. Không quan tâm đến môi trường xung quanh. Mất trí nhớ và mất khả năng trao đổi ý tưởng với người khác…
Hoặc trao đổi liên lạc với người khác không còn bằng lời nói mà chỉ qua ánh mắt hay bằng sự khóc la hoặc rên rỉ.
Quên bản thân, không tự săn sóc cho mình được thí dụ như rửa ráy, bận quần áo…
Nằm liệt giường, ỉa trây đái dầm (incontinence).
Và cuối cùng thì chết vì bị viêm phổi hay viêm thận hoặc vì một chứng bệnh nào khác.


Có thể lầm lẫn với hiện tượng lão hóa bình thường.

Alzheimer có biến chuyển rất chậm, vì vậy bệnh nhân cứ tưởng rằng tại mình già nên bị mất trí nhớ.
Đôi khi, những dấu hiệu bình thường của người già cũng là những dấu hiệu báo trước của bệnh Alzheimer nữa!
Có 10 dấu hiệu báo trước, hãy coi chừng!


http://www.alzheimer.ca/english/disease/warningsigns.htm


1) mất trí nhớ ngắn (memory loss that affects day to day function).
Không nhớ những việc gì mới xảy ra gần đây. Sự kiện nầy có thể xảy ra cho bất kỳ ai. Đôi khi tự nhiên mình quên phức đi một cái tên, một số điện thoại, v.v… Người bị Alzheimer cũng quên như thế nhưng họ không bao giờ nhớ trở lại được hết, và họ cứ hỏi đi hỏi lại hoài về một vấn đề mặc dù họ đã được trả lời rồi.


2) khó khăn trong đời sống hằng ngày (difficulty performing familiar tasks).
Thí dụ như không thể tự nấu cơm hay tự chuẩn bị một bữa ăn bình thường. Đôi khi làm xong nhưng quên lửng không dọn ra, hay quên là đã có chuẩn bị bữa ăn rồi.

3) khó khăn trong ngôn ngữ (problems with language).
Quên những chữ rất thường, sử dụng những từ không thích hợp khiến cho không ai hiểu nổi hoặc không có thể gọi đúng tên đồ vật.

4) mất định hướng trong thời gian và không gian (disorientation of time and place).
Bị lạc lối trên con đường trong xóm ở từ xưa nay. Không hiểu tại sao đang ở chỗ đó, và cũng không biết lối nào để trở về nhà.

5) không biết cách phán xét, hoặc phán xét quá thô thiển (poor or decrease judgment).
Một người bình thường còn khỏe mạnh đôi lúc cũng có thể bị lãng trí như quên không giữ cháu bé trong giây lát. Còn người bị bệnh Alzheimer thì quên tuốt luôn sự hiện diện của đứa nhỏ mà mình có trách nhiệm trông coi.

6) gặp khó khăn trước những khái niệm trừu tượng (problems with abstract thinking).
Ai cũng có thể gặp khó khăn trong việc theo dõi kiểm soát sổ trương mục tiết kiệm của mình. Người bị Alzheimer thì không còn hiểu ý nghĩa các số ghi trong cuốn sổ của họ và cũng không biết họ cần phải làm gì.

7) Để lạc đồ đạc (displacing things).
Cất giữ đồ vật trong những nơi không thích hợp, chẳng hạn như đem cất cái bàn ủi trong ngăn đá của tủ lạnh, hoặc đem cất cái đồng hồ trong keo đường, vân vân.

8) Biến đổi tâm tánh và thái độ (changes in mood and behavior).
Ai cũng có thể thay đổi tâm tánh hết, nhưng người mắc bệnh Alzheimer thì có cảm xúc không ổn định, tâm tánh của họ biến đổi rất mau, thí dụ như từ điềm tĩnh vui cười trước đó thì đổi sang giận dữ khóc lóc chỉ trong vòng đôi ba phút mà thôi.

9) Thay đổi nhân cách (change in personality).
Người bệnh Alzheimer có thể trở nên cau có khó chịu, đa nghi, e dè và lo âu. Có thái độ thù địch với mọi người kể cả người thân trong gia đình.

10) Mất hết sự ham muốn và sáng kiến (loss of initiative).
Tách rời ra khỏi cuộc sống, không muốn tham gia vào bất cứ một sinh hoạt nào hết. Sống thu hẹp lại, không quan tâm đến người hay việc khác, vân vân.


Có thuốc trị không?

Cho đến nay cũng chưa có một loại thuốc nào có thể chữa được hay chặn đứng lại được sự tiến triển của bệnh Alzheimer.
Chỉ có thuốc giúp làm giảm bớt được phần nào các triệu chứng của bệnh, cũng như giúp cho đời sống của bệnh nhân được dễ chịu phần nào hơn đôi chút mà thôi.
*/ Thuốc nhóm cholinesterase inhibitor:
Donepezil (Aricept)
Galantamine (Remynil, Razadine)
Rivastigmine (Exelon)
Tacrine (Cognex)
*/ Thuốc nhóm Receptor antagonist N-méthyl-D-aspartate (NMDA):


Tác dụng trên chất dẫn truyền glutamate. Được biết một sự thặng dư glutamate rất có hại cho tế bào thần kinh.
Mémantine (Ebixa, Namenda, Axura)


Có cách nào phòng ngừa không?


Hiện nay chưa có một dược phẩm nào khả dĩ có thể ngừa được bệnh Alzheimer cả.
Một nếp sống lành mạnh có thể giúp làm giảm nguy cơ xuất hiện bệnh Alzheimer ở người cao niên, chẳng hạn như:
+ phải luôn luôn vận động và linh hoạt trong cuộc sống thí dụ như làm vườn, đi bộ, tập thể thao thể dục thường xuyên;
+ ăn rau cải trái cây tươi đa dạng, sậm màu để có đủ vitamines và các chất chống oxy hóa antioxidants cũng như ăn nhiều cá để có chất Oméga-3…
+ bắt trí não làm việc thường xuyên, bằng cách kích thích não như đọc sách, đọc báo, viết văn, viết báo, gõ bài, chơi đánh cờ, ca hát, xếp ô chữ, vân vân;
+ tránh tình trạng bị căng thẳng tinh thần thái quá (stress);
+ tránh gây chấn thương sọ não;
+ giữ cho huyết áp, cholestérol và đường huyết luôn ở mức giới hạn bình thường;
+ giữ tốt đẹp các mối giao tiếp xã hội;
+ nhảy đầm hay khiêu vũ dưỡng sanh… Có thí nghiệm cho rằng nhịp điệu Tango có thể giúp bệnh nhân Parkinson và Alzheimer cải thiện sự phối hợp giữa các động tác một cách khá rõ rệt.
Có rất nhiều thí nghiệm khuyến khích sử dụng các thực phẩm bổ sung và thuốc thiên nhiên như vitamines E, B, acide folique, Selénium, Ginkgo biloba (bạch quả), v.v… để ngăn ngừa hay chữa bệnh trạng… Nhưng kết quả không rõ rệt và không chắc chắn cho lắm, cũng như còn thiếu nhiều thí nghiệm lâm sàng.
Nên nhớ là không có thuốc nào có thể chữa bệnh Alzheimer được hết kể cả thuốc thiên nhiên, thuốc Đông y, thuốc Bắc, vân vân. Và lang băm vẫn còn là vấn nạn trầm trọng hiện nay!
Thuốc Bexarotene trị cancer da cho thấy có khả năng cải thiện trí nhớ ở chuột – Có hy vọng gì ở người không?
* Video The Wall Street Journal Feb 9, 2012: Cancer drug shows hope for Alzheimer’s



Đầu tháng 2 năm 2012, Case Western Reserve Univ. School of Medicine (Cleveland, Ohio) có công bố khảo cứu dùng thuốc Targretin (Bexarotene), một loại thuốc trị cancer da rất hiếm ở người, đem thí nghiệm cho loài chuột đã chuyển đổi gen (genetically modified).
Kết quả sau 72 giờ, thuốc Targretin (Bexarotene) cho thấy làm giảm đi 50% mảng amyloides (plaques amyloides) trong não bộ và cải thiện trí nhớ của chuột một cách khả quan. Những mảng nầy là những dấu hiệu đặc thù gây ra bệnh lú lẫn Alzheimer.
Đây mới chỉ là một khám phá lạc quan và khích lệ ở loài chuột mà thôi.
Để có thể đem áp dụng chính thức cho loài người, thì đoạn đường còn rất dài và rất cam go vì cần phải qua nhiều giai đoạn thí nghiệm lâm sàng cũng như cần nhiều thời gian thêm nữa, và dĩ nhiên là kết quả ở người như thể nào thì chúng ta chưa thể biết rõ lúc nầy được.
Chúng ta cứ hy vọng chờ xem!
(off label: Bs kê toa để trị những bệnh gì khác hơn bệnh được chính thức ghi trên hộp thuốc)
Bexarotene rất đắt, giá 1.200$ cho một tháng trị liệu.
Khảo cứu trên đã được đăng tải trong tạp chí Journal of Science.

Kết luận.

Bệnh Alzheimer là bệnh lú lẫn của người già hay người cao niên.
Theo nhận xét thì các cụ bà thường hay mắc phải bệnh hơn các cụ ông. Có lẽ tại vì các cụ bà sống dai và có tuổi thọ cao hơn các cụ ông chăng?
Sống càng già thì nguy cơ vướng bệnh Alzheimer càng cao.
Có người nói, cứ mỗi chặng 5 năm sau tuổi 65 thì tỷ lệ người có nguy cơ bị Alzheimer tăng gấp hai?…Và đến tuổi 85, thì 20% trong các cụ có thể bị Alzheimer.
Alzheimer là cơn ác mộng của rất nhiều gia đình khi họ phải xót xa đau lòng vì chứng kiến tình trạng sa sút của người thân, và phải ngậm ngùi tuyệt vọng vì bó tay không thể làm gì để cứu vãn cho người thân được hết.
Y-học thì có giới hạn của nó.
Lỡ chẳng may bị vướng phải bệnh Alzheimer rồi thì cũng đành chấp nhận số phận mà thôi.
‘Trời kêu ai nấy dạ’, cho dù người đó có đầy đủ tiền tài quyền lực như ông cựu Tổng Thống Mỹ Ronald Reagan hay bà cựu Thủ Tướng Anh Margaret Thatcher đi chăng nữa, thì cũng chỉ đành bó tay chịu trận mà thôi!
Thật vậy, Alzheimer sẽ là cơn ác-mộng cho tất cả mọi người ở tuổi vàng trong chúng ta.
Vì nó sẽ cướp đi cái linh hồn cũng như cái phẩm cách hay cái nhân cách của con người, nhưng trớ trêu thay, nó chỉ chừa lại cái sự sống trong cái thân xác tàn tạ bệ rạc héo mòn theo năm tháng.
Phải chi nó tước luôn cả cái ý-thức (conscience) thì tốt cho nạn nhân biết mấy… Vì thỉnh thoảng những tia ý thức vẫn còn lóe lên chớp tắt như cái bóng đèn trong đầu nạn nhân, làm họ nhận biết được sự thật quá phủ phàng và chắc có lẽ lúc đó họ đau khổ khóc thầm “Trời ơi! Alzheimer đã cướp đi trí nhớ, đầu óc và cả sự sống của tôi rồi”, rồi liền sau đó thì tất cả lại rơi vào trong hư vô tĩnh lặng và họ không còn biết gì nữa…
Và một chập sau đó thì tia ý thức đó bỗng chớp phực trở lại, một lần nữa đem người bệnh trở về với sự đau khổ chốc lát…
Cứ như thế và như thế lập đi lập lại cho đến khi người bệnh trở về với… cát bụi vô thường./.


Bác Sĩ Thú Y Nguyễn Thượng Chánh & Dược Sĩ Nguyễn Ngọc Lan

Sunday, August 9, 2026

THAY VAN TIM KHÔNG CẦN PHẢI MỔ

 


Thay Van tim không cần phải mổ.

 

Đây là lần đầu tiên trên thế giới, các Giáo sư Bác sĩ của CHU de Lille đã thay thế van tim cho một bệnh nhân, mà không phải phẫu thuật mở ngực hoặc mở tim.
 
Trong những ngày cuối năm 2018 vừa qua, một bệnh nhân cần được thay thế một van tim hai lá đã bị suy.
 
Mô hình cho thấy van hai lá (màu đỏ) nằm ngay trung tâm của tim.
 
Van hai lá là một van nằm ngay trung tâm của tim, giữa tâm nhĩ trái và tâm thất trái. Vai trò của van hai lá rất cần thiết, bằng cách mở và đóng theo từng nhịp tim, van cho phép máu đi từ tâm nhĩ đến tâm thất nhưng lại ngăn chặn không cho máu đi ngược lại.
Khi co bóp, tâm nhĩ trái mở van chuyển máu xuống tâm thất trái để tâm thất trái gởi khối lượng máu tối đa vào động mạch chủ. Suy van hai lá xuất phát chính xác từ một “rò rỉ” của van hai lá này, khi hai tấm van đóng mở không còn hoạt động chính xác được nữa.
 
Và nếu không được điều trị, căn bệnh nghiêm trọng và thường xuyên này sẽ dẫn đến suy tim, mà triệu chứng là khó thở, cho dù chỉ là một hành động cố gắng nhỏ nhất, và ngoài ra còn có sự xuất hiện của tình trạng phù ở chân.
 
Trong trường hợp của bệnh nhân này, các Bác sĩ đã sử dụng ống thông đưa chiếc van hai lá sinh học để thay thế, xâm nhập cơ thể qua ngả động mạch đùi và được hướng dẫn đi dần lên tới trung tâm của tim.
 
Tại đây, chiếc van sinh học được thao tác cho cố định vào đúng vị trí thay thế cho chiếc van cũ đã hỏng. Và như vậy là bệnh nhân đã được thay van mà không cần phải giải phẫu mở ngực hoặc mở tim. Không còn những đường may dài trên ngực như phương pháp giải phẫu hở truyền thống. Chỉ có một chút sẹo nhỏ dưới đùi, tất cả chỉ có vậy.
 
Vui mừng trước thành quả này, Tiến Sĩ Eric Van Belle, Giáo sư Tim-Mạch-học và là người trực tiếp thực hiện công trình, phát biểu: “Có lẽ chúng tôi đang ở buổi bình minh của một cuộc cách mạng mới !”.
 
*
Thêm tin tiêng Pháp liên hệ:
 

Wednesday, August 5, 2026

THÍNH GIÁC Ở NGƯỜI GIÀ (HENRY HOANG)

 



*Thính giác ở người già*

Người cao tuổi khi ở vào tình trạng lãng tai thì thật là khổ, không nghe ai
nói được lời nào. Rồi sanh ra nhiều chuyện nghe nhầm, hiểu không đúng, xảy
ra nhiều tình huống buồn cười như câu chuyện ” Điếc cả làng ” . Ngoài ra
người lãng tai không thể giao tiếp với mọi người nên họ không trả lời đối
đáp được với ai. Riết rồi đành sống trong thế giới riêng mình. Đó là chưa
kể người lãng tai đi ra đường, không nghe tiếng xe cộ để tránh thật là nguy
hiễm…

Khi bước vào tuổi 50, *loa tai* bị lão hoá kém khả năng tiếp nhận âm thanh t
ừ bên ngoài. *Màng nhĩ* bắt đầu bị xơ hóa, trở nên dày đục, xuất hiện các mảng
xơ nhĩ. *Chuỗi xương con* ( xương búa, xương đe, xương bàn đạp ) nằm trong
tai giữa bị loãng xương và vôi hóa khiến việc dẫn truyền âm thanh suy giảm đ
i
*Dây thần kinh thính giác và mạch máu nuôi dưỡng* cũng bị thoái hoá, kết hợp
với sự đặc dần của các ống xương mà nó đi qua, làm giảm sự dẫn truyền cũng
như tiếp nhận âm thanh ở cơ quan thính giác.
Sau một thời gian dài không được can thiệp, người bệnh sẽ bị suy giảm thính
lực

*Theo ý kiến các nhà chuyên môn thì tình trạng lãng tai của người già ( suy
giảm thính lực ) là tình trạng lão hoá, không thể hồi phục được*
*Q*ua sự tiếp xúc với những bệnh nhân cao tuổi, tôi thấy rất nhiều người già
bị lãng tai. Và qua kinh nghiệm điều trị tôi rất ngạc nhiên khi thấy một số
lớn các cô bác đã cải thiện sức nghe của mình chỉ bằng 5 động tác tập thể dục
đơn giản cho đôi tai trong một thời gian trung bình khoảng 02 tháng

Hình ảnh sau đây là 1 trong nhiều bệnh nhân đã nhận được lợi ích từ bài tập
thể dục đơn giản để hồi phục sức nghe của mình. Tôi xin giới thiệu với các b
ạn, bác H..66 tuổi, lãng tai hơn 10 năm. Sức nghe của bác đã được cải thiện
tốt sau khi tập những động tác đơn giản chỉ trong vòng 2 tháng:
* Vô giá vì không phải tốn tiền nhưng vô cùng quý giá vì có thể hồi phục
sức nghe ở người cao tuổi*
Trước khi bước vào bài tập xin mời các bạn lướt sơ qua phần giải phẩu tai:
Tai được chia làm 3 phần: tai ngoài, tai giữa, tai trong.
– Tai ngoài gồm loa tai, ống tai.
– Tai giữa ( phía trong màng nhĩ ) gồm 3 xương con là xương búa, xương đe, x
ương bàn đạp và vòi Eustaches nối liền tai giữa và thành sau họng.
– Tai trong gồm ốc tai, các ống bán khuyên và thần kinh tiền đình, thần
kinh thính
giác
.[image: tai]
<http://chuabenhdongian.com/wp-content/uploads/2015/07/tai.jpg>
*Tai nghe âm thanh như thế nào?*
Đầu tiên là âm thanh từ ngoài chạm đến loa tai, đi vào trong ống tai ngoài
và tác động trên màng nhỉ. Rung động này truyền đến nhóm xương con ( xương b
úa, xương đe, xương bàn đạp ). Sau đó, rung động âm thanh lan đến ốc tai rồi
được dẩn đến dây thần kinh thính giác truyền lên não. Lúc bấy giờ chúng ta
nghe được âm thanh

Ở TUỔI GIÀ, tất cả bộ phận thính giác ( loa tai, màng nhỉ, nhóm xương con, d
ịch trong ốc tai… ) đều bị ảnh hưởng bởi sự lão hoá.
Những động tác tập sau đây thực tế đã cải thiện tốt sức nghe của một số lớn
người già.
* Bài tập thể dục cho tai gồm 5 động tác*
*MỖI NGÀY TẬP 2 LƯỢT: SÁNG TẬP 1 LƯỢT, CHIỀU 1 LƯỢT *

1 – Kéo Loa tai: dùng 2 ngón tay cái và trỏ kéo loa tai xuống 20 lần, kéo
ngang 20 lần, kéo lên 20 lần. Mục đích làm tăng sự tiếp nhận âm thanh vào
loa tai
<http://chuabenhdongian.com/wp-content/uploads/2015/07/taixuong.jpg>
[image: taixuong]
<http://chuabenhdongian.com/wp-content/uploads/2015/07/taixuong.jpg>

[image: taingang]
<http://chuabenhdongian.com/wp-content/uploads/2015/07/taingang.jpg>
[image: tailen]
<http://chuabenhdongian.com/wp-content/uploads/2015/07/tailen.jpg>
2 – Xoay tròn Loa tai: Áp sát và kín lòng bàn tay vào tai + xoay tròn 30
vòng rồi xoay ngược lại 30 vòng: Động tác này giúp giảm xơ cứng các xương
đe, búa, bàn đạp
[image: xoaytai1]
<http://chuabenhdongian.com/wp-content/uploads/2015/07/xoaytai1.jpg>
[image: xoaytai2]
<http://chuabenhdongian.com/wp-content/uploads/2015/07/xoaytai2.jpg>
3 – Bịt kín 2 tai rồi buông: Áp kín 2 lòng bàn tay vào 2 tai rồi buông ra
đột ngột 30 lần, giúp màng nhĩ căng giãn tốt
<http://chuabenhdongian.com/wp-content/uploads/2015/07/bittai1.jpg>
[image: bittai1]
<http://chuabenhdongian.com/wp-content/uploads/2015/07/bittai1.jpg>
[image: bittai2]
<http://chuabenhdongian.com/wp-content/uploads/2015/07/bittai2.jpg>

4 – Vổ vào xương chẩm ( sau đầu ) : Lòng bàn tai áp kín tai rồi dùng các
lòng ngón 2,3,4,5 ( ngón trỏ, giữa, áp út và ngón tay út ) vổ vào vùng
xương chẩm ( phía sau đầu ) 30 lần
[image: xcham1]
<http://chuabenhdongian.com/wp-content/uploads/2015/07/xcham1.jpg>
[image: xcham2]
<http://chuabenhdongian.com/wp-content/uploads/2015/07/xcham2.jpg>
5 – Xoa Loa tai: Lòng ngón cái đặt dọc sau tai, lòng bàn tay đặt tại loa
tai. Xoa lên xoa xuống 30 lần, tập cho thần kinh của loa tai nhạy cảm với
âm thanh hơn
<http://chuabenhdongian.com/wp-content/uploads/2015/07/xoatai.jpg>
[image: xoatai]
<http://chuabenhdongian.com/wp-content/uploads/2015/07/xoatai.jpg>
Ngoài ra các bạn nên tránh tiếp xúc các tiếng động quá ồn trong thời gian dài
( thường nghe headphone, gần các xưởng máy, quán nhạc..)
<http://chuabenhdongian.com/wp-content/uploads/2015/07/xoatai.jpg>



Henry Hoang

Sunday, February 1, 2026

TÌM HIỂU BỆNH TIỂU ĐƯỜNG THEO TỪNG THỜI KỲ (AMY HARRIS, MS, RN, CNM)

 


Chỉ số HbA1c bình thường theo độ tuổi là bao nhiêu?

Cập nhật ngày 30 tháng 11 năm 2023.

Được viết vào ngày 3 tháng 1 năm 2023 bởi Amy Harris, MS, RN, CNM .

Mục lục

Theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ, HbA1c hay hemoglobin A1c là một “siêu năng lực” của xét nghiệm chẩn đoán [1]. Với hơn 100 triệu người lớn ở Hoa Kỳ đang sống chung với bệnh tiểu đường và tiền tiểu đường, một siêu năng lực chính là thứ mà bác sĩ yêu cầu [2]. Chỉ cần chích một ngón tay, xét nghiệm HbA1c (còn gọi là xét nghiệm hemoglobin A1c) có thể sàng lọc tiền tiểu đường, chẩn đoán bệnh tiểu đường và quản lý kế hoạch điều trị bệnh tiểu đường của bạn theo thời gian [1]. Tuy nhiên, hóa ra các yếu tố như tuổi tác, chủng tộc và các tình trạng bệnh lý khác, chẳng hạn như tình trạng mang thai, đều có thể ảnh hưởng đến mức HbA1c của bạn [3]. Tìm hiểu thêm về mức hemoglobin A1c bình thường theo độ tuổi để khỏe mạnh hơn và sống lâu hơn (và cân nhắc xét nghiệm HbA1c tại nhà ).

Xét nghiệm HbA1c là gì?

Xét nghiệm máu HbA1c đo lượng glucose (đường) trong máu được gắn vào hemoglobin của bạn. A1C là viết tắt của hemoglobin glycated, một dấu hiệu quan trọng trong việc kiểm soát bệnh tiểu đường. Hemoglobin glycated là thuật ngữ y khoa mô tả cách các tế bào hồng cầu của bạn (chứa một loại protein gọi là hemoglobin) được nạp glucose. Khi glucose lưu thông trong máu của bạn (chẳng hạn như sau khi ăn), nó sẽ bám vào hemoglobin trong các tế bào hồng cầu của bạn. Đường có tính dính và trong cơ thể bạn, nó bám vào hemoglobin của bạn trong tối đa 3 tháng (tuổi thọ trung bình của các tế bào hồng cầu của bạn).

Lượng đường trong máu của bạn càng cao thì lượng tế bào hồng cầu được bao phủ bởi các phân tử đường càng nhiều. Xét nghiệm HbA1c đo tỷ lệ phần trăm hemoglobin trong các tế bào hồng cầu được bao phủ bởi đường. Vì vậy, lượng đường trong máu trung bình của bạn trong ba tháng qua càng cao thì số lượng tế bào hồng cầu "có đường" càng cao và kết quả xét nghiệm hemoglobin A1c của bạn càng cao.

Các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sử dụng HbA1c riêng lẻ hoặc kết hợp với các xét nghiệm tiểu đường khác để chẩn đoán tiền tiểu đường hoặc tiểu đường loại 2. Các xét nghiệm hemoglobin A1c không hiệu quả trong việc xác định các đợt tăng đột biến gần đây hơn về lượng đường trong máu, vì vậy chúng không thường được sử dụng để chẩn đoán tiểu đường loại 1 [4]. Các xét nghiệm đường huyết cung cấp kết quả nhanh hơn, nhưng điều đó không có nghĩa là kết quả xét nghiệm A1c không có giá trị trong việc quản lý bệnh tiểu đường loại 1 [5].

Chỉ số HbA1c bình thường là bao nhiêu?

Đối với những người đam mê thể thao, xét nghiệm A1C giống như điểm trung bình của một cầu thủ bóng chày trong mùa giải — nó cho bạn biết về thành công chung của cầu thủ đó. Tuy nhiên, A1C của bạn không cho bạn biết về lượng đường trong máu của bạn chỉ trong một ngày, giống như thành tích đánh bóng trong một trận đấu của một cầu thủ sẽ không cho bạn biết liệu họ có phải là một cầu thủ giỏi hay không. Đối với người lớn, các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sử dụng các phạm vi mục tiêu HbA1c sau đây để chẩn đoán bệnh tiểu đường [6]:

  • Mức A1C bình thường là dưới 5,7%
  • Tiền tiểu đường là từ 5,7 đến 6,4%
  • Bệnh tiểu đường loại 2 chiếm trên 6,5%
  • Mục tiêu đối với hầu hết người lớn mắc bệnh tiểu đường là A1C dưới 7%

Tuy nhiên, cũng giống như một cầu thủ bóng chày trẻ hơn, khỏe hơn có thể có thành tích trung bình tốt hơn một ông nội 80 tuổi bị thị lực kém, HbA1c cũng thay đổi rất nhiều theo độ tuổi.

Tại sao chỉ số HbA1c bình thường lại khác nhau theo độ tuổi?

Các nhà nghiên cứu và bác sĩ về bệnh tiểu đường vẫn chưa thống nhất về lý do tại sao tuổi tác khiến mọi người khó duy trì HbA1c thấp hơn (hoặc kiểm soát tốt hơn tình trạng tiểu đường và lượng đường trong máu) [7]. Rất có thể là có nhiều yếu tố và như họ nói, "Nó phức tạp".

Về các con số, không có mục tiêu nào phù hợp với tất cả mọi người đối với HgA1c. Mức mục tiêu A1C thay đổi tùy theo độ tuổi, chủng tộc và các yếu tố khác của mỗi người và mục tiêu của bạn có thể khác với mục tiêu của người khác [3,7].

Khi bạn già đi, mức hemoglobin A1c của bạn tăng lên [7]. Sự gia tăng này xảy ra bất kể bạn có bị tiểu đường hay không [7].

Tăng A1C liên quan đến tuổi ở những người không mắc bệnh tiểu đường [7]

Tuổi tính theo năm

HbA1c

Mmol

Mg/dL

20-39

6%

42,1

126

40-59

6,1%

43,2

140

≥60 tuổi

6,5%

47,5

160

Tranh cãi về phạm vi HbA1c được cập nhật cho người lớn từ 65 tuổi trở lên

Có một cuộc tranh luận đang diễn ra giữa các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe và các nhà nghiên cứu bệnh tiểu đường về cách tốt nhất để quản lý những người cao tuổi mắc bệnh tiểu đường. Người lớn từ 65 tuổi trở lên có nhiều tình trạng sức khỏe phức tạp và đại diện cho một nhóm bệnh nhân đa dạng mà một hướng dẫn mục tiêu hemoglobin A1c duy nhất không phải lúc nào cũng áp dụng được [9].

Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ, Hiệp hội Lão khoa Hoa Kỳ và Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế đều điều chỉnh phạm vi HbA1c mục tiêu của họ cho người lớn trên 65 tuổi và sau đó tiếp tục chia nhỏ phạm vi mục tiêu theo mức độ khỏe mạnh của người cao tuổi đó. Họ đã tăng phạm vi mục tiêu HbA1c lên đến 8,5 hoặc thậm chí là 9 cho người cao tuổi trưởng thành trên 65 tuổi.

Hướng dẫn của Hiệp hội tiểu đường Hoa Kỳ (ADA) dành cho người lớn từ 65 tuổi trở lên [10]

Tình trạng sức khỏe

HbA1c

Khỏe mạnh

<7,5%

Trung cấp

<8,0%

Nghèo

<8,5%


Hướng dẫn của Hiệp hội lão khoa Hoa Kỳ dành cho người lớn ≥ 65 tuổi [11]

Thể loại sức khỏe

HbA1c

Tổng thể

7,5-8,0%

Khỏe mạnh/Ít bệnh đi kèm

7,0-7,5%

Sức khỏe kém

8,0-9,0%


Hướng dẫn của liên đoàn tiểu đường quốc tế dành cho người lớn ≥ 70 tuổi [12]

Thể loại sức khỏe

HbA1c

Độc lập về mặt chức năng

7,0-7,5%

Phụ thuộc chức năng

7,0-8,0%

Yếu ớt/mất trí

Lên đến 8,5%

Kết thúc cuộc sống

Tránh tăng đường huyết có triệu chứng


Ngược lại, cả Hiệp hội Nội tiết Lâm sàng Hoa Kỳ (AACE) và Hiệp hội Nghiên cứu Bệnh tiểu đường Châu Âu đều chưa thực hiện điều chỉnh mục tiêu hemoglobin A1c theo độ tuổi dựa trên độ tuổi hoặc tình trạng sức khỏe.

Có một số lý do đằng sau sự thay đổi được Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ, Hiệp hội Lão khoa Hoa Kỳ và Quỹ Đái tháo đường Quốc tế ủng hộ. Đầu tiên, duy trì giá trị HbA1c ở mức 8% hoặc 9% dễ hơn nhiều so với việc đạt được mức dưới 7%. Duy trì mức dưới 7% đòi hỏi phải kiểm soát đường huyết chặt chẽ, thường là bằng các loại thuốc mạnh hơn.

Càng dùng nhiều thuốc, đặc biệt là ở người cao tuổi hoặc người bệnh, thì nguy cơ hạ đường huyết (hạ đường huyết) càng cao. Nếu nghiêm trọng, hạ đường huyết ở người cao tuổi có thể dẫn đến thay đổi trạng thái tinh thần, co giật hoặc mất ý thức, các vấn đề về tim, ngã dẫn đến gãy xương và trong một số trường hợp là tử vong [10]. Kiểm soát đường huyết chặt chẽ hơn (mức HgA1c thấp hơn) có thể phải trả giá cao hơn đối với bệnh nhân lớn tuổi.

Ngoài ra, người lớn tuổi có tỷ lệ suy giảm nhận thức không xác định và chứng mất trí cao hơn, khiến việc tuân thủ các kế hoạch điều trị bệnh tiểu đường nghiêm ngặt với việc theo dõi glucose và điều chỉnh liều insulin thường xuyên trở nên khó khăn hơn. Người lớn tuổi mắc bệnh tiểu đường cũng có nguy cơ hạ đường huyết cao hơn người trẻ tuổi [10].

Tuy nhiên, tất cả các hướng dẫn lâm sàng và các tổ chức nghiên cứu đều đồng ý rằng việc quản lý bệnh tiểu đường, đặc biệt là ở những bệnh nhân lớn tuổi, cần phải được cá nhân hóa [9-12]. Do đó, việc thường xuyên theo dõi HbA1c của bạn, bằng xét nghiệm HbA1c tại nhà Everlywell hoặc theo dõi glucose liên tục, là cách tốt nhất để biết bệnh tiểu đường của bạn thực sự được kiểm soát như thế nào. Trong khi đó, cần phải thực hiện nhiều nghiên cứu hơn để hiểu được phạm vi HBA1c lành mạnh nhất cho số lượng người cao tuổi mắc bệnh tiểu đường ngày càng tăng.

Bạn nên kiểm tra HbA1C ở độ tuổi nào?

CDC khuyến cáo nên làm xét nghiệm A1C cơ bản nếu bạn là người lớn trên 45 tuổi hoặc dưới 45 tuổi, thừa cân và có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ mắc tiền tiểu đường hoặc tiểu đường loại 2 [13]. Bạn có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường nếu bạn [13]:

  • Có tiền tiểu đường
  • Đang thừa cân
  • Từ 45 tuổi trở lên
  • Có cha mẹ, anh chị em ruột mắc bệnh tiểu đường loại 2
  • Hoạt động thể chất ít hơn ba lần một tuần
  • Đã từng bị tiểu đường thai kỳ (tiểu đường trong thời kỳ mang thai) hoặc sinh con nặng hơn 9 pound
  • Là người Mỹ gốc Phi, gốc Tây Ban Nha hoặc La tinh, người Mỹ bản địa hoặc người bản địa Alaska; một số người dân đảo Thái Bình Dương và người Mỹ gốc Á cũng có nguy cơ cao hơn
  • Có bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu

Tìm hiểu xem mức HbA1c của bạn có bình thường so với độ tuổi của bạn không

Một phần trong hành trình chăm sóc sức khỏe của bạn có thể là tìm hiểu thêm về nguy cơ mắc bệnh tim hoặc tiểu đường của bạn. Có thể bạn có những thành viên trong gia đình mắc bệnh tiểu đường và lo lắng về nguy cơ của chính mình. Có thể bạn muốn đo lường tác động của những thay đổi bạn đã thực hiện trong chế độ ăn uống để giảm HbA1c . Everlywell có thể giúp bạn xác định sức khỏe trao đổi chất của mình bằng cách sử dụng HbA1C. Với xét nghiệm máu HbA1c tại nhà đơn giản, nhanh chóng và tiện lợi của chúng tôi , bạn có thể có câu trả lời sớm hơn dự kiến.

Chúng tôi biết rằng mức A1C cao hơn có liên quan đến nhiều biến chứng tiểu đường hơn như bệnh tim mạch vành và đột quỵ [1,2]. HbA1c là xét nghiệm được lựa chọn để chẩn đoán tiền tiểu đường và tiểu đường, theo dõi và kiểm soát bệnh tiểu đường. Biết giá trị HbA1c của bạn sẽ giúp bạn có thông tin tốt hơn cho cuộc hẹn chăm sóc sức khỏe tiếp theo của mình – chuẩn bị tốt hơn để thảo luận về kế hoạch chăm sóc, phòng ngừa hoặc điều trị bệnh tiểu đường được cá nhân hóa của bạn.

Mua Xét nghiệm HbA1c

 

Nội dung liên quan

Phạm vi tiền tiểu đường cho HbA1c

Tiền tiểu đường có thể đảo ngược được không?

Những dấu hiệu cảnh báo tiền tiểu đường là gì?

Uống nhiều nước là gì?

Tài liệu tham khảo

  1. HbA1c. Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ. URL . Cập nhật năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2022.
  2. Bệnh tiểu đường và tiền tiểu đường. CDC. URL . Cập nhật ngày 2 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2022.
  3. Tất cả về A1C của bạn. CDC. URL . Cập nhật ngày 30 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2022.
  4. Butler AE, Misselbrook D. Phân biệt giữa bệnh tiểu đường loại 1 và loại 2. BMJ 2020; 370 :m2998 doi:10.1136/bmj.m2998. URL. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2023.
  5. Ehehalt S, Gauger N, Blumenstock G, Feldhahn L, Scheffner T, Schweizer R, Neu A; DIARY-Group Baden-Wuerttemberg. Hemoglobin A1c là tiêu chuẩn đáng tin cậy để chẩn đoán bệnh tiểu đường loại 1 ở trẻ em và thanh thiếu niên. Pediatr Diabetes. 2010 tháng 11; 11 (7): 446-9. doi: 10.1111/j.1399-5448.2009.00633.x. PMID: 20149124. URL. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2023.
  6. A1C. MedlinePlus. URL . Cập nhật ngày 22 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2022.
  7. Dubowitz N, Xue W, Long Q, et al. Lão hóa có liên quan đến việc tăng nồng độ HbA1c, không phụ thuộc vào nồng độ glucose và tình trạng kháng insulin, và cũng liên quan đến việc giảm độ đặc hiệu chẩn đoán HbA1c. Diabet Med. 2014;31(8):927-935. doi:10.1111/dme.12459. URL .
  8. Pani LN, Korenda L, Meigs JB, và Driver C et al. Ảnh hưởng của lão hóa lên mức A1C ở những người không bị tiểu đường: bằng chứng từ Nghiên cứu con cái Framingham và Khảo sát kiểm tra sức khỏe và dinh dưỡng quốc gia 2001–2004. Diabetes Care 2008;31(10):1991–1996. https://doi.org/10.2337/dc08-0577. URL .
  9. Monami M, Vitale V, Lamanna C, et al. Mức HbA1c và tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân ở bệnh nhân tiểu đường týp 2: bằng chứng dịch tễ học về nhu cầu đối với các mục tiêu điều trị được cá nhân hóa. Nutr Metab Cardiovasc Dis. 2013;23(4):300-306. doi:10.1016/j.numecd.2012.01.003. URL .
  10. Rooney MR, Tang O, Echouffo Tcheugui JB, et al. Khung Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ về kiểm soát đường huyết ở người lớn tuổi: ý nghĩa đối với nguy cơ nhập viện và tử vong. Diabetes Care. 2021;44(7):1524-1531. doi:10.2337/dc20-3045. URL .
  11. Hội đồng chuyên gia của Hiệp hội Lão khoa Hoa Kỳ về Chăm sóc Người lớn tuổi mắc bệnh Đái tháo đường. Moreno G, Mangione CM, Kimbro L, et al. Các hướng dẫn được trích từ Hướng dẫn của Hiệp hội Lão khoa Hoa Kỳ về Cải thiện Chăm sóc Người lớn tuổi mắc bệnh Đái tháo đường: Cập nhật năm 2013. J Am Geriatr Soc. 2013;61(11):2020-2026. doi:10.1111/jgs.12514. URL .
  12. Quản lý người cao tuổi mắc bệnh tiểu đường loại 2. Liên đoàn tiểu đường quốc tế. URL . Cập nhật ngày 5 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2022.
  13. Các yếu tố nguy cơ mắc bệnh tiểu đường. CDC. URL . Cập nhật ngày 5 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2022.

 

NGUỒN:

Chỉ số HbA1c bình thường theo độ tuổi là bao nhiêu?

https://www-everlywell-com.translate.goog/blog/hba1c/what-is-normal-hba1c-by-age/?_x_tr_sl=en&_x_tr_tl=vi&_x_tr_hl=en&_x_tr_pto=wapp

English:

What is normal HbA1c by age?

https://www.everlywell.com/blog/hba1c/what-is-normal-hba1c-by-age/