Showing posts with label THƠ. Show all posts
Showing posts with label THƠ. Show all posts

Friday, May 29, 2026

VÔ THƯỜNG (LÊ HUY TRỨ)



Vô Thường

 *Lê Huy Trứ

August 14, 2024

Chúng ta không thể nào trường sanh bất tử, trẻ đẹp, và mạnh khỏe mãi mãi được trên đời. Khoa học đã chứng minh trong thân thể ta, các tế bào (cells) luôn luôn thay đổi, trong một phút không biết bao nhiêu tế bào mới phát sinh thay thế cho tế bào cũ hủy diệt, mà tế bào này lại già hơn tế bào trước. Những thay đổi này không thoát khỏi cái vòng luân hồi của sinh, lão, bệnh và tử. Khoa học chưa tìm ra phương cách cải lão hoàn đồng, thay thế những tế bào này với những tế bào trẻ trung và khỏe mạnh hơn. Trên lý thuyết thì khoa học đã có phương cách cải lão hoàn đồng ở trên nhưng chưa được chấp nhận bởi những xã hội còn tôn trọng thần quyền.

Đức Phật lúc còn là Thái Tử đã than với vợ là Da Du Đà La về thân vô thường, “Chúng ta sẽ già yếu xấu xa. Thời gian sẽ phủ lên đầu chúng ta những lớp tro bạc. Ôi! Mắt trong của em rồi sẽ mờ đục, môi đỏ của em rồi sẽ úa màu. Ta nghe trong ta, trong em, trong tất cả mọi người, mỗi ngày mỗi đổ vỡ dưới sức tàn phá của búa thời gian, tất cả những gì quý giá nhất của đời người... chúng ta ôm giữ một cách tuyệt vọng những bảo vật ở trong ta như ôm một cái bóng, như nắm bắt một làn hương."

Trí tuệ thay!

Ý niệm chúng ta thay đổi trong từng phút, từng giây, từng sátna. Vui vẻ đó rồi buồn khổ đó, thân thiết đó, rồi hờn giận đó. Ý thức chúng ta sanh diệt trong từng sát na.  Nhưng vì chính tự nó sinh diệt quá mau lẹ. Cho nên, trong mỗi chúng ta có cảm tưởng như không hề thay đổi gì.

Chưa có một nhân sinh nào tái sinh lại trong tiền kiếp. Bởi vì, cái tâm thức, tấm thân ngũ uẩn, và không-thời gian đó đã hóa thân.

“No man ever steps in the same river twice, for it's not the same river and he's not the same man.” Heraclitus

Heraclitus, “IIanta Pei.”  Tất cả là một dòng chảy mạnh.

Tam pháp ấn (S: tri-dharma-mudrā; E: three seals of the dharma) là một trong ba nguyên lý căn bản của Phật Giáo – vô thường, vô ngã, và niết-bàn tịch tịnh.

Đạo Phật thừa nhận rằng: Tác dụng của những quy luật vô thường này trong thế giới thực thể (entity) được thể hiện trong những bản kinh của Arvāstivavādins. Bởi vì, nó duy trì tính bất diệt trong trạng thái bản thể (identity) của các pháp suốt ba thời kỳ không-thời gian – Quá khứ, hiện tại và vị lai.

Sanh diệt vô thường, thay đổi nhanh chóng trong từng ý niệm, vạn vật thay đổi hoàn toàn, và không bao giờ giống nhau. Nguyên lý này được giải thích theo quan điểm Phật Giáo là bất cứ sự thay đổi nào của vạn vật đều sanh diệt không ngừng trong từng khoảnh khắc.

Tự tánh vô thường hay tánh không là sự thay đổi liên tục của các hiện tượng trong vũ trụ, bao hàm sự sanh diệt vô thường.

Cái “ta, ngã” chỉ là vô thường tạm bợ, giả tạo mà người đời tự cho cái ta là “duy ngã độc tôn, cái rốn của vũ trụ,” bám víu vào nó, nhân danh nó vì si mê lầm lạc.

Như chúng ta đã thấy không phải chỉ có cái thân ta vô thường, tâm ý ta vô thường mà cuộc sống cũng vô thường. “Thương hải tang điền,” vật đổi sao dời, không ai giàu ba họ không ai khó ba đời, lên voi xuống chó, chúng sinh trầm luân trong bến mê, bể khổ.

Theo Bách khoa Triết học của Phật Giáo Tiểu thừa mang tựa đề Abhidharmamahāvibhāṣāśāstra.  Bản gốc Sanskrit bị thất lạc, chỉ còn bản dịch tiếng Hán của ngài Huyền Trang, trong đó nói rằng: một ngày 24 giờ có 6.499.99.980.000.000 sát-na (kṣaṇas); tập hợp năm uẩn (skandhas) sinh diệt trong từng sát-na.

Ngay cả bây giờ, chưa có ai chia thời gian ra tỷ tỷ cực tiểu như vậy. Bởi khi kiến giác được thời gian sát-na chúng ta có thể thấy được vận tốc của viên đạn bắn ra từ nòng súng chậm như rùa bò.  Thậm chí chúng ta còn có thể thấy được thời gian dường như ngừng trôi, và trái đất dường như ngừng quay.  Không gian dường như không còn khoảng cách.  Dường như không còn vô thường đối phật nhãn và trí tuệ của Phật.

Quả thật không như vậy, sự sống của một chúng sinh vô cùng ngắn ngủi như những sát-na. Chỉ kéo dài trong một ý niệm, và khi ý niệm đó dừng lại thì sự sống cũng dừng lại. Chúng sinh trong quá khứ đã sống mà đã không sống. Trong hiện tại đang sống mà đang không sống. Trong vị lai sẽ sống mà chưa sống.

Trên thực tế, nguyên lý vô thường trong vũ trụ không đề cập đến thế giới thực thể mà chỉ đề cập đến thế giới hiện tượng (phenomenon.) Sự giải thích về nguyên lý này có khuynh hướng phủ định hay hủy diệt hơn là hướng đến giải thích tuyệt đối. Đây là điểm quan trọng, trong tầm nhìn của các nhà nghiên cứu kinh điển Phật Giáo. Mục tiêu của Đức Phật không dựa trên trường phái triết học mà vạch ra con đường chứng đắc, và cứu độ chúng sinh khỏi luân hồi khổ đau.

Như vậy, từ nguyên lý vô thường có thể tạo ra nguyên lý hữu thường là niết-bàn tịnh tĩnh. Hơn nữa, trước khi ứng dụng ba nguyên lý này, chúng ta đã diễn bày như một nền tảng căn bản của đạo Phật đối với hiện tượng và thế giới bản thể một cách tương ứng (corresponding.) Chúng ta minh xác rằng nguyên lý vô thường liên quan đến thế giới hiện tượng một cách riêng biệt; còn nguyên lý vô ngã thì có mối quan hệ cả nguyên lý vô thường lẫn thế giới hiện tượng; và nguyên lý Niết Bàn tịch tịnh chỉ tùy thuộc vào thế giới bản thể.

Lý “Vô Thường” chi phối mọi sự vật từ thân, tâm đến hoàn cảnh chúng sinh. Khi hiểu và tìm được phương thuốc vô thường, ta không còn bi quan chán nãn, không đắm đuối với cái ta này, cũng không đắm đuối với cái công danh, và sự nghiệp tài sản của ta hiện có.

Ta sẽ dùng thuốc “vô thường” để trị bệnh “tham ái, mê mờ,” cái bệnh làm cho chúng ta bị mãi mãi thăng trầm lặn hụp trong bể khổ đau, không vượt qua được bờ giải thoát. Diệt trừ được tham ái mê mờ, chúng ta sẽ tiến đến sự an tịnh của tâm hồn.

Nhờ thuyết vô thường, ta hiểu rõ thêm mặt trái của cuộc đời, cái hào nhoáng của vật chất, và ái dục là mồi nhử ta vào đau khổ. Con người có hiểu lý vô thường của sự vật mới khỏi bị trói buộc bởi lòng tham muốn của mình, mới khỏi bị mê lầm say đắm. Bởi chính “chấp thường, còn, không, và mất” mà con người bị đau khổ thì Đức Phật lấy phương thuốc “Vô thường” để đối trị. Khi lành bệnh thì phải bồi dưỡng thêm bằng phương thuốc “Chơn Thường.” Vậy ta phải dùng phương thuốc này để trị bệnh ta đang mắc phải, và khi đã lành bệnh ta sẽ bốc thêm thang thuốc“chơn thường.” Như ngài A Nan trả lời Đức Phật, khi Đức Phật hỏi A Nan về tiếng ngân dài từ cái chuông, tất cả chỉ là dư âm.

Khi hiểu được lý vô thường, sinh tử vô thường, chúng ta sẽ bình tĩnh thản nhiên hơn trước mọi thay đổi bất ngờ của sự vật, thăng trầm của cuộc đời, thời cuộc ngay cả sự mất mác, chia ly hay vĩnh biệt của những người thân thích, yêu thương, hay những gì mà ta quý trọng nhất. Ta dám hy sinh tài sản, ngay cả tính mạng để làm việc nghĩa, và để cứu đời; có nghị lực để giã từ những thú vui tạm bợ; tìm đến thú vui chơn thật; tinh tấn tiến tu; thể hiện Phật Tánh cao thượng.

Tài liệu nghiên cứu:

  • Nguyên lý vô thường trong triết học Phật giáo, Yamakami Sogen, Tuệ Hạnh dịch

Quán Vô Thường

*Lê Huy Trứ

Hạnh phúc ái ân tương phùng đó,
Ngàn đời thương tiếc nổi luyến thương.
Lữ khách vạn dặm quan san đó,
Biết kẻ Chương Đài vẫn ngóng trông.

*

Thuở ấy vườn Xuân Mai rực rỡ,
Cúc Lan sắc thắm ngập hồn thơ.
Tàn cơn nắng Hạ hồng Phượng nhạt,
Sang Thu Đông tuyết vạn tàn hoa.

*

Ngậm ngùi lối xưa hồn thu thảo,
Đền đài dâu bể ánh tịch dương.
Tình yêu nhạt mờ theo gió bụi,
Lạnh lùng băng giá tuyết Đông sa.

*

Trong cõi trần ai tan hợp đó,
Vô minh nào biết cõi Bồng Lai.
Khoái lạc khổ đau mầm ngang trái,
Tương phùng ngầm ẩn lệ chia phôi.

*

Sá chi thế giới vô thường đó,
Thịnh suy giọt móc cỏ đầu phơi.
Biển khổ trầm luân sơn hà biến,
Nẽo về sóng xóa vết chân Di.

*

Bỉ ngạn độ thuyền xa bến mộng,
Giữa dòng bờ giác bất nhị nguyên.
Sớm nên kiến quán vô thường ấy,
Vội tỉnh si mê gở rối lòng.

*Lê Huy Trứ 


Thursday, July 24, 2025

CUA CON VÀ MẸ CỦA NÓ (THƠ- BÙI PHẠM THÀNH)

 

Cua Con Và Mẹ Của Nó



Cua Mẹ nói với Cua Con:
"Tại sao con lại đi ngang thế này
Sao không đi đứng thẳng ngay
Đi tới phía trước thẳng ngay với mình."

Cua con ngoan ngoãn thưa trình:
"Con nghe lời Mẹ thuận tình làm theo
Nhưng con chẳng biết làm sao
Xin Mẹ hãy dạy cách nào để đi."

Cua Mẹ làm ngay tức thì
Cố gắng để bước tiến về trước kia
Cho dù cố gắng bước đi
Cũng đi ngang chẳng khác gì cua con
Ráng đi cho thẳng thắn hơn
Ngã dập cả mũi lại còn thêm đau.

Chớ khuyên kẻ khác những câu
Chính mình cũng chẳng biết sao mà làm.

Bùi Phạm Thành
(ngày 19 tháng 5 năm 2021)

Wednesday, July 31, 2024

ĐƠN GIẢN (NGUYỄN THỊ THANH DƯƠNG)

 


ĐƠN GIẢN.

 

Đừng tặng em những kinh thành lộng lẫy

Cô gái lọ lem sẽ thấy lạc loài

Em không kiêu kỳ gõ nhịp giày cao

Trên hè phố sang, cửa hàng đắt giả.

 

Đừng tặng em những cuộc vui trưởng giả

Tô vẽ cho mình qua lớp phấn son

Em không hãnh diện đá quý kim cương

Em bình thường vẫn là em giàu có.

 

Hãy tặng em cả bầu trời anh nhé

Những lúc nắng về những lúc mưa rơi

Suốt bốn mùa em có những buồn vui

Trong tầm tay em bao điều muốn nói.

 

Có anh đợi sẽ là sân ga cuối

Khi chuyến tàu dừng lại ở sân ga

Em không cần một biển cả bao la

Một nhánh sông đủ ru đời khao khát.

 

Em thích sống với những điều đơn giản

Phố nên thơ khi có bước anh về

Em cần gì phù phiếm ở ngoài kia

Dù chỉ có tình anh trong phố hẹp.

 

Hoa bên đường cũng cho em lãng mạn

Đâu cần anh phải tặng triệu đóa hồng

Hãy tặng em những mộng ước thật gần

Hãy mời em cà phê chiều thứ bảy.

 

Em chẳng mơ điều quá tầm tay với

Để suốt đời theo đuổi mãi hư vô

Nên vẫn tin sẽ có một sân ga

Nơi em đến và anh đang chờ đợi.

 

Nguyễn Thị Thanh Dương

 ( August 07, 2022)

Sunday, July 21, 2024

ÁO TRẮNG TÌNH HỒNG (HOÀNG XUÂN THẢO 1931-2021)/ DƯ THỊ DIỄM BUỒN

 

ÁO TRẮNG TÌNH HỒNG

 

HOÀNG XUÂN THẢO

(1931- 2021)

 

Bác Sĩ Hoàng Ngọc Khôi, bút danh Hoàng Xuân Thảo, sinh ngày 19/07/1931 tại Bắc Ninh. Hồi trẻ, anh có một thời lang thang theo kháng chiến, sau đó anh gia nhập Quân Y hiện dịch khóa V, 1952-1958, và tốt nghiệp với bằng Y Khoa Bác Sĩ. Anh từng là Y Sĩ của binh chủng Nhảy Dù, và Y Sĩ Trưởng Quân Y Viện Trương Bá Hân ở Sóc Trăng. Anh là cựu giáo sư các trường Gia Long, Quốc Gia Sư Phạm, Khuyến Học, Hàn Thuyên. Dù nhiều công việc như vậy, anh còn lấy thêm 2 bằng Cử Nhân Luật Khoa và Văn Khoa. Với bút hiệu Hoàng Xuân Thảo, anh có những tác phẩm sau đây,

đã xuất bản hay ấn hành:

* Thơ, có 4 tập: Niềm Đau Sáng Tạo. Khung Trời Quê Hương. Áo

Trắng Tình Hồng.Tiếng Vọng Rừng Phong.

* Kịch: Sang Sông. Tiếng Pháo Giao Thừa. Nỗi Ám Ảnh Của Một

Tấm Hình. Thức Tỉnh Lúc Hoàng Hôn. Người Tập Kết Trở Về.

* Biên khảo: Huyền Thoại Về Triều Đại Hồ Chí Minh, (dầy 1200

trang, với sự cộng tác của bác sĩ Nguyễn Thượng Vũ). Xứ Cờ Lá Phong, Quê

Tôi Cuối Đời (dầy 600 trang, với sự cộng tác của bác sĩ Từ Uyên).

* Dịch thuật: Của Chuột Và Người (of mice and men). Kẻ Ngoài Lề

(l’étranger) Hai quyển này với sự cộng tác của tiến sĩ Nguyễn Phúc Bửu Tập.

 

* Video: Trình bầy 250 video về nhạc và thơ.

Anh Hoàng Ngọc Khôi đóng góp rất nhiều bài vở cho Tập San Y Sĩ

của Hội Y Sĩ VN tại Canada và nhiều tạp chí khác. Tới đây thì ta thấy anh

Khôi là người đa tài, có sáng tác trong nhiều bộ môn khác nhau. Anh là đàn

chủ của diễn đàn Tmg19 (tức là Toronto medical group), và cố vấn tối cao

của LT21, (tức Liêu Trai Chí Dị thế kỷ 21, do bác sĩ Nguyễn Văn Bảo làm

đàn chủ). Tuy đa tài như vậy, nhưng anh Khôi lại rất khiêm tốn, hiền lành,

lúc nào cũng vui vẻ, hòa nhã với anh em, và đưa ra những ý kiến vô cùng

chính xác và hợp lý khi cần thiết. Anh Khôi còn là một bỉnh bút sáng giá và

nhiệt thành. Tôi liên lạc mật thiết với anh Khôi qua thư từ, điện thư… Càng

liên lạc với anh, tôi càng mến mộ anh hơn vì kiến văn quảng bác, tính tình

khả ái.

“Nhân Sinh Nhật 19/7 của anh Hoàng Xuân Thảo”. Tác giả Nguyễn

Thanh Bình. (Tìm trong Google).

 

ÁO TRẮNG TÌNH HỒNG

 

Nhờ duyên văn nghệ, tôi hân hạnh được quen biết và được tác giả

Hoàng Xuân Thảo ký tặng thi tập “Áo Trắng Tình Hồng” vào ngày 9 tháng

1 năm 2001. Do sự giới thiệu của anh Thái Minh Kiệt (dạy Đại học Cần

Thơ, thuở Viện Trưởng Phạm Hoàng Hộ) Đến xứ người, anh dạy Đại học

Canh Nông Canada…

Thái Minh Kiệt và tôi là đồng môn Trung học Phan Thanh

Giản&Đoàn Thị Điểm Cần Thơ. Viết văn, anh có nghệ danh Nguyễn Văn

Ba, là đồng điệu với tôi ở hải ngoại. Anh Thái Minh Kiệt nhỏ hơn tôi 1 tuổi

nhưng học trên tôi 2 lớp. Bởi anh học giỏi thi năm nào cũng đậu, còn tôi vừa

học dở vừa èo uột trên đường công danh, thi rớt lên rớt xuống, ạch đuội lắm,

chậm hơn bạn bè... nhưng rồi cũng đến nơi.

Thuở Trung học, chúng tôi có chung trong nhóm bạn thân, có người là

quân nhân có người công chức có người sinh viên... Sau 30 tháng 4 năm

1975 nhóm mất liên lạc. Ở Hải ngoại Thái Minh Kiệt và tôi cộng tác chung

những nguyệt san, đặc san... trong và ngoài nước Mỹ... Vì cả hai đều dùng

bút danh nên không biết nhau. Cho mãi đến mười mấy năm sau tôi mới được

tin Thái Minh Kiệt tức là nhà văn Nguyễn Văn Ba đang ở Canada (nhờ

người bạn ngày xưa trong nhóm, đang ở Úc cho biết).

Thường cuối tuần, chúng tôi điện đàm thăm hỏi nhau, kể chuyện ngày

xưa thuở còn đi học và lúc mới vào đời... Giờ thì bạn bè mỗi đứa mỗi nơi kẻ

còn kẹt trong bức màn tre, kẻ ra hải ngoại, người chết trong tù... Và chúng

tôi ai cũng thành gia thất, con cái đùm đề. Vợ chồng tôi và anh chị Nguyễn

Văn Ba rất tâm đắc và thường chuyện trò với nhau qua điện thoại.

Lần đó anh khoe với tôi, và hỏi có quen với nhà thơ, nhạc sĩ... Hoàng

Xuân Thảo không? Tôi trả lời không quen biết. Nguyễn Văn Ba đã ngầm

 

giới thiệu để tôi được quen biết những Văn Nghệ Sĩ khác... Với ông Hoàng

Xuân Thảo, anh còn nhẹ giọng êm đềm “đệm” thêm một câu nữa với tôi:

- Bà chị DTDB ơi, nếu sau nầy có dịp nói chuyện với ông Hoàng

Xuân Thảo thì làm ơn giữ lời nghe. Ông là nhà đại khoa bảng, là bác sĩ

Hoàng Ngọc Khôi... Học trò của ổng nhiều người lớn tuổi hơn tôi và chị đó

nghe...

Đầu dây điện thoại bên nầy (Mỹ) tôi cười nhẹ, chép miệng:

- Nè Nguyễn Văn Ba, anh cũng biết ở quê nhà bạn anh là “dân

ruộng” qua xứ người là “cu-li”. Chữ nghĩa gắn không đầy lá mít... viết chỉ

là niềm vui là đam mê thôi... làm sao tôi dám quen biết với người tài giỏi

như vậy! Ông Hoàng Ngọc Khôi là cây cổ thụ trong y giới. Ông Hoàng

Xuân Thảo là văn nghệ sĩ tài hoa... giỏi như vậy sao giới thiệu cho biết tôi

chi vậy trời à?

Bên kia đầu dây (Canada) Nguyễn Văn Ba lớn tiếng cười, bảo:

- Sợ rồi sao, bởi tôi biết BS Hoàng Ngọc Khôi rất tế nhị, bình dân,

vui vẻ, đôn hậu, đa tài. Về văn học nghệ thuật thì “Cầm, kỳ, thi, họa” môn

nào ông cũng biết, cũng hay và cũng giỏi... Giới thiệu người tốt để có dịp chị

làm quen mà học hỏi thêm đó mà...

- Được rồi, cảm ơn nhã ý của anh. Nhưng tôi có phải là giảng viên

Đại học như anh đâu! Đừng có để người ta tưởng tôi nghe đến bác sĩ thì

sáng mắt... “Nghe người ta là Bác sĩ thì tươm tướp làm quen...” thì tội

nghiệp Diễm Buồn tôi sẽ thành Diễm Khóc đó nghe Thái Minh Kiệt!

Thật sự nó đúng như vậy! Trong bao nhiêu người vượt biển khỏi quê

hương sau 30 tháng 4 năm 75 nơi vùng đất tạm dung, có lẽ gia đình tôi

nghèo nhứt “nghèo rớt mồng tơi”. Mới đến xứ người, mấy tháng sau còn

“chân ướt chân ráo” tôi mang thai, trong khi chưa có công ăn việc làm, còn

ăn nhờ ở đậu với cô em... Chúng tôi như dân “Cái Bang” Trong truyện Tàu

của Kim Dung. Thiệt là số vất vả trăm chiều mà!

Cũng như đại đa số những kẻ chạy loạn bôn đào, vì chén cơm manh

áo cho gia đình, chồng tôi đi làm cho nhà làng chúng tôi đang cư ngụ. Tôi

sanh cháu bé được một tháng bảy ngày, thì đi làm cho một viện dưỡng lão ở

làng bên. Các con cái mỗi ngày một lớn, và học hành... chúng tôi phải làm

nhiều hơn, mỗi người hai việc (16 giờ mỗi ngày) tôi làm từ 6 giờ sáng cho

đến 11giờ 30 đêm. Chàng làm từ 3 giờ chiều đến 7 giờ sáng hôm sau. Vợ

chồng như cút bắt kẻ về, người đi... ít khi nghỉ trùng ngày nên ít gặp mặt

nhau! Con gái tôi chưa đầy mười hai tuổi, phải trông chừng đứa em nhỏ hơn

cháu một tuổi, và giữ đứa em (cho em ngủ, cho em bú bình, thay tã cho em,

và giúp mẹ làm những việc lặt vặt lau nhà, rửa chén...).

Cho dù thời gian làm việc chiếm nhiều giờ, dù tôi phải đi chợ, nấu ăn

(trong ngày nghỉ) cho cả gia đình ăn mỗi ngày. Nhưng tôi vẫn muốn viết,

thích viết, và ưa đọc (lợi dụng thời gian trong giờ ăn và giờ nghỉ giải lao ở

sở). Bởi với tôi viết và đọc là niềm vui, là sở thích là đam mê... phải có cho

riêng mình!

 

Rồi anh Nguyễn Văn Ba qua đời vì bạo bệnh. Sau lần hò hẹn anh chị

và chúng tôi gặp nhau ở đại hội cựu học sinh Trung học Phan Thanh

Giản&Đoàn Thị Điểm Cần Thơ. Được tổ chức ở Toronto (Canada). “Tôi đã

mất một đồng môn, một đồng điệu, một người bạn tốt mà chúng tôi vô cùng

trân quý...”

Gia đình tôi định cư ở miền Trung Tây, (Chicago) tiểu bang Illinois là

một trong những vùng lạnh nhất nhì nước Mỹ. Có bốn mùa, về mùa đông

giá rét lạnh lùng, kéo dài hơn 6 tháng tuyết rơi ngập đường ngập lối... Chúng

tôi sống ở đây tròm trèm 25 năm, và ba đứa con cũng lần lượt ra trường đại

học, mới dời nhà về sống gần gia đình gần con gái (Từ Chicago Illinois, đến

làng Yuba City, thành phố Sacramento thuộc tiểu bang California).

Thời gian trôi mãi trôi, cho đến mười mấy năm sau, một hôm tình cờ

tôi nhận được những bức ảnh rải rác trên internet của ông Hoàng Xuân Thảo

gởi ra... với nhã ý của tác giả “Xem tranh viết lời”. Tôi vui mừng liền hưởng

ứng, nhưng hết sức dè dặt! Tôi bắt đầu viết cảm nhận của mình dưới những

bức ảnh nhận được, nhưng không liên tục. Bởi khi nào gặp thì viết không thì

thôi chớ tôi không tìm kiếm.

 

XEM TRANH VIẾT LỜI

Viết cảm nhận về những bức ảnh

của ông Hoàng Xuân Thảo gởi. DTDB

 

Ảnh 20

 


Bao la nước trời

Không gian bàng bạc

Bên bờ biển khơi

Sống trong hốc đá

Sởn sơ cây bá

Nắng gội mưa rơi

Vẫn xanh cành lá

Thiên niên vạn đời

 

Ảnh 21

 








Một mình trong chiều vắng

Lá vàng ngập đó đây

Đường xưa nhòa nhạt nắng

Hương đất cỏ dâng đầy

Bầu trời thu êm ả

Dư âm ôi ngọc ngà

Thu ơi thương nhớ quá!

Dù đã qua... rất xa!

 

Ảnh 22


 

Dòng nước xanh xanh nhành lá xanh

Thuyền ai trên sóng nước mong manh

Trời trong đẹp nắng vầng mây trắng

Mong “chim liền cánh cây liền cành”

 

Ảnh 23

 


Long lanh em hứng hạt mưa rơi

Buồn, đau, sầu, nhớ... tỏa khung trời

Êm ả, mến thương hay hạnh phúc

Là do cảm nhận của người... ơi

 

Ảnh 26

 


Mỗi độ ngoài trời mưa rơi lả chả

Không gian ủ dột sắc lá pha vàng

Nắng héo úa hương cỏ cây êm ả

Ôi, có người thờ thẫn lang thang

 

Ảnh 27

 


Chẳng đêm thu êm ả trăng trong

Chẳng nắng chiều rơi rớt mênh mông

Chẳng đáy nước gợn rong cá lội

Chỉ có tơ trời trên tầng không

 

Ảnh 29

 


Một tách trà thanh vạn lời thơ

Vàng lá chao bay lá hững hờ

Tâm tư réo gọi nàng thơ ẩn

Ghẹo gió heo mây khéo thẫn thờ

 

Ảnh 31

 


Tươi thắm đài trang khoe hương sắc

Trơ cành duyên dáng cành đơm hoa

Cả bầu trời hồn xuân gieo rắc

Xuân lồng lộng nhạc xuân ngân nga

 

Ảnh 32

 


Tàn đông Xuân đến hoa, nhiều hoa

Trời xanh mây trắng sắc chan hòa

Trong tay hai kẻ cùng thưởng thức

Uớc vọng tương lai thật ngọc ngà


Hoa xinh khuya nở sáng tàn

 Quỳnh hoa hương sắc bàng hoàng ngẩn ngơ...

Thơm tho chỉ được vài giờ

Sắc màu héo úa thẫn thờ kiếp hoa

 

Ảnh 40

 


Cả trời mơ... những dòng thơ...

Hỡi nàng duyên dáng thẫn thờ chi đây

Lệ buồn trên má hây hây

Vân vê gió ướm tóc mây buông dài

 

Ảnh 41

 


Nóng nắng hè cây héo đất khô

Lá hoa cằn cỗi mặt đất mô

Mầm non xào úa gay gắt gió

Thân cây gầy guộc cành chơ vơ

 

Ảnh 47

 


Em gái Sài Gòn ơi thấy thương

Ngồi xích-lô đạp sao trống trơn

Gió hốt lá khô đường tốc bụi

Gầm gừ sấm chớp mưa, mưa tuôn

 

Ảnh 48

 

Ác dịch cộng Tàu gây thảm não

Thế giới chung lòng chống dã man

Chẳng ngại màu cờ hay sắc áo

Đập nát âm mưu kẻ bạo tàn

 


Một hôm soạn lại tủ sách gia đình, tình cờ tôi tìm thấy thi tập “Áo

Trắng Tình Hồng”... có tên tác giả cùng tên những hình ảnh nhận được để viết cảm nhận. Suy nghĩ một hồi tôi mới chợt nhớ mình có biết ông Hoàng Xuân Thảo, gần 20 năm trước do nhà văn quá cố Nguyễn Văn Ba giới thiệu.

 

Tôi chụp ảnh gởi đến ông Hoàng Xuân Thảo (bìa trước, và bút ký cùng thời gian ông đề tặng sách). Ông trả lời Email của tôi:

“...Thật là kỳ diệu.

Cảm ơn chị Dư Thị Diễm Buồn

vẫn còn giữ thi tập Áo Trắng Tình Hồng...”

 

Sau cùng tôi đã mạo muội cảm đề bài thơ “Những Kẻ Bán Hàng”

của tác giả Hoàng Xuân Thảo, trước thời gian không lâu, ông vĩnh viễn từ giã cõi đời, ngày 6 tháng 2 năm 2021. Tôi đã giữ tròn bài thơ của ông trong hộp thư của mình, nhưng bị lạc mất gần hết bài! Chỉ có 4 câu đầu (thời gian đó tôi đã viết gởi đến bạn đọc và các Diễn Đàn mình cộng tác tìm dùm. Xin lỗi... đến khi sách phát hành vẫn chưa tìm được bài thơ của ông).

 

NHỮNG KẺ BÁN HÀNG

“.................

Mời quý vị mại vô kẻo hết

Tôi chỉ bán thôi một món hàng

Hàng tôi:Những vần thơ chống Cộng

Cho tới khi sức kiệt hơi tàn...

................” Hoàng Xuân Thảo

 

CÓ KẺ MUA HÀNG

Mạo muội cảm đề bài thơ

“Những Kẻ Bán Hàng” của tác giả

Hoàng Xuân Thảo. DTDB

Tin vui đến, nghe hàng anh rao bán

Có bao nhiêu, tôi xin hứa sẽ mua

Vì hàng không lỗi thời theo năm tháng

Vẫn tinh anh không đổi sắc theo mùa

Ngoài chợ đời trưng bày hàng đủ loại

Kiếp nhân sinh muôn vạn thứ bán mua

Con người, nhân cách, lọc lừa độc hại...

Hàng đổi, trao... có kẻ thiếu người thừa

 

Chuyện bán buôn thời nào, đâu cũng có

Nhưng ngộ nghĩnh là ở cõi quê Nam

Sau ba mươi tháng tư, bảy lăm đó

Bắc Cộng tràn vô... bán đủ thứ hàng

Bán bàn, giường, tủ, ghế, quần áo mới...

Bán tàu, xe, bán đất, bán cửa nhà...

Làm sao sống nỗi cực cùng ào tới...

Giặc vào cướp giựt... công khó ông cha

Chị không tiền thăm chồng tù Việt Bắc

Tận vùng biên giới, sát nước Cộng Hoa

Chướng khí rừng thiêng tấm thân héo hắt

Thuốc men chẳng có, có bãi tha ma!

Nhà không đủ no làm sao con học

Cha mẹ yếu già đau bịnh triền miên

Nửa đêm trăn trở sụt sùi chị khóc!

Nhắm mắt bán thân đổi lấy chút tiền

Đã mấy mươi năm ông làm thầy giáo

Chỉ còn vài tháng đến tuổi nghỉ hưu

Vợ bịnh liệt giường... đề thi đánh tráo

Đành bán lương tâm, dẫu phải tội tù

Những kẻ giả nhơn, bán dần dân tộc

Bảo tàng, tích sử, rừng, biển... Việt Nam

Bán đất đai, vườn, ruộng vàng lúa thóc

Dâng núi sông, Tàu Cộng giả mua hàng...

Còn anh rao bán những bài mình viết

Những bài chống Cộng, chống bọn xâm lăng

Với ẩn ý, đáy lòng đầy tâm huyết

Vắt máu tim thay mực kết thơ văn...

Tôi xin mua những vầng thơ, văn... đó

Của những ai chống Cộng cứu quê hương

Dẫu lời nhẹ nhàng... qua cây bút nhỏ

Mạnh hơn thiên binh, vạn mã... phi thường!

 

Thơ chống Cộng không mua bằng tiền bạc

Văn Chống Cộng không đổi của là xong

Là ý nghĩa... là thơ văn tuyệt tác

Trả bằng con tim, khối óc, tấm lòng...

 

Thật sự tôi không biết gì nhiều

về bác sĩ Hoàng Ngọc Khôi.

Trong tôi, ông:

“Hoàng Xuân Thảo

 

Là Một Văn Nghệ Sĩ Đa Tài Và Khả Kính”.

Thành tâm kính ngưỡng và tưởng niệm!

 

Trích trong tuyển tập“Bóng Thời Gian.2”

Phát hành tháng 1, năm 2024


Tệ xá Diễm Diễm Khánh An

California những ngày cuối Đông

DƯ THỊ DIỄM BUỒN

Email: dtdbuon@ hotmail.com