Showing posts with label Bình Thơ. Show all posts
Showing posts with label Bình Thơ. Show all posts

Thursday, April 9, 2026

ĐỌC "MỢ HỮU" CỦA TRẦN NHUẬN MINH (ĐẶNG XUÂN XUYẾN)

 


Đọc “MỢ HỮU”

CỦA TRẦN NHUẬN MINH 

*

Gần 20 năm viết sách và kinh doanh sách kiếm tiền, tôi không mặn mà tới mấy chuyện thơ văn nên khi dàn trang đưa bài “Trần Nhuận Minh - Thi Nhân “Sĩ Phu Bắc Hà”” lên blog Trang Đặng Xuân Xuyến, tôi mới biết Trần Nhuận Minh là nhà thơ tài hoa. Chả trách, nhà thơ Chu Vương Miện ở tận Hoa Kỳ “say” ông đến “mê mẩn”. 

Và cũng từ vô tình đó mà tôi biết, rồi thích bài thơ MỢ HỮU của ông.

MỢ HỮU

.

Cậu xây xong nhà ba tầng

Người cứ dần dần héo quắt

Thế rồi một sớm tinh mơ

Cậu cứ lặng im mà mất

.

Cô bác từ quê ra viếng

Thấy mợ dịu dàng mảnh mai

Mà nhà thì to đẹp thế

Biết rồi sẽ về tay ai?

.

Em chồng mắt lườm miệng nguýt

Vô tâm mợ có thấy đâu

Thương cậu, mợ không biết khóc 

Thỉnh thoảng lại hờ một câu

.

Mợ khổ từ hồi tấm bé

Mong chi lầu trắng gác xanh

Cậu chết mợ thành người lạ

Bơ vơ trong chính nhà mình

.

Chẳng thiếu kẻ đe người ướm 

Nhà xinh mợ lại càng xinh

Như con thuyền nan không bến 

Lênh đênh trong chính phòng mình

.

Khách khứa dập dìu lá gió

Đêm đêm chớp bể mưa nguồn

Mắt mợ dần dần hoang vắng

Họ hàng mợ cứ quên luôn

.

Mợ đáng thương hay đáng trách

Trời ơi! Tách bạch làm chi

Dòng sông muôn đời vẫn thế 

Đục trong thì vẫn trôi đi

*.

Hải Phòng, năm 1990

TRÀN NHUẬN MINH

Vâng. Tôi thích bài thơ Mợ Hữu đậm chất tự sự của Trần Nhuận Minh.

Mở đầu bài thơ, là lối kể chuyện chầm chậm, nhẩn nha, như để nén những cảm xúc sẽ ùa về, sợ sẽ làm vỡ chuyện về người “Cậu”, người “em của mẹ”. Bốn câu thơ ở khổ thơ kể về người “Cậu” thật giản dị, mộc mạc, hệt lối nói dân dã, chân chất của người chân quê. Chỉ thế thôi mà người đọc thấy được “Cậu” của nhà thơ là người “một nắng hai sương”, chỉn chu, căn cơ, chất phác. Từ “cứ” được sử dụng như một điệp từ, lặp 2 lần trong 4 câu thơ của khổ thơ như nhấn thêm, xoáy sâu thêm vào sự bất lực, xót xa trước sức khỏe có chiều hướng xấu đi trông thấy của người “Cậu”. Hai từ “Thế rồi” ở câu thứ 3 thốt ra thật nhẹ, nghe như buông xuôi, như tuyệt vọng mà sức nặng ngàn cân:

Cậu xây xong nhà ba tầng

Người cứ dần dần héo quắt

Thế rồi một sớm tinh mơ

Cậu cứ lặng im mà mất

Sau khổ thơ tự sự thật nhiều cảm xúc về người “Cậu”, nhà thơ bắt đầu kể về người “Mợ”, bằng cách đặt hình ảnh “Thấy mợ dịu dàng mảnh mai” bên cạnh “Mà nhà thì to đẹp thế” để đẩy lên nỗi xót xa của “cô bác”, của những thân bằng quyến thuộc, dành cho người vừa mất: tài sản làm ra mà không được hưởng. Câu nghi vấn, cũng là câu cảm thán, của lối suy diễn bạc bẽo và đố kỵ của thói đời: “Mà nhà thì to đẹp thế / Biết rồi sẽ về tay ai?”. Nghe sao mà chua xót!

Nỗi đau đời được Trần Nhuận Minh đẩy cao thêm: “Em chồng mắt lườm miệng nguýt”, làm đau hơn cái thế thái nhân tình bị sức mạnh vật chất chi phối. Thì ra, người ta đến đám tang người thân phần ít là vì đau xót, mà phần nhiều là vì ấm ức, đố kỵ, là ngóng kiếm chác từ khối tài sản kếch xù của người vừa mất, xác vẫn còn đang nằm trong quan tài giữa nhà. Thật là tàn nhẫn, bỉ ổi! 

Hình ảnh “Em chồng mắt lườm miệng nguýt” làm ta nhớ tới mối quan hệ “chị dâu em chồng” vốn đã được mặc định chả tốt đẹp gì trong tiềm thức dân gian. Chỉ câu “Em chồng mắt lườm miệng nguýt”, Trần Nhuận Minh đã khắc họa mối quan hệ giữa “Mợ” và “Em chồng” rõ đang ở thế gầm ghè, căng thẳng, sắp chực trào vì sức hút của kim tiền, khiến ta chạnh lòng thêm về hình ảnh người mẹ rất thực dụng trong ca dao: “Em đã bảo mẹ rằng đừng/ Mẹ hấm mẹ hứ mẹ bưng ngay vào.”. 

Gia đình chồng (cô bác) thì như thế. Em chồng thì như vậy. Tất cả đều ghé mắt vào khối tài sản “Cậu” để lại mà hậm hực, mà đố kỵ. Còn “Mợ” thì sao? Nếu ở khổ thơ trước, Trần Nhuận Minh kể “Mợ” của ông đẹp về hình thức “Thấy mợ dịu dàng mảnh mai”, thì ở những khổ thơ này, ông kể về bản chất thật thà, chân chất của người “Mợ”: “Vô tâm mợ có thấy đâu / Thương cậu, mợ không biết khóc / Thỉnh thoảng lại hờ một câu.”. 

Và ông trần tình thêm về người “Mợ”:

Mợ khổ từ hồi tấm bé

Mong chi lầu trắng gác xanh

Cậu chết mợ thành người lạ

Bơ vơ trong chính nhà mình

Đến đây, người đọc thấy nhói lòng, đau xót quá. 

Câu ca dao “Cậu chết mợ ra người dưng” đã phũ phàng, đen bạc chốn dân gian nhưng qua sự kế thừa của Trần Nhuận Minh, ông đẩy sự tàn nhẫn, đen bạc đó cao lên thêm một bậc: “Cậu chết mợ thành người lạ”, bởi “người dưng” chỉ người ngoài, người không có quan hệ họ hàng, thân thích, còn “người lạ” chỉ người không hề quen biết, khiến hình ảnh người “Mợ” “bơ vơ trong chính nhà mình” càng tăng thêm ám ảnh, đau xót.

Dường như quá bất bình với những đố kỵ, hẹp hòi từ những kẻ mượn danh người thân hòng sang đoạt tài sản của người “Mợ”, từ những toan tính trục lợi của những kẻ cơ hội, nhà thơ đã chua xót lật tẩy thói đời khốn nạn của những kẻ lòng dạ nhơ bẩn, đau đáu vì tiền: “Chẳng thiếu kẻ đe người ướm / Nhà xinh mợ lại càng xinh”; và cảm thán sự bất lực, lẫn cả sự bất hạnh của người “Mợ” chân chất, hiền lành trước lũ người gian manh, đểu cáng khi mà người phụ nữ “chân quê” đó chỉ mong có được sự bình yên nhỏ nhoi với một hạnh phúc bình dị, giản đơn cũng không có được: “Như con thuyền nan không bến / Lênh đênh trong chính phòng mình.

Nhà thơ tiếp tục đau xót với nỗi cảm thương cho người “Mợ” bằng những dòng thơ viết về tận cùng nỗi cô đơn: “Khách khứa dập dìu lá gió / Đêm đêm chớp bể mưa nguồn”; về nỗi đau âm ỉ của niềm tin, của tình nghĩa đã cạn kiệt, héo rũa: “Mắt mợ dần dần hoang vắng / Họ hàng mợ cứ quên luôn”. Từ “cứ” lần nữa được nhà thơ sử dụng, như thêm một mặc định tất nhiên để cảm thông cho người “Mợ”.

Rồi nhà thơ tự hỏi, tự vấn lòng mình: “Mợ đáng thương hay đáng trách”? Và kêu lên tiếng than, nửa như tự trách mình, nửa như trách cứ người đời: “Trời ơi! Tách bạch làm chi.”, để tiếp tục lại tự trấn an mình bằng triết lý có phần an phận, chấp nhận xuôi theo thói đời vô cảm như đã thành thông lệ, thành chân lý của dòng đời: “Dòng sông muôn đời vẫn thế / Đục trong thì vẫn trôi đi.”

Bài thơ khép lại với một tiếng thở dài.

*

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Saturday, March 14, 2026

HƯƠNG QUÊ - BÀI THƠ CỦA PHƯƠNG NGỮ BẮC BỘ…(DƯƠNG DIÊN HỒNG)

 


HƯƠNG QUÊ -

BÀI THƠ CỦA PHƯƠNG NGỮ BẮC BỘ…

 

Tôi đọc “Hương Quê” của tác giả Đặng Xuân Xuyến cách đây khá lâu. Gần đây, đọc lại kỹ hơn. Không phải muốn đền ơn bạn Xuyến đã xem chỉ tay mà thật lòng là thích bình bài thơ này. Thi thoảng tôi vẫn có cảm hứng bình cho vui, thuận tiện nhất là khi rảnh. Đó là thú “thích thì nhích” đời thường của người dạy Văn, học Văn. 

Bài thơ Hương Quê có nhiều từ mới, đối với tôi, cũng cần đi sâu để hiểu thêm về Văn chương của các nhà Văn Bắc bộ…

Hôm nay, thong thả đọc thơ và cảm nhận chút chút…

HƯƠNG QUÊ 

.

Hương cốm nhà bên duyềnh sang nhà hàng xóm

Cô bé thậm thò vắt ngang dải yếm

Níu bờ sông

Ơi ời “ra ngõ mà trông”

Vi vút gió đồng...

.

Ngẩn ngơ 

giấc mơ

Níu đôi bờ bằng dải yếm

Chuốt tóc mềm làm gối chăn êm

Áo tứ thân trải lá lót nằm

Gom gió lại để chiều bớt rộng...

.

Thẩn thơ

Tiếng mơ thầm thĩ

“Người ơi...

Người ơi...”

Dan díu lời thề

Ngõ quê líu quíu.

*.

Hà Nội, chiều 31.08.2017

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Bài thơ Hương Quê viết vào một ngày cuối tháng 8 năm 2017. Đó là lúc đã sang thu. Không hiểu sao đọc bài thơ, tôi lại thấy rất là mùa Xuân. Gần đây, tôi đọc được một câu comment của cô giáo Kim Tuyết (cô dạy Anh Vǎn hồi lớp 7) cho bài thơ Tết của mình và nhận ngay được lì xì của cô từ một câu chữa lành rất thấm: “Khi tâm hồn an nhiên thì ngày nào cũng có thể là Tết…” 

Tâm hồn tôi bây giờ đang nhìn về mùa thu mà như gặp một mùa Xuân đấy, tuy có chủ quan, nhưng không phải vô căn cứ khi tiếp xúc với bề mặt ngôn từ của Hương Quê

Trong đời sống của người nông dân Bắc bộ truyền thống, ngoài vụ lúa Chiêm Xuân thì vụ MÙA rất là quan trọng. Cây lúa được gieo trồng tầm tháng 5-6 và thu hoạch từ tháng 9-11. Vụ MÙA tuy thời tiết mưa gió nhiều nhưng lại cho năng suất cao. Lúc sang Thu, hương của đòng đòng dậy lên khiến lòng người rộn ràng một niềm vui rất Tết: 

“ Hương cốm nhà bên duyềnh sang nhà hàng xóm

Cô bé thậm thò vắt ngang dải yếm

Níu bờ sông

Ơi ời “ra ngõ mà trông”

Vi vút gió đồng...” 

Khoan đề cập đến việc dùng nhiều từ láy, khổ thơ này có một từ rất thú vị: “duyềnh”.

Duyềnh” chắc là một cách phát âm địa phương ở làng quê của nhà thơ cho từ “ duềnh” đã chính thức xuất hiện trong từ điển của nhà ngôn ngữ Lê Ngọc Trụ. 

Duềnh" (còn gọi là doành) là một từ cổ trong văn chương, có nghĩa là vũng nước, dòng nước sâu, đầm nước, hoặc chỗ dòng sông sâu tạo thành vực. Từ này gợi tả cảnh tượng sông nước mênh mông, sâu lắng. 

Và “duềnh” xuất hiện trong Truyện Kiểu vài lần: 

- “Buồn trông gió cuốn mặt” 

- “Kiều từ gieo xuống duềnh ngân”

- “Trong sao châu nhỏ duềnh quyên 

Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông”

Duyềnh quyên” được Từ điển Việt Nam của thầy Lê Ngọc Trụ giải thích: vũng nước có ánh trăng soi lấp lánh, cũng được hiểu là cảnh đẹp thoáng đãng, trữ tình…

Trở lại câu thơ “hương cốm nhà bên duyềnh sang nhà hàng xóm” thì từ “duyềnh” có lẽ không còn là hình ảnh một vùng nước loang mà nó là một động thái miêu tả cái cách hoạt động của một thực thể khác tác động đến khứu giác và có khả năng lưu giữ những ký ức về làng quê thân thuộc. Đó chính là “hương cốm”. 

Dùng trí tưởng tượng, nhắm mắt lại người ta vẫn có thể hình dung mùi hương của cốm (lúa non) như loang ra khắp một không gian sáng bừng quanh thân. Ngửi thấy mà như được nhìn cái hương sắc của mùa lúa mới tinh khôi. 

Hương quê quá là quyến rũ! 

Một chút sáng tạo từ ngữ rất thú vị! 

Tôi tin là AI không thể làm được những câu thơ như này…

Bên cạnh hương cốm còn có hương vị cuộc đời. Xuyến tả hình ảnh của cô gái nhà hàng xóm khiến mình liên tưởng đến bài ca dao:

“Thân em như chẽn lúa đòng đòng 

Phất phơ giữa ngọn nắng hồng buổi mai” 

Cô gái ấy đang “thậm thò” phía nhà bên vì đang phơi dải yếm mới giặt trên sào đồ có hai sợi dây mắc song song được ví như đôi bờ sông ngăn một dòng không có nước treo lơ lửng hay trong ánh nhìn của nhà thơ hình ảnh cô bé thoắt ẩn thoắt hiện hình như có một nguồn nước rất phồn thực, căng tràn nhựa sống sau làn dải yếm được buộc chặt như níu giữ đôi bờ - đôi gò bồng đảo gần lại nhau hơn? Mình thích cách nhìn ảo ảnh vừa xa, vừa gần này hơn. Hoàn toàn rất thanh tao mà cũng rất thanh tân trong vẻ đẹp làng quê…

Thường thì khi miêu tả cái gì lúc nhô, lúc hạ xuống người ta dùng từ “thập thò”. Ở đây tác giả lại dùng từ “thậm thò”. Cũng đều là từ miêu tả hành vi thể hiện góc nhìn lén, nhìn mà không thấy rõ nhưng vẫn ngại bị phát giác đã nhìn. Bên trong lớp “dải yếm” là vẻ đẹp rất kín, rất bí ẩn, chính vì có sự lỡ nhìn vào nên ắt hẳn cả người nhìn và người bị nhìn không tránh khỏi thẹn thùng…

Và đặt cảm xúc trong ngữ cảnh câu thơ thì “thậm thò” khiến âm điệu thơ tinh tế, nhẹ nhàng, mang nang… không có tính chất mạnh bạo, vồ vập theo kiểu đang bị cuốn hút đầy dục tính khi đối diện với cái đẹp non tơ, nõn nà…

Ở đây, kế thừa cách nói dân gian khi sử dụng Từ láy nhưng tác giả hoàn toàn có chủ đích khi phối thanh nhằm tạo âm điệu thơ theo cảm xúc rất riêng: nhẹ nhàng, trầm lắng và tinh tế. 

Hương sắc của làng quê dẫn dắt người thơ đến với thanh nhạc. Tâm hồn Đặng Xuân Xuyến cũng náo nhiệt dữ lắm: 

“Ơi ời “ra ngõ mà trông” 

Vi vút gió đồng…”

Thì ra, cái rộn ràng của tâm hồn ao ước chuyện lứa đôi được gửi gắm, nhắc khéo câu đầu của lời gốc bài dân ca Quan họ Bắc Ninh “Ra ngó vào trông”:

“Ngày ngày ra ngõ mà trông.

Bạn không thấy bạn tình không thấy tình.

Vào rừng xe rễ một cây

Muốn đây với đấy cùng nhau sum vầy

Chuồn chuồn mắc phải tơ vương

Đã trót dan díu thời thương nhau cùng.” 

Từ láy “Ơi ời” hạ giọng phối hợp với từ láy “vi vút” nâng giọng cho thấy tâm hồn nhà thơ rất động, có đủ trầm bổng ngân nga…

Khổ thứ hai quả nhiên là sự tiếp nối cái cảm xúc đang “vỡ bờ” của thi sĩ: 

“Ngẩn ngơ 

giấc mơ

Níu đôi bờ bằng dải yếm

Chuốt tóc mềm làm gối chăn êm

Áo tứ thân trải lá lót nằm

Gom gió lại để chiều bớt rộng...”

Những gì suy đoán ở khổ 1 đã được khẳng định ở khổ 2. Hình ảnh trung tâm trong bức tranh làng chính là cô gái nhà bên. Nàng vừa gần vừa xa, vừa thực vừa mơ, vừa gần gũi ấm áp nhưng cũng không dễ chạm. Thế nên tâm trạng ai kia “ngẩn ngơ” là hoàn toàn hợp lẽ…

Từ “hương cốm” tả thực đến cảm nhận “hương em” lại rất trừu tượng. Hương quê là sự hòa quyện mùi thơm cây lúa với hương con người tan chảy trong mùi hương của mái tóc mềm, dường như có hương bưởi, hương chanh và có cả hương lá chuối được lót thay chiếu cho em nằm phô tự nhiên chiếc áo tứ thân và dải yếm đào trễ xuống đôi bờ phồn thực…

Không chỉ “ngẩn ngơ” chốc lát mà trạng thái như mất hồn này trải dài theo thời gian, không gian. Nhà thơ muốn gần thêm một chút, cho cõi đời bớt rộng, cõi lòng sẽ bớt cô đơn. Mong muốn níu để giữ mãi cái không nỡ xa rời dù biết rằng đó là một hình ảnh, một mùi hương thoang thoáng. 

Bức tranh thơ muốn gửi gắm niềm khát khao về những điều thân thuộc,chân chất trong nếp sống văn hóa truyền thống của người Việt. 

Cảnh quê, hương quê hãy cứ thế! Hãy cứ “chuốt tóc mềm làm gối chăn êm”và hãy thong dong trên đồng “áo tứ thân trải lá lót nằm” để thấy thiên nhiên làng quê mới chính là thiên đường trong cuộc sống hiện tại. 

Bài thơ khép lại với âm điệu trìu mến và nồng nàn: 

“Thẩn thơ

Tiếng mơ thầm thĩ

“Người ơi...

Người ơi...”

Dan díu lời thề

Ngõ quê líu quíu.” 

Hàng loạt từ láy gợi hình, gợi âm xuất hiện: thẩn thơthầm thĩdan díulíu quíu khiến đoạn thơ có vẻ rất tăng động. Nhịp thơ lại dồn dập, hối hả như gọi như mời trở về quê hương cho những cuộc gặp gỡ ấm tình của những “liền anh”, “liền chị” trong đêm trăng quan họ say bất tận quên cả lối về…

Thầm thĩ” chứ không phải “thầm thì”. “Líu quíu” chứ không phải “líu ríu” bởi đây là cách dùng từ của Đặng Xuân Xuyến. Đặt các từ này trong ngữ cảnh bài thơ, ta thấy tác giả dựa trên yếu tố đồng nghĩa, kế thừa ngôn ngữ chung của dân tộc nhưng dùng theo cách biểu cảm riêng, rất chắt lọc và luôn định hình một ý thức sáng tạo để rót “rượu cũ” vào “chiếc bình mới” cho thơ ca hiện đại, mở rộng trường liên tưởng của những từ ngữ quen thuộc, giúp người đọc có thêm những góc nhìn cảm xúc mới, mở rộng vốn từ cho kho từ vựng tiếng Việt thông qua những phương ngữ của làng quê Bắc bộ. 

*.

Tây Ninh, 11 tháng 3 năm 2026

DƯƠNG DIÊN HỒNG

(Giảng viên trường Cao Đẳng Sư Phạm Tây Ninh)

Địa chỉ: Hẻm 1, Đường Bời Lời, phố Ninh Trung, 

phường Ninh Sơn, thành phố Tây Ninh.



Thursday, February 19, 2026

ĐẶNG XUÂN XUYẾN: TIẾNG THỞ DÀI CỦA BI KỊCH NHÂN SINH (ĐỖ ANH TUYẾN)

 


ĐẶNG XUÂN XUYẾN: TIẾNG THỞ DÀI

CỦA BI KỊCH NHÂN SINH

 

Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ "Tôi lại thở dài ngó xa xăm" của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.

TÔI LẠI THỞ DÀI NGÓ XA XĂM

.

Tôi xa làng Đá đã nhiều năm

Từ độ người ta tuổi chớm Rằm

Cái tuổi xúi người say má thắm

Thả hồn mơ mộng mãi xa xăm

.

Tôi nhớ, người ta một cuối năm

Giữa chiều mưa ấy rét căm căm

Mặc tôi thảng thốt chặt tay nắm

Vẫn nhẹ lắc đầu ngó xa xăm.

.

Tôi biết người ta với làng Chằm

Ân tình riêng nặng đã nhiều năm

Người ta lại giỏi cam chịu lắm

Mặc kẻ làng Chằm biệt biệt tăm.

.

Tôi về làng Đá mỗi cuối năm

Nhìn người hóa đá giữa đêm Rằm

Tuổi xuân tự lấp sâu vạn dặm

Tôi lại thở dài, ngó xa xăm...

*.

Hà Nội, 26 tháng 01 năm 2026

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Sức hấp dẫn đầu tiên của tác phẩm nằm ở nghệ thuật kiến tạo hình ảnh và xây dựng tứ thơ độc đáo. Đặng Xuân Xuyến đã khéo léo khai thác tứ "Vọng phu" nhưng đặt trong bối cảnh đời thường, không mở ra theo chiều rộng của không gian mà xoáy sâu vào chiều âm của số phận, khiến nó trở nên gần gũi mà buốt nhói. "Làng Đá" – từ một địa danh hành chính cụ thể – qua dòng thời gian đã biến chuyển thành một biểu tượng nghệ thuật: sự hóa thạch của nỗi đau. Hình ảnh "Người hóa đá giữa đêm Rằm" là một nhãn tự đắt giá, lột tả sự tàn nhẫn của thời gian. Ở đó, người phụ nữ không hóa đá trên đỉnh núi cao để thiên hạ chiêm bái, mà họ "tự lấp sâu vạn dặm" tuổi xuân của mình ngay giữa lòng làng quê, trong sự im lặng của lòng thủy chung lầm lạc. Đây là một bước chuyển mình về tư duy nghệ thuật. Sự "hóa đá" ở đây không phải là sự thăng hoa thành huyền thoại, mà là một sự "tự lấp sâu vạn dặm" của tuổi xuân. Tác giả đã nhìn ra một bi kịch hiện đại: con người ta không chết đi, nhưng họ tự đóng băng đời mình trong sự cam chịu và những giá trị đã lỗi thời.

Để chuyển tải tứ thơ ấy, Đặng Xuân Xuyến đã xây dựng được những cặp hình ảnh đối lập đầy ám ảnh. Hình ảnh "má thắm" của tuổi trăng tròn đối diện với cái "ngó xa xăm" vô định ngay từ khổ đầu đã dự báo về một sự lệch pha giữa sức sống thanh xuân và định mệnh u buồn. Đặc biệt, chi tiết "thảng thốt tay chặt nắm" trong chiều mưa "rét căm căm" là một nhãn tự đắt giá. Chữ "thảng thốt" ở đây không chỉ là trạng thái tâm lý mà là một hành động vật lý mang tính biểu đạt cao; nó cho thấy sự chới với của một người đang cố níu giữ cái thực tại đang tan rã. Đối lập với sự "thảng thốt" ấy là cái "nhẹ lắc đầu" – một hình ảnh tĩnh lặng nhưng có sức công phá mạnh mẽ hơn mọi lời cự tuyệt. Đặng Xuân Xuyến đã dùng cái "tĩnh" để chế ngự cái "động", dùng sự im lặng để biểu đạt sự tuyệt vọng cùng cực. Chính sự "giỏi cam chịu" mà nhà thơ nhắc đến không đơn thuần là lời ngợi ca phẩm hạnh, mà là một tiếng thở dài phê phán những lề thói, những ân tình cũ kỹ đã vô tình giam cầm biết bao kiếp người.

Cái hay của tứ thơ còn nằm ở sự dịch chuyển điểm nhìn. Từ cái nhìn khách thể của người đi xa trở về, tác giả chuyển dần sang sự đồng cảm và cuối cùng là sự đồng điệu trong nỗi đau. Câu kết "Tôi lại thở dài, ngó xa xăm" là một sự lặp lại có chủ đích, hoàn tất vòng lặp của bi kịch. Nếu cái "xa xăm" của người phụ nữ là sự chờ mong kẻ biệt tăm, thì cái "xa xăm" của thi sĩ là sự bất lực trước sự tàn nhẫn của thời gian và lòng người.

Trong chỉnh thể của bài thơ "Tôi lại thở dài ngó xa xăm", Đặng Xuân Xuyến không cầu kỳ trong việc dụng chữ bằng những thuật ngữ tân kỳ, nhưng lại đặc biệt thành công trong việc kiến tạo một hệ thống ngôn ngữ giàu tính gợi hình và một tứ thơ mang đậm hơi thở của bi kịch nhân sinh. Ngôn ngữ và hình ảnh trong tác phẩm này không tồn tại độc lập mà đan cài chặt chẽ để phục vụ cho một ý đồ nghệ thuật nhất quán: sự hóa thạch của nỗi đau.

Khổ thơ cuối là một sự thăng hoa của cảm xúc nhưng lại hạ cánh trong một hiện thực tàn khốc. Hình ảnh "Nhìn người hóa đá giữa đêm Rằm" là một ẩn dụ đầy sức nặng. Làng Đá không còn là tên gọi hành chính, nó đã thấm vào máu thịt, vào số phận của con người. Người phụ nữ ấy, sau bao năm tháng đợi chờ, đã tự hóa thạch chính tuổi xuân của mình. Cụm từ "Tuổi xuân tự lấp sâu vạn dặm" gợi lên một sự hy sinh tự nguyện nhưng vô vọng, một sự tự chôn vùi cái tôi cá nhân vào hố sâu của định kiến và lòng thủy chung lầm lạc.

Điểm đáng chú ý nhất về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ là hệ thống vần "ăm" (năm, Rằm, thắm, xăm, căm, nắm, Chằm, tăm, dặm) được gieo xuyên suốt tác phẩm. Trong ngữ âm tiếng Việt, vần "ăm" là một âm đóng, tạo cảm giác tù túng, quẩn quanh và bế tắc. Việc lặp lại âm hưởng này không chỉ tạo nên tính nhạc cho bài thơ mà còn tạo ra một không gian tâm lý chật hẹp, nơi nhân vật trữ tình và cả người phụ nữ kia đều bị giam cầm trong những ký ức không lối thoát. Bên cạnh đó, cách sử dụng các từ láy như "căm căm", "thảng thốt", "biệt biệt tăm" đã đẩy cao tính biểu cảm, làm đậm thêm cái lạnh lẽo của không gian và cái dài dặc của thời gian.

Kết thúc bài thơ, tác giả lặp lại hành động "ngó xa xăm" nhưng lần này là cái nhìn của chính chủ thể trữ tình. Nếu cái "xa xăm" của người phụ nữ là sự chờ đợi vô định, thì cái "xa xăm" của nhà thơ là sự bất lực trước vòng xoáy của nhân duyên và số phận. Tiếng thở dài của Đặng Xuân Xuyến không chỉ dành cho một mối tình đơn phương, mà là tiếng thở dài cho những kiếp người tự buộc mình vào những giá trị xưa cũ để rồi tàn héo trong thầm lặng.

Bằng việc sử dụng ngôn ngữ giàu nhạc tính và xây dựng những hình ảnh có sức nặng biểu tượng, Đặng Xuân Xuyến đã nâng một câu chuyện tình lỡ dở lên thành một suy tưởng về thân phận. Bài thơ không chỉ là tiếng lòng của một cá nhân mà là bản cáo trạng nhẹ nhàng nhưng buốt nhói về những lề thói, những ân tình cũ kỹ đã vô tình chôn vùi biết bao kiếp người trong sự tĩnh lặng đáng sợ.

Có thể nói, với "Tôi lại thở dài ngó xa xăm", Đặng Xuân Xuyến đã thành công trong việc nâng một câu chuyện riêng tư lên thành một suy tưởng mang tính nhân văn sâu sắc. Bài thơ không chỉ chạm đến trái tim độc giả bằng sự chân thành, mà còn khẳng định bản sắc của một cây bút biết cách dùng những ngôn từ giản dị để chạm tới những vỉa tầng sâu kín nhất của tâm hồn con người.

*

ĐỖ ANH TUYẾN

Địa chỉ: Khu Cộng Hòa, thị trấn Thanh Nê, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình