Monday, July 22, 2024

TƯỞNG NHỚ MỘT TINH LONG (YÊN SƠN)

 

Tưởng Nhớ Một Tinh Long

ngày 1.03.21 

 


Tiễn Biệt Tinh Long Nguyễn Phan Quang Trung
Cựu SVSQKQ/Khoá 69A. Pilot PĐ 821 Tinh Long/KĐ53CT/SĐ5KQ

 

Tinh Long ơi!
Xin trở về ngày cũ
Những sáng bánh mì, xôi nắm đi bay
Đêm đêm về, nghèo kiết xác cũng say
Say với những thằng còn sống
Say cho bạn mình vừa nằm xuống
Tinh Long ơi!
Một đời trai oan uổng
Mộng chưa thành mình đã phải tha hương
Nhớ bạn bè trong tiền kiếp đau thương
Nay bạc tóc
Ở một nơi không là Tổ Quốc

Trung ơi!
Tao đã cố quên
Nhưng không thể nào quên được
Một thời ngang trời…
Chúng mình cùng đi giữ quê hương
Giữ làm sao để có cảnh đoạn trường
Kẻ chết ở trại cải tạo
Người chôn thân trên biển cả
Hàng triệu người chen chân vội vã
Bỏ nước ra đi tản lạc quê người
Nhìn lại quê hương nước mắt ngậm ngùi
Nhớ bè bạn, nhớ Tinh Long xa xót

Trung ơi!
Nay ở quê xa
Chúng tao đến đây tiễn mầy đi… lần chót
Về bên kia thế giới an bình
Về một nơi không còn vướng bận tử sinh
Cũng không phải bận lòng chuyện nước non đã ngoài tầm tay với
Xin hộ trì cho đại gia đình Tinh Long
Cùng với vợ con mầy trong những tháng ngày sắp tới
Được an bình, được nhiều nghị lực để vượt qua
Để còn mong có một lúc không xa
Được thấy quê hương trở mình toả sáng
Và nắm tro tàn của mầy sẽ được cải táng
Trên ruộng trên đồng xứ sở Long An.
Vĩnh biệt Trung

Ngày 27/2/2021

YÊN SƠN

TÔI GÁNH THỊ PHI (TONY PHƯỚC)

 

Tôi Gánh Thị Phi – Proshow: Tony Phước

 


https://www.youtube.com/watch?v=R4lpZd8GyEs&list=PLfu6HhNsXhj3REN4ZEcJRHDQDyeMsN62c&index=2

 


THÁNG BẢY 1954{ 70 NĂM SAU, TỪ KHI ĐẤT NƯỚC CHIA ĐÔI (GIAO CHỈ SAN JOSE)

 

Tháng Bảy 1954: 70 năm sau,

từ khi đất nước chia đôi

Giao Chỉ San Jose


 

                                      

(Viết cho bằng hữu tháng tư 1954. Chúng tôi 300 thanh niên trình diện trại Ngọc Hà động viên vào Đà Lạt cùng hát bài ca Hà Nội ơi, năm 20 tuổi chưa từng biết yêu. Sau 21 năm chinh chiến, tháng tư 75 khóa Cương Quyết hát tiếp. Bao nhiêu mộng đẹp, tan ra thành khói, bay theo mây chiều. 

Ngày nay, tháng 7-2024 vào nursing home thăm bạn cùng khóa. Ba anh bạn đại tá lữ đoàn trưởng mũ xanh mũ đỏ cùng đại đội võ bị ra đánh trận Quảng Trị chỉ còn Ngô Văn Định. Ghé lại bên tai nghe Định hỏi nhỏ:  

- Bên ngoài còn mấy thằng?  

- Còn liên lạc được 4 thằng. Ngoài 90 cả rồi. Tôi báo cáo. Thằng Luyện mới đến thăm. 

- Định nói. Luyện nhảy Bắc 21 năm biệt giam mà còn sống. Hay thật. 

- Tôi nói. Bạn yên tâm. Ngoài này còn thằng nào chơi thằng đó. 

- OK, bạn còn sống lo cho anh em.)

***************

Ngày 20 tháng 7 năm 2014 ghi dấu 60 năm hiệp định Geneve chia đôi đất nước, chúng tôi tổ chức kỷ niệm đêm giã từ Hà Nội. Có các chiến binh Việt Nam trong quân đội Mỹ về tham dự. Ca sĩ Ý Lan trình diễn những bài ca quê hương. Chúng tôi có dịp nhắc lại kỷ niệm từ ngày rất xa, khi còn là thiếu niên trong thời kháng chiến đứng sau cột đình làng Bình Hải, huyện Yên Mô nghe cô Thái Thanh rất nhỏ bé hát bài ca cho chương trình Bình Dân Học vụ. Lời ca thánh thót của thời thơ ấu mà vẫn còn nghe vang vọng tuổi hoa niên. Ai về chợ huyện Thanh Vân, hỏi thăm cô Tú đánh vần được chưa,,,?.Trải qua biết bao dâu bể. Ngày nay vẫn còn may mắn ngồi nghe con gái của cô Thái hát rằng: Quê hương tôi, có con sông đào xinh xắn.

Hôm nay, ngồi đọc lại bài viết cũ về chuyện còn sông Bến Hải đã trở thành câu chuyện 70 năm.

Tuổi cao niên già thêm 10 năm, nhưng lịch sử đất nước chia đôi trên căn bản vẫn không thay đổi. Xin soạn lại gửi đến bằng hữu độc giả như sau.

Viết cho ngày 20 tháng 7-1954

Đất nước bị chia cắt 54 quả thực là thảm họa, nhưng thống nhất 75 là còn khốn nạn hơn. Để hoàn thành công cuộc gọi là "Giải phóng miền Nam", Việt Cộng đang phải trả nợ bằng cả núi sông. Vì câu chuyện thời sự hôm nay, chúng ta cùng nhớ lại chuyện hôm qua. 70 năm trước cũng vào ngày tháng này, người Việt di cư lần thứ nhất.

Tháng 7 năm 2024 có gợi nhớ cho người Việt tỵ nạn chúng ta một chút kỷ niệm nào không? Cách đây 70 năm vào tháng 7 năm 1954, Hiệp Định Genève chia đôi đất nước. Hôm nay, từ hơn nửa thế kỷ và một đại dương xa cách, xin có đôi lời ghi lại. Trước hết là một số sử liệu, nhắc lại một lần vào cuối cuộc đời.
Tháng 9-1945, Nhật đầu hàng Đồng Minh, Thế chiến thứ II chấm dứt chính thức trên mặt trận Thái Bình Dương. Hồ Chí Minh lãnh đạo đảng cộng sản tuyên bố Việt Nam độc lập. Người Pháp trở lại Đông Dương.
Ngày 19 tháng 12-1946, toàn quốc kháng chiến. Vào những ngày của mùa Thu khói lửa năm xưa, tất cả thanh niên Việt Nam đều đứng lên đáp lời sông núi. Phạm Duy đã viết lời ca như sau: Một mùa Thu năm qua, cách mạng tiến ra đất Việt, cùng ngàn vạn thanh niên vung gươm phá xiềng. Bài ca này miền Nam đã dùng mở đầu cho cuốn phim Chúng tôi muốn sống. Vào những ngày đầu kháng chiến tôi mới hơn 14 tuổi. Tuổi măng non thơ dại và hào hứng biết chừng nào. Vào thời gian này, không ai biết gì về Quốc Cộng. Người ta nói rằng: Khi cách mạng mùa Thu, anh 20 tuổi, anh không theo kháng chiến, anh không phải là người yêu nước. Và tôi là cậu bé con của trường Cửa Bắc, Nam Định tản cư về Yên Mô, Ninh Bình cũng bắt đầu bài học yêu nước nồng nàn.

Sau này mới học được những danh ngôn thần diệu khác. Khi chủ nghĩa cộng sản ra đời, anh 20 tuổi, không theo cộng sản, anh không có trái tim. Hai mươi năm sau, anh chưa bỏ cộng sản. Anh không có khối óc.

Hà Nội và Nam Định tản cư, sinh viên học sinh gia nhập tự vệ thành mang dấu hiệu sao vàng tham dự vào trung đoàn thủ đô. Trong Nam các thanh niên tiền phong Sài Gòn cầm gậy tầm vông hợp đoàn chống Pháp.

Cho đến ngày nay, tất cả các vị cao niên 80 tuổi trở lên chắc hẳn còn nhớ về mùa Thu khói lửa năm xưa của thời kỳ 1946. Rồi tiêu thổ kháng chiến, rồi tản cư, rồi về Tề, còn nhớ biết bao nhiêu ngôn ngữ đặc thù của cả một thời thơ ấu.

Ba năm sau, tháng 3-1949, vua Bảo Đại từ Hương Cảng trở về. Bình minh của phe quốc gia mới bắt đầu nở hoa cay đắng trong vòng tay của quân đội Liên Hiệp Pháp.


1950: Cuộc chiến vẫn tiếp tục trên toàn thể đất nước cho đến năm 1950. Một năm nhiều dữ kiện. Tháng giêng, Trung Cộng công nhận cộng sản Việt Nam. Tháng 2, Hoa Kỳ công nhận Việt Nam Quốc Gia. Tháng 3, Mỹ bắt đầu viện trợ cho Pháp tại Đông Dương. Tháng 6, toán cố vấn Mỹ đầu tiên đến Việt Nam.

Rồi đến năm 1954 định mệnh. Tháng 5-1954, Điện Biên Phủ thất thủ, trong số binh sĩ tham chiến có phân nửa là lính quốc gia Việt Nam cùng chịu chung phần số hy sinh và thân phận tù binh.Trong số này có trung úy mũ đỏ Phạm văn Phú. Hội nghị Genève về Đông Dương khai mạc. Tháng 6-1954, ông Ngô Đình Diệm từ Mỹ về nước nhận chức thủ tướng. Tháng 7-1954, Geneva quyết định chia đôi đất nước tại vĩ tuyến 17, trên con sông Bến Hải giữa nhịp cầu Hiền Lương. Và cái ngày định mệnh của cả dân tộc là ngày 20 tháng 7-1954. Anh, Pháp, Tàu v.v… ký vào hiệp ước cùng với phía cộng sản Việt Nam. Hoa Kỳ và Việt Nam quốc gia không ký. Thủ tướng Pháp đương thời hứa với quốc dân là hiệp định phải ký xong nội ngày 20 tháng 7-1954. Họp bàn đến nửa đêm chưa xong. Đồng hồ phòng nghị hội cho đứng chết lúc 12 giờ khuya. Tiếp tục họp đến sáng hôm sau. Ký xong rồi cho đồng hồ chạy lại. Ngoại trưởng Việt Nam là cụ Trần Văn Đỗ khóc vì đất nước chia đôi ngay tại hội nghị. Lê Duẩn chỉ huy cộng sản tại miền Nam, đang trên đường ra Bắc chợt nghe tin đình chiến bèn quay trở lại để tiếp tục lãnh đạo công cuộc giải phóng về sau. Từ Hà Nội một số sĩ quan Quốc Gia Việt Nam cùng sĩ quan Pháp tham dự hội nghị Trung Giá để quy định việc đình chiến. Các đơn vị Pháp và tiểu đoàn khinh quân Việt Nam âm thầm rút khỏi Bùi Chu, Phát Diệm, Thanh Hóa, Nam Định để lại sự hoảng loạn đau thương cho nhiều giáo khu Việt Nam tự trị.
Tại miền Bắc, Pháp và phe quốc gia có thời hạn tập trung 80 ngày tại Hà Nội, 100 ngày ở Hải Dương và 300 ngày tại Hải Phòng. Tại miền Nam, bộ đội tập kết tại Hàm Tân 80 ngày, Bình Định 100 ngày và Cà Mau 300 ngày.
Ngày nay bao nhiêu người trong chúng ta còn nhớ đến thời kỳ tập kết ở miền Nam và di cư của miền Bắc. Bộ đội miền Nam trước khi ra đi đã phát động chiến dịch gài người ở lại nằm vùng và phong trào lập gia đình ồ ạt để hẹn ngày trở lại hai năm sau hiệp thương và tuyển cử. Trung úy Giao Chỉ tham dự hành quân Tự Do tiếp thu Cà Mau thấy người cộng sản tập kết chào nhau với bàn tay xòe hai ngón hẹn gặp lại sau hai năm, kèm theo khẩu hiệu: Ra đi là chiến thắng, ở lại là vinh quang. Kháng chiến miền Nam ra Bắc để lại những người đàn bà mang bầu trong thôn xóm và súng đạn chôn sau vườn.
Trong khi đó ở miền Bắc cộng sản cố sức cản đường không cho lính quốc gia di tản và ngăn chặn cuộc di cư vĩ đại từ tháng 8-1954. Nhưng phe Quốc Gia vẫn có đủ một triệu người ra đi. Trung úy Vũ Đức Nghiêm, tốt nghiệp khóa 1 Nam Định đã di cư vào Nam cùng đơn vị và gia đình lúc ông hơn 20 tuổi. Từ Phát Diệm, ông đi cùng Tiểu đoàn Khinh quân 711 về Hải Dương rồi rút về miền Nam. Đại úy Lê Kim Ngô di tản trường Công Binh từ Bắc vào Nha Trang và tham dự hành quân tiếp thu Bình Định. Cả hai ông Vũ Đức Nghiêm và Lê Kim Ngô về sau đều có dịp trở về đất Bắc trong lao tù cộng sản trước khi HO qua định cư tại Hoa Kỳ.
Cũng trong đợt di cư theo gia đình công giáo, thanh niên Phạm Huấn 17 tuổi còn nhớ mãi về Hà Nội của tuổi hoa niên. Sau khi ký hiệp ước Paris, thiếu tá VNCH Phạm Huấn có dịp trở về trong phái đoàn chính thức để viết nên tác phẩm “Một ngày tại Hà Nội” vào năm 1973. Sau đó ông Phạm Huấn lại một lần nữa từ biệt Sài Gòn năm 1975. Ngày 7 tháng 7-2004, tôi và đại tá thiết giáp Hà Mai Việt vào thăm Phạm Huấn tại Nursing Home của bác sĩ Ngãi ở khu Tully, San Jose. Sinh năm 1937, người thiếu niên Hà Nội trở thành sĩ quan trẻ trung của Sài Gòn vẫn còn là vị cao niên trẻ nhất của Nursing Home. “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới, đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm.” Phạm Huấn nói rằng nếu có ngày các ông lấy lại được Sài Gòn thì tôi cũng sẽ chơi một chuyến xe lăn về quê cũ. Ông qua đời tại San Jose và chưa một lần trở lại Việt Nam. Nhưng từ tháng 7-1954 cho đến tháng 7-2019 ngày tháng cũng xa rồi mà mộng ước cũng xa rồi. Phạm Huấn và nhà thơ Hoàng Anh Tuấn đều lần lượt ra đi từ San Jose bỏ cả mưa Sài gòn lẫn mưa Hà Nội. 

Cuối tháng 5-2014, Hà Mai Việt trở lại San Jose ra mắt tác phẩm Cội rễ cuộc chiến Việt Nam, khởi sự từ miền Bắc. Chẳng biết còn ai nhớ được nguồn cơn.

Năm 1954, có cô bé 16 tuổi lên máy bay một mình đi theo gia đình người bạn để vào Nam tìm tự do. Mồ côi mẹ, cha ở lại đi tìm con trai rồi kẹt luôn. Cô bé tên là Nguyễn Thị Chinh và sau này chuyến đi đã đem đến cho miền Nam một đệ nhất minh tinh gọi là Kiều Chinh. Chuyến đi của Kiều Chinh 1954 từ biệt Hà Nội đầy nước mắt chia ly trong tình phụ tử. Năm 1975, Kiều Chinh lại một lần nữa từ biệt Sài Gòn trong một chuyến bay trắc trở vòng thế giới giữa lúc thủ đô miền Nam hấp hối.

Và cũng vào năm 1954, một cô bé 9 tuổi Nguyễn Thị Lệ Mai xuống tàu di cư vào Nam. Sau này cô trở thành ca sĩ tiêu biểu của cuộc chiến lầm than, một đời lưu vong trong một kiếp trầm luân. Tên của người ca sĩ 50 năm hát rong trên khắp địa cầu là Khánh Ly. Năm vừa qua cô về hát lần đầu trên sân khấu Hà Nội. Trải qua 50 năm là biểu tượng chống Cộng bằng ca từ hải ngoại, ngày nay cô đứng hát tình ca cho những khán giả chưa từng quen biết nhưng hết mực yêu thương.
Và cùng với Vũ Đức Nghiêm, Lê Kim Ngô, Phạm Huấn, Kiều Chinh, Lệ Mai còn có Bùi Đức Lạc cũng là thành phần Bắc Kỳ di cư đến tạm trú ở khu Phú Thọ Lều để đến 75 thì trở thành người di tản mang màu áo pháo binh Dù.
Năm 1972 trong nước mắt Hạ Lào, Bùi Đức Lạc nghe Khánh Ly nức nở, đã nói rằng trận liệt mất đường về không phải vì Mỹ bỏ mà tại vì nhạc Trịnh Công Sơn.
Một người khác gốc Phát Diệm đã sớm trở thành dân di cư Hố Nai rồi chuyển qua vượt biên với một vợ 9 con tiếp tục bình tĩnh làm báo hàng ngày tại San Jose. Đó là Ký Còm – Vũ Bình Nghi. Tại sao miền Bắc lại di cư tị nạn? Tại sao miền Nam lại di tản vượt biên? Truyền thống của dân Việt là muôn đời sống với lũy tre xanh, với mồ mả tổ tiên, với làng xóm. Vạn bất đắc dĩ phải ra đi mang tiếng tha hương cầu thực nhưng rồi vài năm lại trở về. Quốc văn giáo khoa thư thuở nhỏ đã ghi rằng chỉ có chốn quê hương là đẹp hơn cả.
Trung úy Phan Lạc Tuyên khi tham dự hành quân tiếp thu tại Bình Định đã viết nên bài nhạc bất hủ. Anh về qua xóm nhỏ, em chờ dưới bóng dừa. Nắng chiều lên mái tóc, tình quê hương đơn sơ. Nhưng chính tại miền quê đơn sơ ở Bồng Sơn này suốt 20 năm chưa bao giờ yên tiếng súng.
Khi người cộng sản nổi dậy với một cuộc chiến toàn diện khốc liệt và quá độ đã triệt tiêu hoàn toàn mọi sự hòa giải trong tình tự dân tộc. Đầu tiên là các dân thành thị, trí thức, tiểu tư sản và tôn giáo phải bỏ Kháng Chiến về thành. Tiếp theo là bỏ miền Bắc di cư vào miền Nam.
Năm 1954, người Bắc vào Nam đã đánh thức con rồng Sài Gòn tỉnh giấc. Qua những khác biệt ban đầu rồi chuyển đến thời gian hòa hợp. Miền Nam bắt đầu khởi sắc từ ẩm thực đến văn chương báo chí. Từ văn nghệ đến kinh doanh. Và sự hòa hợp không hề có biên giới.
Đại úy Lê Công Danh, gốc công tử Cần Thơ đứng đón di cư ở bến nhà Rồng đã bế luôn cô Bắc Kỳ nho nhỏ tóc demi garcon về làm áp trại phu nhân.
Trung úy công binh Nghiêm Kế, dân chơi Hà Nội phải lên tận Biên Hòa xứ Bưởi cưới cô Bé về làm chính thất, sống 20 năm ở các trại gia binh với 8 đứa con lần lượt ra đời.
Trung úy Giao Chỉ đi chiến dịch Đinh Tiên Hoàng phải xuống tận Rạch Giá để rước về người đẹp xứ Kiên Giang. Sau hơn 60 năm tình cũ, chàng mới nhận ra rằng không phải chỉ Đà Lạt mới có hồ than thở, mà ở miền Hậu Giang cũng có khá nhiều.
Những ông sĩ quan trẻ Bắc Kỳ xấp ngửa vào Sài Gòn đều đem về mỗi ông một cái hồ than thở. Qua đến Hoa Kỳ nàng vẫn còn than thở qua Cell Phone…

Sau những đoạn trường 1954, thì tiếp đến câu chuyện tình Bắc duyên Nam trên mọi lãnh vực. Tất cả cùng nhau xây dựng xong 2 nền Cộng Hòa với một đạo quân đẹp đẽ biết chừng nào.
Cho đến năm 1975 và rồi đến tận ngày nay là 2024, người Việt vẫn tiếp tục bỏ nước ra đi. Từ di tản đến vượt biên, vượt biển, đoàn tụ, HO, con lai.
Tại sao chúng ta lại rời bỏ quê hương?
Một lần đi là một lần vĩnh biệt.
Một lần đi là hết lối quay về.

Năm 1954, khi ra đi dân Bắc Kỳ di cư ít có hy vọng trở về chốn cũ. Bài ca Hướng về Hà Nội được hát nỉ non suốt ngày đêm trên Radio. Cho đến khi chính phủ sốt ruột phải ra lệnh cấm. Những cánh bưu thiếp liên lạc Bắc Nam rời rạc được một vài tháng rồi cắt đứt sau hai năm xa cách.
Qua thập niên 60, Hà Nội mở đường dây Ông Cụ, đưa cán bộ vào Nam xây dựng hạ tầng cơ sở và dựng nên cuộc chiến mà ngày nay chính cựu đảng viên cộng sản Dương Thu Hương cũng nhận xét là một cuộc chiến sai lầm, hy sinh quá nhiều sinh mạng và tiềm lực của cả hai miền đất nước.


Hôm nay, nhân dịp ghi dấu 65 năm cuộc hiệp định Genève chia đôi đất nước, chúng ta cùng suy ngẫm về dòng sinh mệnh đã đưa đẩy người Việt lưu vong. Sẽ không thể có được câu trả lời coi như là chân lý cho một vấn nạn lịch sử.
Trong cuộc sống hàng ngày, biết bao nhiêu là điều bí ẩn không hề có đáp số. Tại sao có người hạnh phúc và có người đau khổ? Tại sao có người bị hy sinh và có người tồn tại? Tại sao có người thành công và có người thất bại? Những ngày tháng lịch sử như 20 tháng 7, như 30 tháng 4 chỉ là những dấu ấn trong dòng sinh mệnh của một dân tộc, của một cộng đồng. Đó là ngày của cay đắng nở hoa.
Mới đây các quốc gia văn minh nhất của nhân loại Tây phương kể cả Nga, Đức, Anh, Pháp, Canada, Úc, Mỹ và nhiều nước khác cùng dự lễ kỷ niệm 70 năm đổ bộ Normandie. Bây giờ chúng ta cũng là công dân của một xứ sở văn minh là Hoa Kỳ, hãy cùng nhau nhớ về ngày lịch sử 20 tháng 7 của 70 năm về trước, ghi dấu lịch sử là một cách hành xử của con người văn minh.
Một lần nữa xin nhắc lại 20 tháng 7-1954, 70 năm về trước hiệp định Genève chia đôi đất nước. Một triệu người miền Bắc di cư vào Nam. Tại sao người Việt lại rời bỏ quê hương? Câu hỏi đó dành cho quý vị.
Tiếp theo từ 30 tháng 4-1975 cho đến nay, trên hai triệu người Việt lần lượt ra đi. Tại sao người Việt lại rời bỏ quê hương? Câu hỏi đó cũng dành cho quý vị.
Tại sao quý vị lại ra đi?
Tại sao lại trở về? Tại sao lại không trở về? Trở về quê hương. Câu hỏi cho cả đời người. Câu hỏi cho cả một thế hệ. Điều này có đúng với người Việt lưu vong hay không?
Nhà thơ Đỗ Trung Quân đã viết:
Quê hương, mỗi người có một
Như là chỉ một mẹ thôi…

Điều này có đúng với người Việt lưu vong hay không?
Hay là như Vũ Hoàng Chương đã than thở:
Chúng ta là đám người đầu thai nhầm thế kỷ
Quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh.
Có thực sự đau thương như vậy không?
Chúng ta ra đi đem theo quê hương, hay là chúng ta ra đi bỏ lại quê hương? Với con đường an cư lạc nghiệp ở xứ này, phải chăng chúng ta đang sống hạnh phúc với quê hương mới?
Giáo sư Elie Wiesel, người Mỹ gốc Do Thái sinh trưởng ở Romania, nạn nhân của nạn diệt chủng Holocaust được cứu sống lúc 16 tuổi. Nhập tịch Hoa Kỳ năm 1963. Đoạt giải Nobel về Hòa Bình năm 1986, Ông đã nói rằng: Nơi nào tôi sống có tự do và hạnh phúc, nơi đó chính là quê hương.

Nhưng ai đã nói rằng chống Cộng không phải là chống cả quê hương. Dù quê hương cũ hay mới. Giao Chỉ.

 

 20 tháng bảy năm 2014 tôi tổ chức 60 năm đêm giã từ Hà Nội có nhạc sĩ Vũ đức Nghiêm và nhiều bạn Hà Nội tham dự. Năm 2019 tôi tổ chức 65 năm ngày Nhớ về Hà Nội. Các bạn Hà Nội chẳng còn bao nhiêu người. Thay vì nhớ thương thành phố cũ ban đêm thứ bảy, chúng tôi tổ chức 11 giờ trưa ngày chủ nhật 21 tháng 7 năm 2019 tại nhà hàng Phú Lâm. Không phải chỉ dành riêng cho dân Bắc Kỳ di cư chẳng còn bao nhiêu. Xin mời bằng hữu Trung Nam Bắc một nhà cùng đến với nhau cả thế hệ thứ hai và thứ ba. Nếu ngày quốc hận 30 tháng tư năm 75 còn nhiều thương đau thì ngày quốc hận 20 tháng 7 năm 54 chỉ còn là những kỷ niệm êm đềm của tình Bắc duyên Nam.. Cùng ôn lại chuyện cũ giữa thế kỷ 20 đem qua thế kỷ 21. Chương trình hết sức đơn giản. Nhưng vô cùng ý nghĩa và chan hòa tình cảm. Chúng ta cùng ôn lại những câu trả lời muôn thuở trên đất Hoa Kỳ. Người Việt là ai, tại sao lại đến đây và đã đến vào thời gian nào. Trên báo San Jose Mercury News tuần qua đăng hình hai ông Nhật già danh tiếng của Hoa Kỳ gặp nhau cũng nhắc lại chuyện hai cậu bé cùng gia đình bị giam vào trại tập trung thời kỳ đệ nhị thế chiến. Về sau một ông trở thành thị trưởng San Jose rồi lên bộ trưởng giao thông thời tổng thống Bush. Một ông trở thành dân biểu liên bang. Để trả lời cho tuổi trẻ của thế hệ tương lai, cả hai ông Nhật đều nói rằng. Làm gì thì làm các bạn phải luôn luôn biết mình là ai? Như vậy là sau bao nhiêu năm tung hoành trên chính trường Hoa Kỳ, lúc về già ông bộ trưởng Mineta và ông dân biểu Honda mới chợt nhớ mình là Nhật Bản. Với 70 năm nhớ về cuộc di cư 1954. Với 49 năm nhớ về cuộc đổi đời 1975. Chúng ta dù đã trở thành người Mỹ nhưng luôn luôn phải nhớ mình thực sự là ai.   

Giao Chỉ San Jose

 

Bài này viết tặng nhà tôi, cô nữ sinh Kiên Giang có đủ can đảm đi theo anh trung úy Bắc Kỳ đồn trú tại Cà Mau và trên khắp chiến trường miền Đông và miền Tây Nam Bộ. 

Thế giới biết bao người mà sao anh chỉ thấy có mình em. Bà già 87 tuổi còn thắp hương tháng Tư và nhỏ lệ tháng 7.

 


Hãy đem đình làng Đình Bảng Hà Nội đến cạnh Việt Museum tại San Jose USA


 

Trung úy Bắc Kỳ di cư gặp cô học sinh Kiên Giang,

nay đã thành phụ nữ thắp hương cho tháng Tư và nhỏ lệ khóc tháng 7 di cư

Sunday, July 21, 2024

ÁO TRẮNG TÌNH HỒNG (HOÀNG XUÂN THẢO 1931-2021)/ DƯ THỊ DIỄM BUỒN

 

ÁO TRẮNG TÌNH HỒNG

 

HOÀNG XUÂN THẢO

(1931- 2021)

 

Bác Sĩ Hoàng Ngọc Khôi, bút danh Hoàng Xuân Thảo, sinh ngày 19/07/1931 tại Bắc Ninh. Hồi trẻ, anh có một thời lang thang theo kháng chiến, sau đó anh gia nhập Quân Y hiện dịch khóa V, 1952-1958, và tốt nghiệp với bằng Y Khoa Bác Sĩ. Anh từng là Y Sĩ của binh chủng Nhảy Dù, và Y Sĩ Trưởng Quân Y Viện Trương Bá Hân ở Sóc Trăng. Anh là cựu giáo sư các trường Gia Long, Quốc Gia Sư Phạm, Khuyến Học, Hàn Thuyên. Dù nhiều công việc như vậy, anh còn lấy thêm 2 bằng Cử Nhân Luật Khoa và Văn Khoa. Với bút hiệu Hoàng Xuân Thảo, anh có những tác phẩm sau đây,

đã xuất bản hay ấn hành:

* Thơ, có 4 tập: Niềm Đau Sáng Tạo. Khung Trời Quê Hương. Áo

Trắng Tình Hồng.Tiếng Vọng Rừng Phong.

* Kịch: Sang Sông. Tiếng Pháo Giao Thừa. Nỗi Ám Ảnh Của Một

Tấm Hình. Thức Tỉnh Lúc Hoàng Hôn. Người Tập Kết Trở Về.

* Biên khảo: Huyền Thoại Về Triều Đại Hồ Chí Minh, (dầy 1200

trang, với sự cộng tác của bác sĩ Nguyễn Thượng Vũ). Xứ Cờ Lá Phong, Quê

Tôi Cuối Đời (dầy 600 trang, với sự cộng tác của bác sĩ Từ Uyên).

* Dịch thuật: Của Chuột Và Người (of mice and men). Kẻ Ngoài Lề

(l’étranger) Hai quyển này với sự cộng tác của tiến sĩ Nguyễn Phúc Bửu Tập.

 

* Video: Trình bầy 250 video về nhạc và thơ.

Anh Hoàng Ngọc Khôi đóng góp rất nhiều bài vở cho Tập San Y Sĩ

của Hội Y Sĩ VN tại Canada và nhiều tạp chí khác. Tới đây thì ta thấy anh

Khôi là người đa tài, có sáng tác trong nhiều bộ môn khác nhau. Anh là đàn

chủ của diễn đàn Tmg19 (tức là Toronto medical group), và cố vấn tối cao

của LT21, (tức Liêu Trai Chí Dị thế kỷ 21, do bác sĩ Nguyễn Văn Bảo làm

đàn chủ). Tuy đa tài như vậy, nhưng anh Khôi lại rất khiêm tốn, hiền lành,

lúc nào cũng vui vẻ, hòa nhã với anh em, và đưa ra những ý kiến vô cùng

chính xác và hợp lý khi cần thiết. Anh Khôi còn là một bỉnh bút sáng giá và

nhiệt thành. Tôi liên lạc mật thiết với anh Khôi qua thư từ, điện thư… Càng

liên lạc với anh, tôi càng mến mộ anh hơn vì kiến văn quảng bác, tính tình

khả ái.

“Nhân Sinh Nhật 19/7 của anh Hoàng Xuân Thảo”. Tác giả Nguyễn

Thanh Bình. (Tìm trong Google).

 

ÁO TRẮNG TÌNH HỒNG

 

Nhờ duyên văn nghệ, tôi hân hạnh được quen biết và được tác giả

Hoàng Xuân Thảo ký tặng thi tập “Áo Trắng Tình Hồng” vào ngày 9 tháng

1 năm 2001. Do sự giới thiệu của anh Thái Minh Kiệt (dạy Đại học Cần

Thơ, thuở Viện Trưởng Phạm Hoàng Hộ) Đến xứ người, anh dạy Đại học

Canh Nông Canada…

Thái Minh Kiệt và tôi là đồng môn Trung học Phan Thanh

Giản&Đoàn Thị Điểm Cần Thơ. Viết văn, anh có nghệ danh Nguyễn Văn

Ba, là đồng điệu với tôi ở hải ngoại. Anh Thái Minh Kiệt nhỏ hơn tôi 1 tuổi

nhưng học trên tôi 2 lớp. Bởi anh học giỏi thi năm nào cũng đậu, còn tôi vừa

học dở vừa èo uột trên đường công danh, thi rớt lên rớt xuống, ạch đuội lắm,

chậm hơn bạn bè... nhưng rồi cũng đến nơi.

Thuở Trung học, chúng tôi có chung trong nhóm bạn thân, có người là

quân nhân có người công chức có người sinh viên... Sau 30 tháng 4 năm

1975 nhóm mất liên lạc. Ở Hải ngoại Thái Minh Kiệt và tôi cộng tác chung

những nguyệt san, đặc san... trong và ngoài nước Mỹ... Vì cả hai đều dùng

bút danh nên không biết nhau. Cho mãi đến mười mấy năm sau tôi mới được

tin Thái Minh Kiệt tức là nhà văn Nguyễn Văn Ba đang ở Canada (nhờ

người bạn ngày xưa trong nhóm, đang ở Úc cho biết).

Thường cuối tuần, chúng tôi điện đàm thăm hỏi nhau, kể chuyện ngày

xưa thuở còn đi học và lúc mới vào đời... Giờ thì bạn bè mỗi đứa mỗi nơi kẻ

còn kẹt trong bức màn tre, kẻ ra hải ngoại, người chết trong tù... Và chúng

tôi ai cũng thành gia thất, con cái đùm đề. Vợ chồng tôi và anh chị Nguyễn

Văn Ba rất tâm đắc và thường chuyện trò với nhau qua điện thoại.

Lần đó anh khoe với tôi, và hỏi có quen với nhà thơ, nhạc sĩ... Hoàng

Xuân Thảo không? Tôi trả lời không quen biết. Nguyễn Văn Ba đã ngầm

 

giới thiệu để tôi được quen biết những Văn Nghệ Sĩ khác... Với ông Hoàng

Xuân Thảo, anh còn nhẹ giọng êm đềm “đệm” thêm một câu nữa với tôi:

- Bà chị DTDB ơi, nếu sau nầy có dịp nói chuyện với ông Hoàng

Xuân Thảo thì làm ơn giữ lời nghe. Ông là nhà đại khoa bảng, là bác sĩ

Hoàng Ngọc Khôi... Học trò của ổng nhiều người lớn tuổi hơn tôi và chị đó

nghe...

Đầu dây điện thoại bên nầy (Mỹ) tôi cười nhẹ, chép miệng:

- Nè Nguyễn Văn Ba, anh cũng biết ở quê nhà bạn anh là “dân

ruộng” qua xứ người là “cu-li”. Chữ nghĩa gắn không đầy lá mít... viết chỉ

là niềm vui là đam mê thôi... làm sao tôi dám quen biết với người tài giỏi

như vậy! Ông Hoàng Ngọc Khôi là cây cổ thụ trong y giới. Ông Hoàng

Xuân Thảo là văn nghệ sĩ tài hoa... giỏi như vậy sao giới thiệu cho biết tôi

chi vậy trời à?

Bên kia đầu dây (Canada) Nguyễn Văn Ba lớn tiếng cười, bảo:

- Sợ rồi sao, bởi tôi biết BS Hoàng Ngọc Khôi rất tế nhị, bình dân,

vui vẻ, đôn hậu, đa tài. Về văn học nghệ thuật thì “Cầm, kỳ, thi, họa” môn

nào ông cũng biết, cũng hay và cũng giỏi... Giới thiệu người tốt để có dịp chị

làm quen mà học hỏi thêm đó mà...

- Được rồi, cảm ơn nhã ý của anh. Nhưng tôi có phải là giảng viên

Đại học như anh đâu! Đừng có để người ta tưởng tôi nghe đến bác sĩ thì

sáng mắt... “Nghe người ta là Bác sĩ thì tươm tướp làm quen...” thì tội

nghiệp Diễm Buồn tôi sẽ thành Diễm Khóc đó nghe Thái Minh Kiệt!

Thật sự nó đúng như vậy! Trong bao nhiêu người vượt biển khỏi quê

hương sau 30 tháng 4 năm 75 nơi vùng đất tạm dung, có lẽ gia đình tôi

nghèo nhứt “nghèo rớt mồng tơi”. Mới đến xứ người, mấy tháng sau còn

“chân ướt chân ráo” tôi mang thai, trong khi chưa có công ăn việc làm, còn

ăn nhờ ở đậu với cô em... Chúng tôi như dân “Cái Bang” Trong truyện Tàu

của Kim Dung. Thiệt là số vất vả trăm chiều mà!

Cũng như đại đa số những kẻ chạy loạn bôn đào, vì chén cơm manh

áo cho gia đình, chồng tôi đi làm cho nhà làng chúng tôi đang cư ngụ. Tôi

sanh cháu bé được một tháng bảy ngày, thì đi làm cho một viện dưỡng lão ở

làng bên. Các con cái mỗi ngày một lớn, và học hành... chúng tôi phải làm

nhiều hơn, mỗi người hai việc (16 giờ mỗi ngày) tôi làm từ 6 giờ sáng cho

đến 11giờ 30 đêm. Chàng làm từ 3 giờ chiều đến 7 giờ sáng hôm sau. Vợ

chồng như cút bắt kẻ về, người đi... ít khi nghỉ trùng ngày nên ít gặp mặt

nhau! Con gái tôi chưa đầy mười hai tuổi, phải trông chừng đứa em nhỏ hơn

cháu một tuổi, và giữ đứa em (cho em ngủ, cho em bú bình, thay tã cho em,

và giúp mẹ làm những việc lặt vặt lau nhà, rửa chén...).

Cho dù thời gian làm việc chiếm nhiều giờ, dù tôi phải đi chợ, nấu ăn

(trong ngày nghỉ) cho cả gia đình ăn mỗi ngày. Nhưng tôi vẫn muốn viết,

thích viết, và ưa đọc (lợi dụng thời gian trong giờ ăn và giờ nghỉ giải lao ở

sở). Bởi với tôi viết và đọc là niềm vui, là sở thích là đam mê... phải có cho

riêng mình!

 

Rồi anh Nguyễn Văn Ba qua đời vì bạo bệnh. Sau lần hò hẹn anh chị

và chúng tôi gặp nhau ở đại hội cựu học sinh Trung học Phan Thanh

Giản&Đoàn Thị Điểm Cần Thơ. Được tổ chức ở Toronto (Canada). “Tôi đã

mất một đồng môn, một đồng điệu, một người bạn tốt mà chúng tôi vô cùng

trân quý...”

Gia đình tôi định cư ở miền Trung Tây, (Chicago) tiểu bang Illinois là

một trong những vùng lạnh nhất nhì nước Mỹ. Có bốn mùa, về mùa đông

giá rét lạnh lùng, kéo dài hơn 6 tháng tuyết rơi ngập đường ngập lối... Chúng

tôi sống ở đây tròm trèm 25 năm, và ba đứa con cũng lần lượt ra trường đại

học, mới dời nhà về sống gần gia đình gần con gái (Từ Chicago Illinois, đến

làng Yuba City, thành phố Sacramento thuộc tiểu bang California).

Thời gian trôi mãi trôi, cho đến mười mấy năm sau, một hôm tình cờ

tôi nhận được những bức ảnh rải rác trên internet của ông Hoàng Xuân Thảo

gởi ra... với nhã ý của tác giả “Xem tranh viết lời”. Tôi vui mừng liền hưởng

ứng, nhưng hết sức dè dặt! Tôi bắt đầu viết cảm nhận của mình dưới những

bức ảnh nhận được, nhưng không liên tục. Bởi khi nào gặp thì viết không thì

thôi chớ tôi không tìm kiếm.

 

XEM TRANH VIẾT LỜI

Viết cảm nhận về những bức ảnh

của ông Hoàng Xuân Thảo gởi. DTDB

 

Ảnh 20

 


Bao la nước trời

Không gian bàng bạc

Bên bờ biển khơi

Sống trong hốc đá

Sởn sơ cây bá

Nắng gội mưa rơi

Vẫn xanh cành lá

Thiên niên vạn đời

 

Ảnh 21

 








Một mình trong chiều vắng

Lá vàng ngập đó đây

Đường xưa nhòa nhạt nắng

Hương đất cỏ dâng đầy

Bầu trời thu êm ả

Dư âm ôi ngọc ngà

Thu ơi thương nhớ quá!

Dù đã qua... rất xa!

 

Ảnh 22


 

Dòng nước xanh xanh nhành lá xanh

Thuyền ai trên sóng nước mong manh

Trời trong đẹp nắng vầng mây trắng

Mong “chim liền cánh cây liền cành”

 

Ảnh 23

 


Long lanh em hứng hạt mưa rơi

Buồn, đau, sầu, nhớ... tỏa khung trời

Êm ả, mến thương hay hạnh phúc

Là do cảm nhận của người... ơi

 

Ảnh 26

 


Mỗi độ ngoài trời mưa rơi lả chả

Không gian ủ dột sắc lá pha vàng

Nắng héo úa hương cỏ cây êm ả

Ôi, có người thờ thẫn lang thang

 

Ảnh 27

 


Chẳng đêm thu êm ả trăng trong

Chẳng nắng chiều rơi rớt mênh mông

Chẳng đáy nước gợn rong cá lội

Chỉ có tơ trời trên tầng không

 

Ảnh 29

 


Một tách trà thanh vạn lời thơ

Vàng lá chao bay lá hững hờ

Tâm tư réo gọi nàng thơ ẩn

Ghẹo gió heo mây khéo thẫn thờ

 

Ảnh 31

 


Tươi thắm đài trang khoe hương sắc

Trơ cành duyên dáng cành đơm hoa

Cả bầu trời hồn xuân gieo rắc

Xuân lồng lộng nhạc xuân ngân nga

 

Ảnh 32

 


Tàn đông Xuân đến hoa, nhiều hoa

Trời xanh mây trắng sắc chan hòa

Trong tay hai kẻ cùng thưởng thức

Uớc vọng tương lai thật ngọc ngà


Hoa xinh khuya nở sáng tàn

 Quỳnh hoa hương sắc bàng hoàng ngẩn ngơ...

Thơm tho chỉ được vài giờ

Sắc màu héo úa thẫn thờ kiếp hoa

 

Ảnh 40

 


Cả trời mơ... những dòng thơ...

Hỡi nàng duyên dáng thẫn thờ chi đây

Lệ buồn trên má hây hây

Vân vê gió ướm tóc mây buông dài

 

Ảnh 41

 


Nóng nắng hè cây héo đất khô

Lá hoa cằn cỗi mặt đất mô

Mầm non xào úa gay gắt gió

Thân cây gầy guộc cành chơ vơ

 

Ảnh 47

 


Em gái Sài Gòn ơi thấy thương

Ngồi xích-lô đạp sao trống trơn

Gió hốt lá khô đường tốc bụi

Gầm gừ sấm chớp mưa, mưa tuôn

 

Ảnh 48

 

Ác dịch cộng Tàu gây thảm não

Thế giới chung lòng chống dã man

Chẳng ngại màu cờ hay sắc áo

Đập nát âm mưu kẻ bạo tàn

 


Một hôm soạn lại tủ sách gia đình, tình cờ tôi tìm thấy thi tập “Áo

Trắng Tình Hồng”... có tên tác giả cùng tên những hình ảnh nhận được để viết cảm nhận. Suy nghĩ một hồi tôi mới chợt nhớ mình có biết ông Hoàng Xuân Thảo, gần 20 năm trước do nhà văn quá cố Nguyễn Văn Ba giới thiệu.

 

Tôi chụp ảnh gởi đến ông Hoàng Xuân Thảo (bìa trước, và bút ký cùng thời gian ông đề tặng sách). Ông trả lời Email của tôi:

“...Thật là kỳ diệu.

Cảm ơn chị Dư Thị Diễm Buồn

vẫn còn giữ thi tập Áo Trắng Tình Hồng...”

 

Sau cùng tôi đã mạo muội cảm đề bài thơ “Những Kẻ Bán Hàng”

của tác giả Hoàng Xuân Thảo, trước thời gian không lâu, ông vĩnh viễn từ giã cõi đời, ngày 6 tháng 2 năm 2021. Tôi đã giữ tròn bài thơ của ông trong hộp thư của mình, nhưng bị lạc mất gần hết bài! Chỉ có 4 câu đầu (thời gian đó tôi đã viết gởi đến bạn đọc và các Diễn Đàn mình cộng tác tìm dùm. Xin lỗi... đến khi sách phát hành vẫn chưa tìm được bài thơ của ông).

 

NHỮNG KẺ BÁN HÀNG

“.................

Mời quý vị mại vô kẻo hết

Tôi chỉ bán thôi một món hàng

Hàng tôi:Những vần thơ chống Cộng

Cho tới khi sức kiệt hơi tàn...

................” Hoàng Xuân Thảo

 

CÓ KẺ MUA HÀNG

Mạo muội cảm đề bài thơ

“Những Kẻ Bán Hàng” của tác giả

Hoàng Xuân Thảo. DTDB

Tin vui đến, nghe hàng anh rao bán

Có bao nhiêu, tôi xin hứa sẽ mua

Vì hàng không lỗi thời theo năm tháng

Vẫn tinh anh không đổi sắc theo mùa

Ngoài chợ đời trưng bày hàng đủ loại

Kiếp nhân sinh muôn vạn thứ bán mua

Con người, nhân cách, lọc lừa độc hại...

Hàng đổi, trao... có kẻ thiếu người thừa

 

Chuyện bán buôn thời nào, đâu cũng có

Nhưng ngộ nghĩnh là ở cõi quê Nam

Sau ba mươi tháng tư, bảy lăm đó

Bắc Cộng tràn vô... bán đủ thứ hàng

Bán bàn, giường, tủ, ghế, quần áo mới...

Bán tàu, xe, bán đất, bán cửa nhà...

Làm sao sống nỗi cực cùng ào tới...

Giặc vào cướp giựt... công khó ông cha

Chị không tiền thăm chồng tù Việt Bắc

Tận vùng biên giới, sát nước Cộng Hoa

Chướng khí rừng thiêng tấm thân héo hắt

Thuốc men chẳng có, có bãi tha ma!

Nhà không đủ no làm sao con học

Cha mẹ yếu già đau bịnh triền miên

Nửa đêm trăn trở sụt sùi chị khóc!

Nhắm mắt bán thân đổi lấy chút tiền

Đã mấy mươi năm ông làm thầy giáo

Chỉ còn vài tháng đến tuổi nghỉ hưu

Vợ bịnh liệt giường... đề thi đánh tráo

Đành bán lương tâm, dẫu phải tội tù

Những kẻ giả nhơn, bán dần dân tộc

Bảo tàng, tích sử, rừng, biển... Việt Nam

Bán đất đai, vườn, ruộng vàng lúa thóc

Dâng núi sông, Tàu Cộng giả mua hàng...

Còn anh rao bán những bài mình viết

Những bài chống Cộng, chống bọn xâm lăng

Với ẩn ý, đáy lòng đầy tâm huyết

Vắt máu tim thay mực kết thơ văn...

Tôi xin mua những vầng thơ, văn... đó

Của những ai chống Cộng cứu quê hương

Dẫu lời nhẹ nhàng... qua cây bút nhỏ

Mạnh hơn thiên binh, vạn mã... phi thường!

 

Thơ chống Cộng không mua bằng tiền bạc

Văn Chống Cộng không đổi của là xong

Là ý nghĩa... là thơ văn tuyệt tác

Trả bằng con tim, khối óc, tấm lòng...

 

Thật sự tôi không biết gì nhiều

về bác sĩ Hoàng Ngọc Khôi.

Trong tôi, ông:

“Hoàng Xuân Thảo

 

Là Một Văn Nghệ Sĩ Đa Tài Và Khả Kính”.

Thành tâm kính ngưỡng và tưởng niệm!

 

Trích trong tuyển tập“Bóng Thời Gian.2”

Phát hành tháng 1, năm 2024


Tệ xá Diễm Diễm Khánh An

California những ngày cuối Đông

DƯ THỊ DIỄM BUỒN

Email: dtdbuon@ hotmail.com