Monday, July 20, 2026
CHUYỆN TÌNH TUYỆT ĐẸP CỦA NỮ MINH TINH TRONG PHIM THE THORN BIRDS
Wednesday, October 25, 2023
DOCTOR ZHIVAGO (TRAC NGUYEN)
DOCTOR ZHIVAGO.
Bác Sĩ Zhivago là cuốn tiểu thuyết đoạt giải Nobel của nhà thơ ,nhà văn Nga Boris L. Pasternak. Thực ra tác phẩm này đã được Pasternak viết xong từ năm 1956 , nhưng vì có những quan điểm khác với các quan điểm và đường lối của đảng Cộng Sản Nga nên bị cấm xuất bản. Sau đó bản thảo của tác phẩm , không rõ bằng cách nào, lọt ra được nước ngoài, và được in tại Ý, bản tiếng Nga, năm 1957. Ngay trong năm 1958, tác phẩm này đã được dịch sang 18 thứ tiếng và đoạt giải Nobel của Viện Hàn Lâm Hoàng Gia Thụy Điển. Tuy nhiên dưới áp lực của chế độ Sô Viết Nga, ông đã phải từ chối giải thưởng này. Mặc dầu vậy, ông vẫn bị khai trừ khỏi hội nhà văn và cho tới lúc qua đời phải sống một cuộc sống lặng lẽ, bị cô lập.
Trong đám tang ông, năm 1960, chỉ có vài người thân lặng lẽ đưa ông tới nơi an nghỉ cuối cùng.
Nhắc tới ông, tôi liên tưởng tới các nhà văn, nhà thơ nước ta , thời Nhân Văn Giai Phẩm 1956 và sau 1975. Tôi nghĩ tới đám tang lạnh lẽo của cụ Phan Khôi, “ tên đầu xỏ của tụi Nhân Văn Giai Phẩm “ sau vụ án Nhân Văn Giai Phẩm với mấy câu thơ thời cuối đời của cụ :
“ Làm sao cũng chẳng làm sao
Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi
Làm chi cũng chẳng làm chi
Dẫu có làm gì cũng chẳng làm sao “
Và nhớ tới cái chết thê lương của nhà thơ Vũ Hoàng Chương, của nhà văn Hồ Hữu Tường, nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, sau năm 1975 !
Tôi đọc tác phẩm Bác sĩ Zhivago, bản dịch tiếng Việt, khi là sinh viên trường Đại Học Sư Phạm SG, khoảng nửa đầu thập niên 60 của thế kỷ trước. Bối cảnh của cuốn tiểu thuyết kéo dài từ thời đại Nga hoàng trước cuộc cách mạng tháng 10, đi qua giai đoạn chiến tranh giữa Hồng quân (cộng sản) và Bạch quân (tư sản và bảo hoàng) tới khi thành lập chế độ chuyên chính Sô Viết tại Nga. Lồng trong bối cảnh rộng lớn này là câu chuyện tình yêu đầy xúc động và ngang trái, trong khung cảnh chiến tranh, giữa bác sĩ Zhivago và cô y tá quân y Lara .
Phải đến năm 1988, tác phẩm Bác sĩ Zhivago mới được phép xuất bản tại Nga. Năm 1989, con trai của Pasternak, cũng là một nhà văn, được mời sang Thụy Điển để thay mặt cha nhận giải thưởng Nobel văn học năm 1958.
Yuri Zhivago, có cha là một doanh nhân bị phá sản, tự sát. Cậu bé Zhivago mồ côi cả cha lẫn mẹ khi mới mười tuổi, sống với một gia đình họ hàng. Sau khi tốt nghiệp bác sĩ, chàng làm việc tại một bệnh viện ở Moskva, lấy vợ là Tonia, con gái lớn của một gia đình tư sản quí tộc và hai người có một con trai. Lara Guishar là một thiếu nữ bất hạnh sống với một bà mẹ nghèo khó, tuy nhiên cô cố gắng vươn lên, học sư phạm và trở thành một cô giáo. Lấy chồng là Pasha, cùng ra trường ngành sư phạm .
Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ, Yuri Zhivago bị động viên đưa ra mặt trận làm bác sĩ quân y. Pasha vì một hiểu làm với vợ nên cũng tình nguyện nhập ngũ, được đưa ra mặt trận và mất tích. Lara, với mục đích đi tìm Pasha, đăng ký làm y tá quân y để được ra mặt trận. Do một tình cờ của số mệnh, Yuri và Lara gặp nhau, giữa hai người dần dà nảy sinh một tình cảm thân ái. Khi thế chiến chấm dứt, Yuri Zhivago trở về Moskva làm việc ở bệnh viện cũ. Lara thì về lại thành phố Uriatin nơi xưa kia sống và dạy học.
Nhưng sau đó cách mạng tháng 10 Nga do nhóm Bolshevik tổ chức bùng nổ. Nước Nga chìm trong cảnh nội chiến, một bên là Bạch quân ủng hộ Nga hoàng và chính phủ tư sản, bên kia là Hồng quân Bolshevik muốn thành lập chế độ cộng sản. Do hoàn cảnh mất an ninh, gia đình Zhivago chuyển về sinh sống tại vùng Ural. Trong chuyến đi vất vả gian khổ này, Yuri bị bắt bởi Strelnikov, một nhân vật quan trọng, có quyền sinh sát của Hồng quân. Trong lúc tranh tối tranh sáng của cuộc nội chiến, chỉ cần một chút nghi ngờ, người ta có thể ra lệnh tử hình ai đó một cách dễ dàng, nhưng may mắn cho Yuri, được Strelnikov tha chết.( Nhân vật Strelnikov này chính là Pasha, chồng Lara, mất tích trong cuộc thế chiến thứ nhất và được coi là đã chết. Thực ra Pasha đã đào ngũ và gia nhập hồng quân, đổi tên, leo lên một địa vị cao, và nổi tiếng là tàn bạo).
Tại Ural, gia đình Zhivago sống cuộc đời nông thôn, một phần tự cung tự cấp. Một lần ra thư viện tại thành phố Uriatin gần nơi ở, Yuri gặp lại Lara. Tình cảm ngày xưa, những ngày cùng nhau ngoài mặt trận, biến thành tình yêu. Trong thời gian này, Yuri làm nhiều bài thơ thắm thiết tặng Lara. Nhưng tai họa sập tới, Yuri bị du kích hồng quân bắt cóc. Trong nhiều năm trời, chàng phải phục vụ hổng quân với vai trò bác sĩ, đã chứng kiến nhiều trận đánh đẫm máu, đã xót xa thương cảm cho những cái chết hầu như vô nghĩa suốt cuộc nội chiến, trong đó có những chàng trai thuộc Bạch quân- những thanh niên đã có một thời tuổi trẻ như chàng !
Sau vài năm, Yuri trốn thoát khỏi Hồng quân, trở vế Uriatin nhưng gia đình khi đó đã trở về Moskva. Ít lâu sau , chàng nhận được một lá thư tới trễ của Tonia, báo tin cả gia đình ở Moskva đã bị chính quyền Sô Viết trục xuất ra nước ngoài. Yuri đành ở lại Uriatin, sống cùng Lara.Tuy nhiên, hai người ở trong một tình trạng nguy hiểm, vì thành phần gia đình, vì quan điểm chính trị, vv… Một người quen cũ khuyên hai người trốn cùng ông ta ra nước ngoài. Lo ngại cho sự an toàn của Lara, Yuri thúc dục nàng ra đi, hứa sẽ đi sau, nhưng chàng đã ở lại.
Do một trớ trêu của định mệnh, trong cảnh cô đơn và u uất đó thì Yuri đã gặp lại Strelnikov . Nhưng bây giở người hùng cách mạng năm nào đã ở trong cảnh thất thế, phải trốn chạy vì bị chính những đồng chí Bolshevik ngày xưa truy sát. Hai người, Yuri và Strelnikov , ngồi nói chuyện với nhau hầu như suốt đêm, cùng ôn lại những ký ức về cùng một người là Lara. Hối hận về những quyết định sai lầm của mình, khuya đêm đó, khi Yuri còn ngủ say, Strelnikov đã đi tới một quyết định cuối cùng. Chàng lặng lẽ ra bãi tuyết trước nhà, dùng súng tự sát.
Yuri Zhivago trở về lại Moskva nhưng ngôi nhà xưa của gia đình chàng đã bị xung công, chia cho nhiều gia đình. Chàng được ủy ban khu phố phân cho một phòng “ xép “ nhỏ bé trong chính ngôi nhà đó.
Quay trở về Moskva, môi trường xưa cũ, nhưng chàng không còn là Yuri của những tháng ngày đó, mà đã sa sút cả về thể chất và tinh thần. Chàng không còn làm thơ, sống như một cái bóng lặng lẽ, chật vật và tủi buồn với cơm áo. Nhưng may thay, chàng được một người em, cùng cha khác mẹ, hiện là một vị tướng trong chế độ mới, quan tâm thăm hỏi nên dần lấy lại tinh thần và, với sự giúp đỡ của người em, tính đến chuyện trở lại bệnh viện làm việc .
Một buổi chiều, trên chuyến tầu điện trở về nhà, chàng lên cơn đau tim. Khi bước xuống tầu thì gục ngã xuống đường .
Lara, sau một thời gian lưu lạc trở về Moskva, nàng ghé lại ngôi nhà cũ của Yuri Zhivago hy vọng biết chút tin tức về chàng, thì tình cờ gặp đám tang của Zhivago. Nàng ở lại bên Yuri cho tới khi người ta đưa chàng tới nơi an nghỉ.
Vài hôm sau, bất ngờ Lara mất tích. Người ta cho rằng nàng đã bị bắt, bị đưa tới một trại lao động cải tạo nào đấy.
Mười mấy năm sau, vị tướng, em cùng cha khác mẹ với Yuri Zhivago, đến thăm một công xưởng, thấy một cô công nhân có nhiều nét mặt giống anh mình là Yuri nên hỏi chuyện, và phát hiện cô chính là con gái của anh mình và Lara.
Tiểu thuyết Doctor Zhivago được dựng thành phim tại Anh năm 1965.
Tôi đã xem phim này khi trình chiếu lần đầu tiên tại Việt Nam, tại rạp Rex.Mặc dù đã đọc truyện nhưng tôi vẫn bị cuốn hút vào nội dung phim trong suốt buổi chiếu, bởi những cảnh chiến tranh hoảnh tráng trên màn ảnh, bởi diễn tiến của câu chuyện, bởi số phận của các nhân vật, bởi mối tình lãng mạn đầy ngang trái của chàng bác sĩ Zhivago và cô y tá Lara.
TRAC NGUYEN
Wednesday, September 13, 2023
PHIẾM MÙA HÈ (KIM LOAN)
PHIẾM
MÙA HÈ
Nhỏ em hàng xóm
Edmonton bữa nay phone tôi tâm tình ba điều bốn chuyện, rồi chuyển đề tài:
- Chị
ơi, em vẫn nhớ bài học của chị từ mùa hè năm ngoái.
- Ủa,
chị có dạy bài học nào đâu?
- Có
chớ, chị quên rồi sao? Bài viết năm trước của chị đó! Ngày nào em cũng ra ngoài
vườn tưới cây cối hoa lá, vừa tâm tình với chúng, nói chuyện với mây gió xung
quanh, thấy lòng thanh thản thoải mái, đúng là một phương pháp thiền tuyệt vời
đó chị.
- Ừa,
mà em có áp dụng theo chị, là khi rửa chén cũng nói chuyện với ... chén dĩa, đi
bộ treadmill dưới basement thì nói chuyện với ... không khí, và bị ông xã gọi
là ... dở hơi không bình thường không??
Nó cười ngặt
nghẽo:
- Bởi
năm nay em đang chờ chị viết tiếp đó.
- Năm
nay có gì mà viết nhỉ?
- Thì
chuyện... tào lao hàng ngày như chị thường nói, nhưng lại là những chuyện hổng
có vô thương vô phạt đâu à nghen, vì dù sao thì, “mua vui cũng được một vài
trống canh”, hén chị?
Thôi thì kỳ này
tôi ráng viết chuyện nghiêm túc, không “tưng tửng” nữa, tới đâu hay tới đó,
không dám hứa với nhỏ em lanh lợi này nữa.
Ở đâu không
biết, chứ ở giáo xứ của tôi, thành phố của tôi, mùa hè là mùa nhộn nhịp đi
vacation, hay nói đúng hơn là mùa hè thì đi nhiều hơn các mùa còn lại trong
năm. Đám trẻ tuổi còn sức lao động hăng hái thì tôi không bàn tới, tôi muốn nói
đến lứa tuổi sồn sồn, trung niên, ngấp nghé về hưu và bắt đầu về hưu. Thời đại
công nghệ phát triển, người ta cho nhau những lời khuyên trên facebook, trên
youtube, rằng hãy enjoy cuộc đời vì đời như giấc mộng qua nhanh, và cách tốt
nhất để “hưởng đời” là đi du lịch đó đây, ngắm cảnh đẹp, ăn uống, nghỉ ngơi,
không vướng bận chuyện đi làm, trọn vẹn từng phút giây trước khi tuổi già ập
đến, bệnh hoạn viếng thăm, mỗi ngày uống cả vốc thuốc, gối mỏi chân mòn lúc ấy
muốn ngao du cũng khó. Người ta vẫn lan truyền tấm ảnh vui, hai vợ chồng già
lọm khọm ngủ gục trên con thuyền dọc bờ sông thành phố Nice, Italy với lời chú
thích: “Đừng đợi tuổi già mới đi du lịch nhé”.
Bạn bè xung
quanh tôi, có người còn về hưu non (vì đã kiếm đủ tiền suốt mấy chục năm làm
việc), con cái lớn tự lập, hai vợ chồng cùng những người bạn lập nhóm “Viễn Du”
(nghe tên là biết mục đích rồi đó), hàng năm lên mục tiêu ít nhất 2
chuyến cruise bên Châu Âu, rồi các chuyến lẻ tẻ bay trong Mỹ, Canada, chưa kể
road trips xuyên bang hứng lúc nào lên đường lúc ấy (tỉ phú thời gian mà!)
Trong nhóm diễn
đàn Thơ Văn tôi tham gia, các chị lên chức sui gia, bà nội bà ngoại, cũng rất
sung sức các chuyến vacation, vì không phải lúc nào cũng làm osin cho con cháu,
mà còn biết vui sống cho bản thân mình. Hầu như cứ vài tháng trong nhóm cũng
được lần lượt khoe hình lẫn nhau, từ Ai Cập, Hy Lạp, Úc Châu, Nhật Bản,
Thailand ... nói chung là vòng quanh thế giới, nơi nào mình chưa đi qua thì
được đi “hàm thụ” cũng đã con mắt.
Mà đâu chỉ riêng
nơi tôi ở, chỗ nào tôi có người thân quen, từ Canada tới Mỹ đều có tình trạng
như “cơn sốt thời đại”: du lịch tuổi sồn sồn trước khi về già. Ngay cả bên Việt
Nam xa xôi cũng có phong trào “hưởng đời vì đời phù du”. Trên facebook mấy đứa bạn
cũ, bạn hàng xóm cũ của tôi cũng rần rần đi vacation như trẩy hội. Người có
tiền thì bay sang các nước láng giềng Singapore, Mã Lai, Trung Quốc, Đại Hàn ,
kẻ ít tiền thì du lịch trong nước, Mũi Né, Nha Trang, Phú Quốc, Hồ Tràm, Đà
Nẵng. Đi trong nước thì thường xuyên hơn, hễ có những ngày nghỉ Lễ, cuối tuần
là xách hành lý lên đường. Để vui hơn thì đi theo nhóm, nhiều cặp, nhiều người,
tha hồ rộn ràng, và dĩ nhiên phải có hai thứ không thể thiếu trong các chuyến
đi, là thưởng thức các món ăn ngon, và kế tiếp là chụp hình “sống ảo” tưng bừng
trên facebook . Dù có nhiều ý kiến trái chiều trong chuyện chụp hình “mọi lúc
mọi nơi”, rồi “chụp đi chụp lại” cho “trẻ đẹp”, nhưng thây kệ, ai nói gì nói,
miễn sao ta vui vẻ, ta hạnh phúc, ta không hại ai là được rồi. Còn được tung
tăng, được ngắm đất trời bao la, là còn may mắn, là cứ vui vì ai biết được ngày
mai.
Tôi có nhỏ bạn
thân hồi đó đi dạy học chung, lúc nó lấy chồng là ông Thầy Hiệu Trưởng của
trường, lớn hơn nó 15 tuổi. Chúng tôi từng ganh tị vì nó được chồng cưng, nay
nó cũng vừa tuổi hưu được hai năm (bên Việt Nam giáo viên nữ về hưu
tuổi 55), chồng nó cũng đã hưu trước đó khá lâu ở tuổi 60, giờ hai vợ chồng
thật sự thảnh thơi, nhưng nó than hổng được đi chơi đâu hết á, vì hiện nay nó
mới 57 tuổi mà chồng “già” đã ở tuổi 72, đã bị một lần stroke nhẹ, kèm thêm một
số bệnh vặt khác, ngày nào cũng uống thuốc, chẳng dám đi xa ngoài Sài Gòn, Vũng
Tàu, Đà Lạt, mà đi hoài mấy nơi ấy cũng chán, đường xá hiểm nguy, du lịch chặt
chém, thức ăn quán xá kém vệ sinh, thôi ở nhà cho lành. Vậy là lấy chồng “già”
chưa hẳn đã sướng, đến lúc mình hào hứng sẵn sàng đi đây đó enjoy cuộc đời thì
“lão ấy” chân cẳng run rẩy mất rồi .
Một vài người
bạn của tôi, mùa hè ít đi chơi xa, chỉ quanh quẩn ở nhà, tận hưởng khí hậu
tuyệt vời của Canada, trồng cây trái sau vườn vì ... đam mê ( đến ngày thu
hoạch đem chia cho bạn bè xung quanh ăn giùm chớ nhà mình ăn hết bao nhiêu), đi
picnic, camping, hoặc road trips ngắn ngày trong tiểu bang. Rồi qua mùa thu,
nhất là mùa đông lạnh giá, bắt đầu những chuyến vacation trốn lạnh đến Hawaii,
Florida, Cancun ... hòa mình với 3 s (sun, sea, sand) hoặc bay qua California
nắng ấm, đến phố Bolsa ăn hàng, ngắm phố phường tìm hơi ấm của tình đồng hương
Việt Nam .
Trong một cuộc
khảo sát gần đây, thì 60% người ta thấy rằng thế giới hiện nay đầy chao đảo,
biến cố từ nhân loại và thiên nhiên xảy ra thảm khốc bất thường. Vì thế, họ
không còn muốn để dành tiền khi về hưu nữa, mà họ enjoy vào hiện tại được lúc
nào hay lúc đó, nói nôm na là “hãy cứ vui khi đời cho phép”. Tôi bỗng nhớ
chuyện mới đây, chàng Aditya Pai thuộc đảng Dân Chủ ở California tuyên bố rút
lui khỏi cuộc đua vào Congress vì “life is short”, nhưng tám tiếng sau anh ta
lên tiếng đính chính, đó chỉ là một phút “emotional” nên nói thế, chớ không có
chuyện bỏ cuộc . Trời, mới đọc khúc đầu, tôi tính hoan hô chàng trai trẻ này,
nhưng đọc đến cuối thì ... mỉm cười, té ra, chàng vẫn còn ham mê chính trường,
và chắc là chưa nghe câu hát của Nguyễn Văn Đông : “Lòng trần còn mơ vương
khanh tướng, thì đời còn mưa bay gió cuốn, còn nhiều anh ơi!”
Chuyện vacation
còn dài lắm, mênh mông lắm, mỗi người mỗi ý, mỗi nhà mỗi cảnh, đi đâu cũng
được, miễn là ... ra khỏi nhà .
Tôi xin tạm dừng
và kết thúc bài viết này bằng mấy mẩu chuyện như đùa mà có thiệt. Đầu tiên là
chuyện của tôi, xảy ra lập đi lập lại mấy năm liền, tôi không thể không
kể:
Số là lỗi khi hè
đến, có khi trời nóng chảy mỡ, các tiệm bán watermelon ào ào, tôi cũng mua về
giải khát trời hè. Nhưng vì nhà luôn có các trái cây khác, nên tôi để vài ngày
sau mới ăn, mà hễ lần nào tôi cắt dưa hấu thì y như rằng trời lập tức... đổ cơn
mưa gió, lạnh lẽo, ướt át, và như thế thì ăn dưa mất hết cảm giác thú vị.
Năm nay, mấy
tuần qua trời nóng bức, nghĩ đến vụ "trời mưa nếu Loan mua dưa" tôi
đã rất ngần ngại, sợ bị y chang những năm trước, nhưng rồi bỗng dưng ai xui ai
khiến, tôi đi Costco thấy dưa ngon quá đã hớn hở mang về trái dưa để giải
nhiệt.
Và kết quả thì
... khủng khiếp hơn mấy năm trước, nghĩa là " trời buồn trời đổ cơn
mưa" lai rai suốt hai tuần. Đã bảo không muốn tin dị đoan mà cũng phải
tin. Tôi tuyên bố với chồng, con, rằng tôi sẽ không mua dưa hấu nữa, vì không
muốn đem mưa gió bão bùng phá hủy mùa hè tươi đẹp của Canada.
Chuyện tiếp theo
là hôm nọ gặp lại cô bạn hồi đi học DayCare ở College, tôi hỏi thăm về đứa em
gái được bảo lãnh qua đây vài năm trước, cổ hớn hở khoe:
- Nó mới
vào quốc tịch rồi, giờ đang đi Mỹ chơi.
- Sướng
vậy cà?
- Thì may
mắn trúng thưởng. Bữa tuyên thệ quốc tịch, chẳng hiểu vì sao có mấy đơn vị tài
trợ phần “bốc thăm trúng thưởng” và em gái mình may mắn trúng giải, và phần
thưởng dành cho người vừa vào quốc tịch Canada là một chuyến du lịch qua …Mỹ,
giờ nó đang tung tăng ở Seattle và Oregon.
Tôi lại nhớ đến
câu chuyện ông anh tôi bên Texas hay kể lại mỗi khi gia đình có dịp tụ tập:
công ty xe hơi Ford của Mỹ, mỗi lần khen thưởng cuối năm, cho những kỹ sư và
nhân viên có thành tích tốt, thường có quà hậu hĩ cho người xứng đáng. Và năm
ấy, phần thưởng dành cho mỗi người được vinh danh là một chiếc xe... BMW của
Đức.
Trong ba mẩu
chuyện trên, chuyện đầu tiên tôi xin thề, bảo đảm “chăm phần chăm” sự thật vì
đó là chuyện của chính tôi, còn hai chuyện sau thì chính tai tôi nghe (nhưng
mắt không thấy), nên ai tin hay không tin cũng chẳng ảnh hưởng gì đến hoà bình
thế giới. Mà thế giới này, cuộc đời này, vốn dĩ cũng đã có nhiều điều phi lý
rồi, đúng không nà?!
Edmonton, Tháng
8/2023
KIM LOAN
5 MINH TINH ĐOẠT GIẢI OSCAR NHIỀU NHẤT TRONG LỊCH SỬ ĐIỆN ẢNH (NHẤT ANH)
5 minh tinh đoạt giải Oscar nhiều nhất trong lịch
sử điện ảnh Mỹ
April 7, 2023
Nhất Anh.
HOLLYWOOD, California
(NV) – Suốt một thời
gian dài ở kinh đô điện ảnh Hollywood, ngành công nghiệp thứ bảy từng bị xem là
nơi dành cho nam giới thống trị và nghệ sĩ nữ thường không được công nhận.
Chân dung minh tinh Katharine Hepburn. (Hình:
General Photographic Agency/Getty Images)
Bấp chấp hoàn cảnh đó,
những nữ nghệ sĩ tài năng xuất chúng như Edit Head, Katharine Hepburn hay Meryl
Streep vẫn tỏa sáng rực rỡ và được công nhận qua các lần được xướng tên ở hạng
mục “Nữ Diễn Viên Chính Xuất Sắc Nhất” hay “Nữ Diễn Viên Phụ Xuất Sắc Nhất” tại
lễ trao giải Oscar.
Ra đời từ năm 1929 tại
Hollywood, cho đến nay, trải qua 94 lần tổ chức, giải thưởng Oscar của Hàn Lâm
Viện Điện Ảnh Hoa Kỳ (AMPAS) vẫn được xem là sự kiện danh giá mà giới mộ điệu
điện ảnh luôn hướng về mỗi năm.
Dưới đây là năm minh
tinh nắm giữ những lần đề cử Oscar và những lần được vinh danh nhiều nhất tại
lễ trao giải Oscar.
Katharine Hepburn (4 giải
Oscar)
Cố minh tinh Katharine
Hepburn được xem là một tượng đài khó phai trong lòng người hâm mộ và làng điện
ảnh Mỹ khi có sự nghiệp diễn xuất kéo dài hơn 60 năm. Năm 1999, bà được Hàn Lâm
Viện Điện Ảnh Hoa Kỳ vinh danh là ngôi sao nữ vĩ đại nhất trong thập niên 1990.
Bà được biết đến với
tính cách độc lập, thẳng thắn và mạnh mẽ, thường xuyên hóa thân thành những
nhân vật nữ cường nhân có ý chí mạnh mẽ và sành điệu, gây ấn tượng sâu sắc cho
người xem.
Tài tử Cary Grant (trái) và minh tinh Katharine
Hepburn trong tác phẩm “Bringing Up Baby.” (Hình: Getty Images)
Sinh trưởng trong một
gia đình giàu có và gia giáo ở Connecticut, Katharine Hepburn lại có niềm đam
mê với diễn xuất ngay khi còn trẻ. Ở tuổi 26, sau khi được chọn để thay thế
minh tinh Constance Bennett để hóa thân vào vai ngôi sao Eva Lovelace trong tác
phẩm “Morning Glory,” bà đã xuất sắc nhận tượng vàng Oscar đầu tiên ở tuổi còn
khá trẻ so với các đồng nghiệp khác.
Tuy nhiên, sự nghiệp
của bà có những thăng trầm chứ không suôn sẻ sau khi đoạt giải Oscar. Một loạt
bộ phim Katharine Hepburn tham gia tiếp theo đều không gây được tiếng vang,
thậm chí còn bị một số khán giả tẩy chay. Ngoài ra, với cá tính mạnh, Katharine
Hepburn hầu như từ chối mọi cuộc phỏng vấn với truyền thông và không mặn mà với
báo chí.
Bà vẫn duy trì đóng
phim cho đến khi liên tiếp được xướng tên ở hạng mục “Nữ Diễn Viên Xuất Sắc
Nhất” trong ba bộ phim “Guess Who’s Coming to Dinner,” “The Lion in Winter” và
“On Golden Pond.” Có một điều đặc biệt là cả bốn lần được vinh danh, Katharine
Hepburn lại không xuất hiện tại lễ trao giải để nhận tượng vàng vì bà quan niệm
rằng, giải thưởng đối với bà không bao giờ là quan trọng.
Cho đến nay, Katharine
Hepburn vẫn là nữ nghệ sĩ duy nhất có tượng vàng Oscar nhiều nhất ở hạng mục
“Nữ Diễn Viên Chính Xuất Sắc Nhất” khi có đến bốn giải trong tay.
Ingrid Bergman là minh tinh người Thụy Điển hiếm
hoi thành công ở kinh đô điện ảnh Hollywood. (Hình: Hulton Archive/Getty
Images)
Ingrid Bergman (3 giải
Oscar)
Ingrid Bergman là minh
tinh người Thụy Điển hiếm hoi có chỗ đứng nổi bật ở Hollywood. Với sự nghiệp
kéo dài hơn năm thập niên, bà để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng giới mộ
điệu điện ảnh, đặc biệt là vai diễn Ilsa Lund trong tác phẩm ngôn tình
“Casablanca,” đóng chung với tài tử Humphrey Bogart.
Tuy nhiên, ba bộ phim
giúp bà cầm trong tay tượng vàng Oscar không phải là “Casablanca” mà chính là
bộ phim kinh dị tâm lý “Gaslight” vào năm 1944; tiếp đến là vai diễn trong
“Anastasia” và năm 1956 và cuối cùng là tác phẩm “Murder on the Orient Express”
vào năm 1974.
Tài tử Humphrey Bogart (trái) và minh tinh Ingrid
Bergman vẽ nên một câu chuyện tình đẫm nước mắt trong “Casablanca.” (Hình:
Warner Bros./Popperfoto/Getty Images)
Khác với những minh
tinh đầy nóng bỏng, quyến rũ thời đó, Ingrid Bergman mang trong mình vẻ đẹp hồn
nhiên và bình dị, giúp bà trở nên đặc biệt và nổi bật dưới hào nhoáng của kinh
đô điện ảnh thế giới. Sau khi tham gia một vài bộ phim ở Thụy Điển, may mắn mỉm
cười với bà khi đạo diễn Gregory Ratoff chọn bà hóa thân nữ nghệ sĩ dương cầm
có câu chuyện tình với chàng nghệ sĩ violin đã có vợ trong tác phẩm
“Intermezzo: A Love Story” vào năm 1939.
Meryl Streep tại lễ trao giải Oscar lần thứ 75,
diễn ra hôm 7 Tháng Giêng, 2018, tại Beverly Hills, California. (Hình: Frazer
Harrison/Getty Images)
Meryl Streep (3 giải
Oscar)
Có thể Meryl Streep
không phải là nữ diễn viên giành được nhiều Oscar nhất nhưng bà chính là người
nắm kỷ lục là nghệ sĩ có số đề cử tượng vàng nhiều nhất trong lịch sử, với 21
lần được xướng tên trong danh sách.
Chỉ sau ba năm ra mắt
khán giả lần đầu tiên với vai diễn Anne Marie trong bộ phim “Julia” vào năm
1977, Meryl Streep đã giành được giải Oscar đầu tiên trong sự nghiệp khi tham
gia tác phẩm “Kramer vs. Kramer” vào năm 1980, lột tả những tâm tư của người
phụ nữ làm vợ, làm mẹ, quyết tâm rời bỏ gia đình để đi theo sự tự do và tìm lại
chính mình.
Tạo hình của Meryl Streep hóa thân thành thủ tướng
Anh Margaret Thatcher trong phim “The Iron Lady,” tác phẩm giúp bà có tượng
vàng thứ ba trong sự nghiệp. (Hình: Facebook The Iron Lady)
Tiếp sau ba năm đó,
Meryl Streep lại được xứng danh “Nữ Diễn Viên Chính Xuất Sắc Nhất” tại lễ trao
giải Oscar năm khi bà biến hóa với vai diễn yêu cuồng si trong bộ phim
“Sophie’s Choice” của đạo diễn Alan J. Pakula.
Lần gần nhất Meryl
Streep được vinh danh tại Oscar chính là khi bà hóa thân thành nữ thủ tướng Anh
Margaret Thatcher trong bộ phim “The Iron Lady,” thể hiện một “người đàn bà
thép” đầy ưu quyền, quyết đoán, mạnh mẽ nhưng ẩn chứa bên trong là những giây
phút yếu mềm, cô đơn và trống trải.
Cate Blanchett là nữ diễn viên người Úc thành công
ở Hollywood. (Hình: Kevin Winter/Getty Images)
Cate Blanchett (2 giải
Oscar)
Cate Blanchett là nữ
diễn viên thực lực có tài, được mọi người quý trọng ở Hollywood. Vào nghề được
26 năm, tính đến nay, minh tinh người Úc vắt trên vai hơn 20 vai diễn khác nhau
nhưng lần hóa thân nào cũng đọng lại trong tâm trí người xem nhiều ấn tượng,
cho dù đó là nhân vật phụ hay là nữ chính.
Năm 2004, cô trở thành
chủ nhân của tượng vàng Oscar khi đóng vai phụ trong bộ phim “The Aviator” của
đạo diễn lừng danh Martin Scorsese.
Vai diễn Jasmine French trong “Blue Jasmine” đã
giúp cho Cate Blanchett chiến thắng giải Oscar ở hạng mục “Nữ Diễn Viên Chính
Xuất Sắc Nhất” năm 2013. (Hình: Facebook Blue Jasmine)
Năm 2013, cô tiếp tục
nhận thêm một tượng vàng Oscar mới khi có màn thể hiện xuất sắc nhân vật
Jeanette “Jasmine” Francis trong bộ phim “Blue Jasmine” của đạo diễn Woody
Allen. Với bộ dạng bên ngoài đầy sang chảnh, khoác lên mình những bộ cánh hàng
hiệu đắt tiền, nhân vật của Cate Blanchett chìm đắm trong quá khứ phù phiếm khi
cô từng là một phu nhân của một tỷ phú giàu có, sống xa hoa, tráng lệ thì nay
lại phải nhờ chỗ nương thân vì chồng bị bắt, tài sản thì bị tịch thu. Cho dù
hiện tại có phũ phàng đến mấy, người đàn bà đó vẫn ảo vọng về cuộc sống thượng
lưu ngày xưa.
Cate Blanchett cũng là
một trong số những minh tinh thường xuyên nhận được đề cử Oscar, bao gồm “Notes
on a Scandal,” “I’m Not There,” “Elizabeth: The Golden Age,” “Carol” và gần đây
nhất chính là tác phẩm “Tár.”
Elizabeth Taylor tạo dáng tại lễ trao giải Oscar
lần thứ 33 bên cạnh tượng vàng mà bà giành được khi đóng phim “BUtterfield 8.”
(Hình: Archive Photos/Getty Images)
Elizabeth Taylor (2 giải
Oscar)
Kể từ khi bắt đầu sự
nghiệp diễn xuất từ năm 1940, Elizabeth Taylor trở thành cái tên “bảo chứng”
cho doanh thu phòng vé của các hãng phim. Bà cũng là nữ nghệ sĩ hiếm hoi ở thập
niên 1950 và 1960 có cát sê cao nhất ở Hollywood, trở thành nàng thơ trong
nhiều dự án của các nhà làm phim nổi tiếng.
Với khuôn mặt trái
xoan đầy đặn, chiếc sống mũi cao tuyệt đẹp và đôi mắt đầy chiều sâu hút hồn,
Elizabeth Taylor chinh phục người đối diện với lối diễn đầy cuốn hút mà chỉ cần
nhìn vào ánh mắt thôi, người ta đã có thể không thoát ra được. Đặc biệt, việc
hóa thân thành Nữ Hoàng Cleopatra trở thành nhân vật đặc trưng dành riêng cho
Elizabeth Taylor mà đến nay không có một diễn viên nào có thể thoát được cái
bóng của bà.
Elizabeth Taylor nhận giải Quả Cầu Vàng ở hạng mục
“Thành Tựu Trọn Đời” hồi 27 Tháng Giêng, 1985. (Hình: Michael Montfort/Getty
Images)
Sau ba lần được đề cử
giải Oscar, năm 1961, Elizabeth Taylor cầm trong tay tượng vàng đầu tiên trong
sự nghiệp khi đóng vai một gái điếm trong bộ phim “BUtterfield 8” của đạo diễn
Daniel Mann.
Tiếp đến, vào năm
1967, bà một lần nữa được vinh danh là chủ nhân của tượng vàng Oscar “Nữ Diễn
Viên Chính Xuất Sắc Nhất” khi đóng bộ phim “Who’s Afraid of Virginia Woolf?”
cùng với tài tử Richard Burton, cũng là bạn diễn trong “Cleopatra” và là người
chồng ngoài đời của bà. (Nhất Anh)
Sunday, June 18, 2023
MỜI XEM TÌNH TỪ PHỤ CỦA MỘT NGƯỜI CHA CÂM ĐIẾC !!!
Nhân dịp “Ngày Từ Phụ” xin mời
các bạn xem lại một phim ngắn về tình thương của một người cha câm điếc sau
đây:
TÌNH CHA - See How Much a Father Can Give!
Emotional Short Film
Thursday, June 15, 2023
HẠT CẦM MIẾN ĐIỆN (TRỌNG ĐẠT)
Hạc cầm Miến Điện
Trọng Đạt
Hạc Cầm Miến Điện, The Birmese Harp là một
cuốn phim cổ điển của Nhật quay năm 1956 tại Miến Điện, đen trắng
dài 116 phút do đạo diễn Kon Ichikawa thực hiện, dựa theo truyện của Takeyama
Michio và Natto wada, nhà Sản xuất Masayuki Takaki.
Tài tử chính gồm Shoji Yasul (vai Mizushima), Rentaro
Mikuni (vai Đại uý Inouye). Phim đã đoạt giải thưởng OCIC và San
Giorgio tại Đại Hội Điện Ảnh Venise năm 1956, Giải ưu hạng tại Đại Hội Mainichi
film Concours của Nhật năm 1957. Năm 1957 được vào Chung kết Giải Oscar Mỹ dành
cho phim nói tiếng ngoại quốc hay nhất trong năm. Năm 1956 vào Chung Kết Giải
Sư Tử Vàng Đại Hội Điện Ảnh Venice. Năm 1985 nhà đạo diễn Kon Ichikawa đã thực
hiện lại (remake) Hạc Cầm Miến Điện bằng phim mầu và các tài tử khác
nhưng không thành công bằng phim cũ, chỉ được một vài giải thưởng nhỏ. Ở đây
chúng tôi chỉ đề cập tới cuốn phim đen trắng quay năm 1956 nêu trên.
Hạc cầm Miến Điện có tinh thần chống chiến tranh và chịu
ảnh hưởng giáo lý nhà Phật.
Đây là phim lấy đề tài Thế Chiến Thứ Hai, một đề tài rất ít
khi thấy Người Nhật khai thác, đa số phim nghệ thuật của họ lấy đề tài về võ sĩ
đạo thời trung cổ hoặc về ma quỉ. Phim này cho ta thấy hình ảnh người lính Nhật
có đạo đức, đầy tình thương nhân loại, phim cũng thể hiện tràn trề tinh thần từ
bi bác ái bao la của Thích Ca Mâu ni trước nỗi khổ đau không cùng của con
người.
Các nước Âu Mỹ đã thực hiện nhiều phim tố cáo những hành vi
bạo ngược của quân Nhật tại các trại tù Á Châu thời Đệ Nhị Thế Chiến như Cầu
Sông Kwai, phim Mỹ quay 1958; Đời Tôi Bắt Đầu Tại Mã Lai, phim Anh, thập niên
50; Road To Paradise, Mỹ thập niên 90… Người Pháp nói Bên này dẫy
núi Pyrénée là sự thật, bên kia là sai lầm.
Hạc Cầm Miến Điện được thực hiện trong thời kỳ cực thịnh
của nền Điện ảnh Phù Tang hồi thập niên 50, 60. Người Tây Phương bắt đầu chú ý
đến Điện ảnh Nhật qua phim Rashomon của Akira Kurosawa quay 1950, đoạt giải Sư
tử bạc Đại Hội Điện ảnh Venice và giải Oscar Mỹ, phim ngoại quốc hay nhất
trong năm, đó là cuốn phim thành công đầu tiên của Nhật gây được
tiếng vang trên thế giới. Kế đó những phim Bẩy Người Hiệp Sĩ, Người
Phu Xe, Địa Ngục Môn, Ughetsu… đoạt
các giải thưởng ưu hạng tại các Đại Hội Điện ảnh Quốc tế tại Cannes,
Pháp, Venice Ý… được Tây phương chú ý và được phát hành đi nhiều nước trên thế
giới.
Trong số các nhà làm phim Nhật, Akira Kurosawa là nhà đạo
diễn được Tây phương khâm phục nhiều nhất, ông được coi như nhà đạo diễn lớn
nhất thế giới và là người có ảnh hưởng nhiều nhất đến nền điện ảnh Mỹ cũng như
điện ảnh thế giới (primal influence), có khoảng trên dưới 20 cuốn phim của các
nước Mỹ, Trung Quốc, Hồng Kong, Pháp, Ý, Ấn… bắt chước hay chịu ảnh
hưởng các phim của Akira. Riêng phim Bẩy Người Hiệp Sĩ quay 1954 của ông, đoạt
sư tử bạc tại Venice đã có khoảng 10 phim bắt chước theo: The Magnificent
Seven, 1960 ( Mỹ), The Return Of The Magnificent Seven, 1966 ( Mỹ), Gun Of The
Maginficent Seven, 1969 (Mỹ), The Maginficent Seven, 1998 ( Mỹ), Beach Of The
War Gods, 1973, Run Run Shaw (Hong Kong), Battle Beyond The Stars 1980 ( Mỹ) ,
World Gone Wild, 1988, (Hong Kong), Soley, 1975 ( Ấn), và gần đây
năm 2002, Thất Kiếm, Trung Quốc, phim dàn cảnh vĩ đại, được coi là ăn khách
nhất trong năm, chiếu khai mạc Đại Hội Điện Ảnh Venice .
Hạc Cầm Miến Điện lấy bối cảnh thời hậu chiến, nội dung tràn
trề tình yêu nhân loại.
Sơ lược truyện phim.
… Mặt trận Miến Điện lúc Thế chiến gần kết thúc, quân đội
Nhật bị Đồng minh truy kích, tấn công ráo riết. Một đại đội Nhật đang trên
đường chạy về biên giới Thái Lan, một nước trung lập . Đại uý đại đội trưởng,
nguyên là nhạc sĩ thường hay dậy lính hát, một anh binh nhì tên
Mizushima đánh đàn hạc cầm Miến Điện rất hay, một loại đàn nhỏ có nhiều dây
trong giống như đàn bầu của ta. Một hôm ông cho đại đội dừng quân
giữa rừng rồi đưa tay đánh nhịp cho đại đội hát, khi ấy Mizushima gẩy đàn hoà
theo, tiếng đàn du dương với âm điệu Tây phương nhẹ nhàng thanh thoát.
… Nước Nhật đầu hàng Đồng Minh, Đại uý đại đội
trưởng tuân lệnh trên nạp vũ khí đầu hàng, Mizushima được cử đi
thuyết phục một đại đội Nhật khác tại một ngọn núi cách hai trăm
dặm, đi hai ngày mới tới. Tại đây đại đội này không chịu đầu hàng
chỉ muốn chiến đấu tới cùng. Tới nơi anh cho họ biết mình là sứ giả hoà bình,
nhiệm vụ là cứu mạng cho cả đại đội vì nếu không đầu hàng sẽ bị quân Anh pháo
kích chết hết. Họ đã không nghe còn chửi mắng hành hung anh, xỉ vả chàng là đồ
hèn nhát. Ông sĩ quan Anh chỉ cho suy nghĩ nửa giờ, đại đội vẫn ngoan cố không
chịu hàng bị quân Anh pháo kích tấn công, hầu như đơn vị này bị hoàn toàn tiêu
diệt.
Mizushima bị thương cố lết ra ngoài xa, anh được một nhà sư
đem về săn sóc cứu chữa, một thời gian sau lành bệnh anh bỏ chùa ra đi rồi tìm
những xác lính Nhật còn xót đem chôn. Có lần thấy một nhà sư đang
tắm dưới suối, anh bèn lấy cắp áo cà sa của ông rồi chạy ra xa, cạo trọc đầu,
mặc áo cà xa rồi chạy trở lại ngọn núi ấy gom xác lính Nhật lại lấy cây củi
đốt. Anh dò tìm ra đại đội cũ của mình hiện trong trại tù binh do người Anh
canh giữ, Mizushima bèn tìm đến ở một ngôi chùa gần đó xin qui y,
người ta cho anh nhập giáo hội hành đạo.
Khi đại đội có dịp đi lao động hoặc ra ngoài trại, họ gặp
một nhà sư trông giống y như Mizushima, nhiều người cho
là anh vẫn còn sống, nhưng cũng có người nói chàng đã chết anh dũng không đầu
hàng.
Một hôm đại đội đi ngang một cây cầu gỗ hẹp, ông Đại uý
nhìn anh chăm chú, mọi người nhận ra anh đang khoác áo cà xa nhưng chưa dám quả
quyết. Họ hay hỏi thăm tin tức một bà già thường vào trại mua đồ thủ công của
tù binh và bán quà bánh cho họ, bà già cũng dò tìm tông tích ông thầy dùm họ.
Mỗi lần gặp anh, họ thường bảo nhau “ ông thầy sao giống Mizushima quá”. Thế
rồi đại đội được người Anh cho về nước, ai nấy khăn gói chuẩn bị lên
đường. Đại uý nhờ bà già gửi ông thầy một con két, Đại uý đã dậy nó
nói: “Mizushima về nước nhá”.
Họ thấy nhà sư trông giống y như Mizushima xuất hiện bên
ngoài hàng rào trại, nhà sư đứng cạnh một chú đệ tử lên mười đang ôm cây đàn
Hạc cầm Miến điện. Ông thấy lặng thinh không nói gì, anh em hỏi gì cũng không
nói. Các anh em bảo nhau hát bài họ vẫn thường hát để dò thái độ của nhà sư.
Khi anh em cất tiếng hát, nhà sư bèn lấy cây đàn Hạc cầm hoà theo, bây giờ thì
mọi người đều biết đó là Mizushima. Họ bảo anh ngày mai được về nước tại sao
anh không về. Ông thầy bèn chơi ngay bản tiễn biệt, bản đàn vừa dứt, ông thầy
ôm đàn đi khuất sau ngôi chùa tháp.
Mọi người thu xếp đồ đạc lên đường về nước, bà già đem thư
của ông thầy nhờ gửi Đại uý, ông này bận quá bảo để khi nào lên tầu sẽ đọc, ông
thầy cũng nhờ bà già đưa Đại uý một con két nói “Tôi không về được”. Khi lên
tầu ông đọc thư, Mizushima kể lại những này đã qua, anh hiện đã qui y, tình
nguyện ở lại để tìm kiếm chôn xác những người đồng đội, xoa dịu những nỗi khổ
đau của con người.
Cuốn phim nhuốm màu từ bi, bác ái nhà Phật. Khán giả vừa
được thưởng thức những âm điệu du dương tuyệt vời của cây Hạc cầm lại
được du lịch Miến Điện, xứ Phật nghèo nàn lạc hậu đầy những chùa
tháp. Chủ đề sâu sắc, nội dung cảm động, nhạc hay, điều đáng tiếc kỹ thuật thu
hình xưa cũ, lạc hậu.
Đây là một bi kịch thời hậu chiến, chủ đề chống chiến tranh,
nội dung mang nhiều ý nghĩa nhân bản tràn đầy tình yêu nhân loại. Cũng
là phim lấy đề tài trại tù thời chiến như Cầu Sông Kwai,
Y Sĩ Thành Stalingrad nhà làm phim không có mục đích nói lên sự tàn
ác của kẻ thắng trận mà ngược lại còn có khuynh hướng ca ngợi lòng nhân đạo của
họ. Những phim Cầu Sông Kwai, Đường Lên Thiên Đàng.. người Anh, Mỹ chỉ trích sự
tàn ác của quân Nhật đối với tù binh nhưng ngược lại ở đây người Nhật không
những chẳng chỉ trích người Anh mà còn cho thấy kẻ chiến thắng đối xử với ho
nhân đạo, những tù binh chết cũng được họ làm lễ cầu nguyện và an táng tử tế.
Lối làm phim này cho ta thấy tinh thần cao thượng của họ khi nói đến kẻ thù.
Khác với Tây phương Anh Mỹ.. người Đức, Nhật khi làm phim chiến tranh với tinh
thần phản chiến không khoe khoang chiến thắng.
Phim có những đoạn vui, ngộ nghĩnh nhưng cũng đượm vẻ buồn
mang mác nhất là đoạn cuối đã kết thúc bằng một cảnh cảm động đầy nước mắt. Đại
đội tù binh Nhật ai nấy đều quan tâm tới Mizushima, họ tưởng anh đã chết trong
trận đánh. Sau nhiều lần gặp nhà sư khoác áo cà sa với khuôn mặt
giống hệt như anh họ lại nghĩ rằng anh còn sống, nhà sư chẳng ai khác hơn là
anh chàng đánh đàn Hạc cầm hay tuyệt. Dần dần nghi ngờ đã thành sự thật, bà già
thường hay ra vào trại cho biết tin tức nhà sư và sau cùng trước ngày tù binh
lên đường về nước, nhà sư lại xuất hiện bên ngoài hàng rào của trại để chào từ
giã anh em. Độc đáo nhất là cuộc “nhạc đàm”, họ đã lấy bản hợp ca và tiếng Hạc
cầm du dương để nói chuyện trao đổi với nhau.
Thấy nhà sư yên lặng không nói gì, bọn tù binh bảo nhau.
– Mình thử đồng ca một bản thường hát ngày trước xem sao,
nếu đúng là nó thì nó sẽ hát hay đàn theo.
Nói rồi mọi người cất tiếng đồng ca bản họ thường hát trong
đại đội trước đây, ông thầy bèn lấy cây Hạc cầm trong tay chú đệ tử rồi gẩy một
bản hoà theo, cũng vẫn bản Hạc cầm du dương thanh thoát ấy. Thế là hai bên đã
nhận ra nhau, một vài anh vui mừng la lớn.
– Mizushima! Ngày mai tụi tao về nước, thế mày không muốn
về à?
Người lính chiến đã xuất gia, qui y, nay tịnh
khẩu chỉ trả lời bằng tiếng Hạc cầm thánh thót. Ông thầy vẫn lặng thinh bèn
chơi ngay một bản đàn tiễn biệt, bọn tù binh bảo nhau.
– Nó đánh bản tiễn biệt tụi mày ạ!
Bản đàn vừa dứt, ông thầy ôm cây Hạc cầm đi khuất sau ngôi
chùa tháp.
Hôm sau mọi người đang thu xếp đồ lên đường, bà già đem vào
một bức thư rất dài nói là của ông thầy gửi cho Đại úy, ông này bèn cất thư đi
bảo.
-Bây giờ đã tới lúc khởi hành, đọc thư không giải quyết
được gì, thôi để lúc khác.
Ngoài ra con két do ông thầy gửi vào thường nói “ Tôi không
về được” để trả lời Đại úy trước đó đã gửi con két nói “Mizushima về nước nhá,
đây là cuộc đối thoại độc đáo bằng hai con két.
Đoàn tù được đưa ra bến tầu về nước. Khi tầu đang lênh đênh
trên mặt biển Đại úy mới đem thư ra đọc, bức thư rất dài dòng văn
tự, bốn năm trang giấy.
… Mizushima kể lại từ ngày anh bị thương cho tới khi nương
náu cửa thiền môn, anh cho biết mình đã bị thương rồi được một nhà sư cứu sống,
ông mang anh về chùa chăm sóc nuôi dưỡng, nhà sư nói:” Dù người Anh hay người
Nhật đóng tại đây, nước Miến Điện vẫn là xứ Phật”. Nay anh đã đượïc người ta
cho nhập Giáo hội trở thành nhà sư, Mizushima tình nguyện ở lại để lo chôn cất
xác những người Nhật tử trận tại đây….
… “Thưa Đại Uý, các bạn thân mến.
Tôi rất nhớ các bạn nhưng tôi không thể về đơn vị cùng các
bạn, tôi không thể về thăm lại quê hương và xây dựng lại đất nước bị tàn phá
cùng các bạn.
Dù rất nhớ các bạn nhưng tôi không thể về cùng các bạn, tôi
không thể bỏ lại những xác chết đồng đội, những bộ xương của họ trên khắp các
ngọn đồi nơi đây.
Khi leo lên những ngọn đồi để nhặt xác họ để đem chôn, đốt
, tôi tự hỏi tại sao lại có những thảm kịch, những nỗi đau khổ như thế này, sao
chúng ta không nói cho xã hội, loài người cùng biết? chúng ta phải góp phần vào
sự xoa dịu những nỗi khổ đau của con người, ta phải cố gắng, dấn thân, đó là
những lý do thúc đẩy tôi vào chùa học đạo. Khi nào làm xong những nghĩa vụ ấy
có thể tôi sẽ trở về.
Thưa Đại uý nhưng tôi chưa biết khi nào tôi sẽ trở về, có
thể tôi sẽ sống cho tới ngày cuối cùng tại nơi đây, miền đất đỏ của xứ Phật
Miến Điện này….”
Bức thư dài bốn năm trang giấy, Đại uý dở đọc hết trang này
tới trang khác khiến cho anh em ai nấy không cầm được nước mắt, nhiều người âm
thầm khóc với những giọt lệ long lanh. Họ vô cùng cảm động về sự hy sinh cao
thượng của Mizushima, người đã chọn ở lại để góp phần vào sự xoa dịu những nỗi
khổ đau của con người. Mỗi lần Đại úy dở sang trang khác, lại có những dòng lệ
tuôn rơi như không bao giờ dứt. Chính ông cũng nghẹn ngào khi đọc gần hết bức
thư.
Người chiến sĩ đã đi tu, anh đã từ chối trở về đất nước để
xuất gia đi tìm lý tưởng vị tha, một hình ảnh của Thái Tử
Tất Đạt Đa cách đây trên hai ngàn năm trăm năm, từ bỏ lầu vàng cung điện để đi
tìm phương giải thoát cho nhân loại. Mizushima tìm thấy hạnh phúc ở sự hy sinh
cao cả, góp phần vào sự xoa dịu những nỗi khổ đau không cùng của loài người.
Trọng Đạt
.jpg)
