Showing posts sorted by date for query Thư ngỏ của Hội Cựu Học Sinh Phú Yên. Sort by relevance Show all posts
Showing posts sorted by date for query Thư ngỏ của Hội Cựu Học Sinh Phú Yên. Sort by relevance Show all posts

Tuesday, November 18, 2025

NGƯỜI HÁT RONG TRONG HẦM XE ĐIỆN NGẦM (NGUYỄN ĐẠI THUẬT)

 


 NGƯỜI HÁT RONG TRONG HẦM 

XE ĐIỆN NGẦM

Vì đâu nên nỗi?

Câu hỏi của rất nhiều người, trong đó có tôi, từ sau cái ngày định mệnh 30-4 năm ấy. Biết bao nhiêu tang tóc, đau thương đã đổ xuống cho người miền Nam.

Mời bạn đọc câu truyện dưới đây. Chỉ là một trong ngàn vạn chuyện thương tâm đã xảy ra sau chiến tranh.

Hỡi những người vượt biên ba - bốn mươi năm trước. Hầu hết đã gặp hiểm nguy, một số đã bỏ mạng vì sóng gió, cướp biển, đói khát... Nhưng ít người gặp hoàn cảnh khốn khổ như những người trong truyện:


NGƯỜI HÁT RONG TRONG HẦM XE ĐIỆN NGẦM

Con tàu TGV nối liền thành-phố Dijon-Paris ngùng tại điểm đến ga Lyon. Phú xuống xe, kéo va-li đi dọc theo hành lang ga, xuống hầm xe điện ngầm để đón xe khách sạn.Inline image


Chiều thứ sáu, đang là giờ cao-điểm cuối tuần nên hành khách đi lại rất đông. Phú chen đi trong dòng người vội vã, vừa ra khỏi cầu thang cuốn, anh thoáng nghe có tiếng đàn guita hòa lẫn giọng ca nam nhẹ vang lên trong góc hầm, giọng ca tiếng Việt buồn não, lời bài ca đã lâu lắm anh mới có dịp nghe lại:

Trời đêm dần tàn, em đến sân ga để tiễn người trai lính về ngàn.
Cầm chắc đôi tay, ghi vào đời tâm-tư ngày nay.
Gió khuya ôi lạnh sao, vấn nhẹ đôi tà áo.
Tàu xa dần rồi, thôi tiếc thương chi khi biết người ra đi vì đời
Trở gót bâng-khuâng em hỏi lòng đêm nay buồn không.
Chuyến xe đêm lạnh không để người yêu vừa lòng ?
Ngày tháng đợi chờ, em đến sân ga nơi tiễn người trai lính ngày nào
Tàu cũ năm xưa, mang người tình biên khu về chưa.
Trắng đêm em chờ nghe tiếng tàu đêm tìm về....

Lời ca đến đây chấm dứt, giọng ca lại tiếp tục vang lên lời ca nhạc Pháp.

Ngạc nhiên và tò mò Phú tiến lần đến nơi phát ra tiếng hát. Một nhóm khách hiếu kỳ đang đứng vây quanh một người đàn ông Á-châu nhỏ con, tuổi không quá ba mươi, đôi mắt to sáng, để râu mép... nhìn chung người đàn ông không có gì cá biệt về hình dáng so với những đàn ông Châu-Á khác.. Anh đang vừa đàn vừa hát: những người khách vây quanh thích thú vỗ tay khi anh ngừng hát và lần lượt vài người bỏ tiền vào cái hộp giấy anh để dưới đất.

Phú nhìn người hát rong, anh đứng im lặng, tuy người hát rong đã đổi sang hai bài ca bằng tiếng Pháp khá lâu nhưng dường như anh vẫn còn đang nghe lời ca tiếng Việt của bài ‘Tàu đêm năm cũ’ đang thấm vào tim, vào máu, vào hơi thở của anh. Anh rẽ đám đông, tiến vào phía trong bỏ tiền vào hộp...người hát rong nhìn anh nói “Merci” như nói “Merci” với những du khách cho tiền khác. Anh nhìn thẳng vào người hát rong gật đầu, mỉm cười chào. Người hát rong mỉm cười gật đầu đáp trả. Nhìn nét vui vẻ của người hát rong, Phú hỏi ngay bằng tiếng Việt:

- Anh là người Việt-nam ?

Người hát rong gật đầu, ngừng một chốc rồi lắc đầu, trả lời bằng tiếng Pháp:

- Tôi là người Việt-nam nhưng tôi không nói được tiếng Việt.

Nói xong,người hát rong cầm hộp tiền, ôm đàn chào mọi người rồi dời đi nơi khác....Phú đi theo sau anh ta một đoạn hầm ngắn, anh định hỏi người hát rong:"Anh không nói được tiếng Việt, nhưng ai dạy anh hát tiếng Việt quá hay?" Vửa lúc đó người hát rong ngồi xuống nơi góc ngay một ngã rẽ của đường hầm, bắt đầu đàn rồi cất cao giọng:

Trời đêm dần tàn, em đến sân ga tiễn người trai lính về ngàn.....

Mọi người dừng lại nghe hát. Phú cũng đứng lại nghe hát.... lời ca làm anh như say, quyến luyến lạ thường, đưa anh trở về với kỹ niệm của một thời vang bóng của tuổi học đường, của hình ảnh bạn bè nơi thành phố thân yêu anh được sinh ra và lớn lên... rồi những ngày sống cuộc đời chiến-đấu gian nguy, chết chóc trong quân đội.... cho đến những ngày bị đày đọa trong ngục tù Cộng-sản sau cuộc chiến bại trong việc giữ nước.

Tàu cũ năm xưa mang người tình biên khu về chưa?
Trắng đêm em chờ nghe tiếng tàu đêm tìm về...

Tiếng vỗ tay của người nghe đánh thức Phú trở về thực tại. Anh góp vỗ tay cùng những nguời khác. Anh tự hỏi không biết những người nước ngoài nầy có hiểu được lời ca Việt nầy không mà họ vỗ tay rất nhiệt tình. Vì lịch-sự chăng? Anh nghĩ chắc không phải vì lịch-sự, cứ nhìn nét mặt của họ diễn biến theo lời ca, tuy họ không hiểu lời nhưng âm điệu diễn đạt lời ca hòa cùng tiếng đàn điêu luyện của người nghệ sĩ hát rong đã đi vào nơi thâm sâu, nơi trái tim đầy xúc cảm của họ. Cái ý định theo người hát rong để hỏi một điều gì đó đến đây vẫn chưa định hình được. Phú không muốn quấy rầy người này trong giây phút thuận tiện cho cuộc mưu sinh của họ. Phú vẫy tay chào người hát rong rồi trôi theo giòng người trong hầm xe điện.

**********
Nhận phòng khách-sạn xong, Phú điện thoại ngay cho Thuyên để báo anh đã lên đến Paris.
Anh quen biết Thuyên từ những ngày đầu tiên đến Pháp gần hai mươi lăm năm. Thuyên đến từ trại tỵ-nạn Hông-kong, anh đến từ trại tỵ-nạn Galang thuộc Indonésie.

Thuyên đến Pháp cùng vợ trước Phú vài ngày. Anh đến một mình. Anh, vợ chồng Thuyên và một số thuyền nhân tỵ-nạn khác đến từ Mã-Lai, Phi-luật-Tân,Thái-Lan được chính phủ Pháp nhận cho định cư. Trạm dừng chân đầu tiên khi họ đến Pháp đều được tiếp đón tại trung tâm Terre d'asiles ở Créteil, ngoại ô Paris, nơi lập thủ tục giấy tờ cá-nhân cũng như khám sức khỏe trước khi được phân phối định cư trên toàn nước Pháp. Anh được dưa định-cư ở thành phố Dijon,miền trung nước Pháp, Thuyên và vợ được gia-đình người anh ruột đón nhận về chung sống tại Paris.

Sau khi sắp xếp giờ giấc buổi hẹn là gặp ngày thứ hai đầu tuần tới tại công-ty buôn bán nhà đất do Thuyên quản lý để anh được Thuyên giới thiệu mua nhà, Anh theo lời Thuyên mời dùng cơm tối hôm đó tại nhà. Năm nay hai con của Phú đã hoàn tất đại-học và muốn sống tại Paris để tìm việc làm dễ dàng hơn nên vợ chồng anh đã quyết định tìm mua nhà ở Paris cho hai con có cơ hội tiến thân. Việc tìm nhà theo tiêu chuẩn của gia-đình anh đã được anh nhờ Thuyên giúp. Chuyến đi Paris này do Thuyên mời anh lên xem nhà theo tiêu chuẩn đã yêu cầu.

Buổi cơm tối gia-đình diễn ra vui vẻ và ấm cúng, ngoài gồm vợ chồng Thuyên, còn có hai nguời con trai và con gái đầu lòng có mặt. Gần cuối bữa cơm Phú kể chuyện nghe người hát rong Việt-nam hát trong hành lang xe điện ngầm vào buổi chiều. Đứa con trai út của Thuyên có vẽ ngạc nhiên hỏi:

- Bác chưa hề gặp ông nầy lần nào sao? Ở Paris nầy ai xử dụng métro thường xuyên ít nhất cũng có gặp ông ấy và nghe ông ấy hát một lần. Cháu biết ông ấy lâu rồi, từ khi cháu bắt đầu lên trung-học và xử dụng métro để đi học". Ngừng một lát, cậu nói tiếp:

- Ít nhất là trên năm năm rồi từ khi cháu gặp ông ấy."

Con gái lớn của Thuyên xen vào:

- Ông ấy là giáo-sư toán năm đầu tiên bậc trung học của cháu...thầy Kévin...Thẩy là người Việt-nam nhưng không nói được tiếng Việt mà lại hát được tiếng Việt. Thầy cũng hát tiếng Pháp rất hay. Thầy hay đi hát trong hầm xe điện ngầm những ngày cuối tuần và ngày lễ, hoặc cả những ngày nghỉ hè mà thầy không có chương trình đi chơi.

- Bác có biết thầy Kévin đi hát để làm gì không?"

Phú lắc đầu. Con gái Thuyên dửng một một chút rồi nói tiếp :

- Để có tiền giúp trẻ em mồ côi bên Việt-nam ! Thầy đã có vợ nhưng chưa có con,

Vợ thầy Kévin là giáo sư âm nhạc, dạy nhạc ở nhạc viện địa-phương. hai vợ chồng thầy sống chung với cha mẹ người Pháp, dường như cha mẹ của thầy đều làm việc cho một công-ty máy bay nào đó...bạn thân của cháu là em gái của vợ thầy, chúng cháu thân nhau từ nhỏ. Con nhỏ cũng sống chung một nhà với thầy Kévin, nên thỉnh-thoảng cháu ghé nhà thăm bạn, đôi khi cháu gặp thầy Kévin. Bạn cháu nói thầy Kévin đi hát rong để lấy tiền giúp trẻ mồ côi bên Việt-nam nên cháu mới biết. Có dịp đi Metro, cháu ghé nghe thầy hát và góp tiền. Cháu nghe hoài thành ra gần như thuộc lòng bài hát tiếng Việt mà thầy ấy hát"
Nói đến đây con gái Thuyên đọc lên lời ca:" Tàu cũ năm xưa, mang người tình biên khu về chưa", cô ngừng vài giây rồi nói như xúc-động:

- Lời ca buồn quá phải không bác? 

 

Inline image

Phú im lặng, trả lời bằng đầu cách gật đầu. Vợ Thuyên bỗng góp lời:

- Lần đầu tiên, tình cờ tôi nghe cháu nghêu ngao mấy câu hát bài nầy, tôi ngạc-nhiên hỏi cháu ai dạy mà con biết hát, thì cháu kể đã nghe một người Việt-nam hát trong hầm xe điện, người nầy là thầy giáo cũ của cháu. Cháu lại nhờ tôi giải thích hai chữ "biên-khu" là gì ?" Một phút yên lặng rơi xuống bàn ăn... Phú góp lời:

- Ngày xưa nghe ca-sĩ Thanh-Thúy hát bài nầy buồn thúi ruột !"

Chuyện thầy giáo Kévin gốc Việt, không nói được ngôn ngữ Việt của mình mà hát một bản nhạc bằng tiếng Việt trong hầm xe điện ngầm để có tiền giúp trẻ mồ côi tại quê nhà ám ảnh Phú suốt buổi ăn tối hôm đó. Cái ý-tưởng muốn gặp người đó để tỏ lòng mến phục một cách tự-nhiên giữa hai nguời còn xa lạ làm anh suy nghĩ, nhưng anh còn ngần ngại chưa nghĩ ra phương cách thích hợp.

Và dường như đọc được ý-nghĩ của anh, con gái Thuyên đem tách trà đến mời và ngồi xuống gần anh:
- Bao lâu nay cháu muốn hỏi thầy Kévin, thầy hát nhạc lời Pháp, lời Mỹ và đôi khi lời Ý, nhiều tên bản nhạc khác nhau, nhưng tại sao duy nhất chỉ có một bản nhạc lời Việt; cháu thấy ngại khi muốn mở lời, cháu sợ có sự bí mật riêng tư nào đó sẽ làm tổn thương thầy. Ngày mai chúa-nhật, cháu mời bác, ba mẹ cháu và hai em cháu cùng bạn trai của cháu đi uống cà-phê ở Montmartre, chúng ta sẽ đi métro. Trên đường đi, chúng ta sẽ ngừng lại nghe thầy Kévin hát, cháu sẽ giới thiệu bác và ba mẹ cháu với thầy Kévin, mọi người đồng-ý không?

Phú chưa kịp trả lời thì Thuyên đã lên tiếng :

- Đồng ý! Ba mẹ đồng ý đề nghị của con gái, ba mẹ sẽ có dịp biết anh chàng hát rong nầy. Bác Phú nên nhận đề nghị của cháu cho cháu vui"

Phú vui vẻ nhận lời. Anh vỗ nhẹ vai cô con gái Thuyên:

- Cháu mời nhưng bác trả tiền được không?".

- Không được đâu, bác có biết bên Tây nầy tội hối lộ bị phạt nặng lắm không ?".

Tất cả mọi người đều cười.

******
Ba tháng sau Phú đưa gia-đình từ thành phố Dijon về căn nhà mới mua ở ngoại-ô Paris, nhờ Thuyên môi giới và hướng dẫn thủ tục nên anh mới có được căn nhà theo ý muốn. Anh lại may mắn đuợc tiếp-tục làm việc cho công-ty phụ của đại công-ty chính ở Dijon chuyên về xuất nhập trái cây khô của Thổ-nhĩ-Kỳ.

Hôm khai trương nhà mới, ngoài gia-đình Thuyên, Phú còn mời vợ chồng Kévin và bà mẹ nuôi của Kevin.
Anh nhớ hôm đi uống cà-phê do con gái lớn của Thuyên mời, trên đường về, tất cả mọi người dừng chân trong góc xe điện ngầm để nghe Kévin hát. Đang hát, có lẽ nhận ra con gái và con trai của Thuyên nên Kévin mỉm cười gật đầu chào và tiếp tục hát một bài ca lời Pháp. Lời ca vừa dứt, mọi người vỗ tay, Phú và vài người tiến đến bỏ tiền vào hộp quyên gỏp.

Khi Kévin nhìn đồng hồ tay, như biết thói quen của người hát rong, con gái Thuyên tiến bên cạnh nói:

- Thầy khoan đi qua địa điểm khác hoặc nghỉ hát, hôm nay thầy phá lệ được không,?

Nói xong, con gái Thuyên quay nguời lại đưa tay chỉ về những thành viên trong gia-đình cô:

- Ba mẹ tôi lần đầu tiên muốn nghe anh hát bài ca tiếng-Việt, và người Bác tôi cũng muốn nghe lần thứ hai anh hát bài ca đó, xin anh vui lòng, nếu không có gì trở ngại ?"

Phú nghe Kévin trả lời:

- Thường tôi chỉ hát bài ca lời Việt chỉ một lần khi bắt đầu buổi hát tại một địa điểm khi mới đến. Hôm nay đã chấm dứt buổi hát trong ngày, nhưng để làm vui lòng cô học trò cũ, tôi sẽ hát".

Dứt lời, Kévin đập nhẹ vài tiếng vào thùng đàn, dạo nhạc và lên tiếng hát:

Trời đêm dần tàn, em đến sân ga để tiễn người trai lính về ngàn...

Giọng hát khàn, đục âm điệu buồn lắng đọng trong tim. Chuyện tình của một đôi trai gái trong cuộc chiến tranh giữ nước của một giai-đoạn lịch sử. Lời ca buồn, giọng ca buồn, đôi mắt và khuôn mặt buồn của người hát rong như tan ra hòa lẫn vào hơi thở và mạch máu của Phú.

Khi giọng hát và tiếng đàn ngừng, một sự yên lặng phủ trùm không gian của góc đường hầm làm Phú trở về thực tại. Anh đã đến đứng kế bên cạnh người hát rong tự bao giờ như một người mộng-du và anh đã cùng hát...cùng diễn đạt tâm-tư của nhân vật trong câu chuyện tình như anh đã sống trong giai đoạn đó...

Mọi người bắt tay nhau. Lời cám ơn nhẹ nhàng đượm buồn. Từ đó, những ngày cuối tuần khi Phú trở lên Paris gặp Thuyên, anh có dịp ghé thăm Kévin ở hầm xe điện. Tình cảm giữa hai người trở nên quyến luyến hơn.

Qua bữa ăn mừng nhà mới., Phú biết được một chút về gia cảnh Kévin. Khi vợ Thuyên hỏi bà mẹ Pháp của Kévin có mấy con ngoài đứa con Á-châu nầy, Bà đưa mắt hướng về phía Kévin đang đứng hút thuốc ngoài hành lang, hạ thấp giọng

"- Vợ chồng tôi cưới nhau hơn mười năm mà không có con. Nhân một chuyến du-lịch Thái-Lan, chúng tôi vào thăm một cô-nhi viện của một làng chài nhỏ, thấy thằng nhỏ kháu-khỉnh, ông chồng tôi nhìn thấy thuơng nên xin nhận làm con nuôi.

" Người ta cho biết một tàu hàng nhỏ chuyên chở ven bờ Thái Lan đã tim thấy thằng nhỏ cùng với hơn mười trẻ khác gồm trai và gái nằm đói lã trên một chiếc tàu có quốc-tịch Việt-nam trôi giạt trên biển, nên đã kéo tàu đó về làng nầy. Trên tàu không có người lớn, người ta nói có thể đoán tàu bị cướp biển tấn công nên người lớn có thể đã bị giết hay bị bắt đi. Khi lớn lên, đôi lúc cháu hỏi vợ chồng tôi về nguồn gốc cha mẹ cháu, vợ chồng tôi không biết gì hơn ngoài chuyện như tôi vừa mới kể."

******
Mối giao tình giữa gia-đình Phú và Kévin theo thời gian trở nên thân thiết. Hai con của anh và vợ chồng Kévin rất quyến luyến nhau. Mùa nghỉ hè đầu tiên từ khi quen biết, Kévin đã dành trọn hai tuần nghỉ cùng gia-đình anh đi nghỉ hè chung với nhau. Dịp nầy Phú đề nghị giúp Kévin tập hát thêm một vài bài nhạc tiếng Việt để Kévin có thể hát với những nhạc phẩm khác trong hầm xe điện nhưng bị từ chối, không giải thích lý do.

Một buổi chiều, trời đang hanh nắng chợt một cơn mưa giông ập đến. Những giọt mưa lớn rơi lộp bộp trên mái nhà trại hè, mọi người chán nản vì không đi ra ngoài tắm biển được. Mong rằng sẽ xua bớt đi sự chán nản của mọi người, Phú dùng hai tay đập vào đùi của anh theo nhịp tiếng mưa hát:

Chiều một mình qua phố, âm thầm nhớ đến tên em
Có khi nắng kia chưa lên mà một loài hoa chợt tím
Chiều một mình qua phố, âm thầm nhớ nhớ tên em
Gót chân đôi khi đă mềm, gọi buồn cho mình nhớ tên

Phú ngừng đập nhịp, ngừng hát, Kévin nhìn anh như dò hỏi, như yêu cầu Phú hát tiếp. Phú lắc đầu:

- Mấy chục năm rồi bác không có dịp hát chung vui với bạn bè nên bác không còn nhớ những câu chót".

Khi Phú bắt đầu hát anh đã nhìn thấy khuôn mặt Kévin như bị khích động, đôi mày nhíu lại, đôi môi như mấp máy, nhịp thở như ngừng lại. Đến khi anh ngừng hát, tiếng thở dài của Kévin buông ra thật mạnh, mặt trở nên buồn, như tiếc nuối chuyện gì. Kévin nói với anh như năn nỉ:

- Bác hát lần nữa cho cháu nghe, cháu nhớ cháu có nghe bài hát nầy rồi, cháu rất thích

- Vậy thì bác hát lại cho cháu nghe nhé; bác sẽ tìm và ghi lại bài hát nầy qua máy vi-tính cho đầy đủ, hai bác cháu mình tập cho thuộc, biết đâu mai mốt, bác cháu mình sẽ cùng hát trong hầm xe điện.

Chiều một mình qua phố......
Gót chân đôi khi đã mềm, gọi buồn cho mình nhớ tên...

Phú vừa dứt lời ca...tai anh nghe có tiếng gõ nhịp vào thành bàn, một giọng hát nhỏ nhẹ ngập ngừng thoát ra từ chàng trai ngồi cạnh anh:

Chiều qua bao nhiêu lần môi cười cho mình còn nhớ nhau,
Chiều qua bao nhiêu lần tay rời nghe buồn ghé môi sầu
Ngày nào đời còn có nhau, xin cho dài lâu.
Ngày nào đời thôi có nhau xin người biết đau.

Giọng ca như nghẹn lại, ngừng hẳn cùng tiếng đập nhịp vào bàn. Mọi người trong nhà ồ lên cùng lúc, cùng tiến đến bên cạnh Kévin, đưa mắt nhìn nhau ngơ ngác.

Kévin đang gục đầu xuống bàn, hai vai run rẫy. Kévin đang khóc. Tất cả mọi người yên lặng, nghe được hơi thở của nhau. Vợ Kévin ôm đầu chồng trong vòng tay, đưa mắt nhìn mọi người như hỏi chuyện gì đang xẩy ra?

 

Inline image

Cơn mưa đã tạnh, mọi người đều đi ra ngoài bãi biển để tận hưởng những tia nắng còn sót lại trong ngày. Phú đi cùng Kévin sau hàng dương cách biệt bãi tắm không xa tới một khu yên tĩnh. Phú nhớ lại chuyện vừa xẩy ra trong nhà trọ, anh ái-ngại nhìn Kévin rồi nói:

- Bác xin lỗi cháu chuyện vừa rồi, bài hát đã làm xúc-động cháu. Thời tuổi bác như cháu bây giờ, bài hát nầy rất phổ thông với mọi người...!

Kévin dừng bước, mời Phú cùng ngồi vào chiếc ghế dài nhìn ra biển, lấy thuốc lá ra châm lửa. Sau khi thổi một hơi khói thuốc dài, Kévin chậm rãi nói:

- Bản nhạc bác hát hôm nay làm cháu buồn và nhớ đến mẹ cháu nhiều. Cháu nhớ không rõ lắm, có một buổi sáng, mẹ cháu đánh thức cháu thật sớm, còn đang thèm ngủ cháu khóc đòi ngủ tiếp. Mẹ cháu dỗ: "con của mẹ ngoan, dậy để mẹ thay áo quần sạch sẽ, ăn chút cháo, mẹ đưa con đến nhà trẻ để mẹ đi làm nuôi con. Ở nhà trẻ con ngủ tiếp nghe." Nghe mẹ nói, nhìn thấy hai mắt mẹ đầy nước mắt, cháu nghe theo lời mẹ. Đến nhà trẻ, mẹ để cháu chờ ngoài sân, mẹ vào nói chuyện với cô giữ nhà trẻ. Không biết mẹ nói gì với cô ấy, cháu chỉ thấy cô ấy lắc đầu nhiều lần, rồi mẹ quay ra sân, mặt thật buồn, mẹ lặng lẽ nắm tay cháu dắt trở về nhà. Vừa vào nhà, mẹ cháu ngồi xuống nền nhà rồi ôm cháu vào lòng than:

- Người ta nói con là con của ngụy quân, nhà trẻ không thể nhận.

Mẹ cháu thở dài nói tiếp:

- Mẹ sẽ nói chuyện với bà Mười hàng xóm, bắt đầu ngày mai mẹ gởi con qua đó...mẹ phải đi phụ hồ cho người ta để có tiền đong gạo, mẹ hết tiền rồi;...nhà không còn gì để bán."

Rồi cả ngày hôm đó mẹ dắt cháu đi ra đường. Mẹ dẫn cháu đi mãi, hết đường nầy qua đường khác, đến khi cháu mỏi chân, cháu khóc không chịu đi nữa, mẹ cõng cháu sau lưng, tiếp tục đi. Chiều tối, đèn hai bên đường được thắp sáng ,cháu đói bụng đòi ăn,mẹ dừng chân mua bánh mì xịt nước tương cho cháu. Về đến nhà, hai mẹ con cháu nằm dài trên giường, mẹ ôm cháu, nghe mẹ hát:

Chiều một mình qua phố,âm thầm nhớ đến tên anh
Có khi nắng kia chưa lên mà một loài hoa chợt tím
Chiều một mình qua phố,âm thầm nhớ nhớ tên anh
Gót chân đôi khi dã mềm, gọi buồn cho mình nhớ tên

Từ đó chiều nào cũng vậy, mẹ cháu đi làm về đều có bánh mì xịt nước tương cho cháu? Ăn xong mẹ cháu tắm rửa thay áo quần cho cháu, dẫn cháu ra đường đi lang thang cho đến tối mới dẫn cháu về nhà. Có hôm bà Mười hàng xóm đứng bên nhà bà hỏi mẹ cháu khi hai mẹ con cháu vừa về đến nhà:" Mẹ con cô hai mấy lúc sau nầy hay đi dạo buổi chiều, về tối quá !" Cháu nghe mẹ cháu trả lời như có gì nghẹn trong cổ:

- Dạ, đi dạo cho quên đói dì ơi, chờ cuối tháng mới lãnh tiền công mua gạo. Cháu nghe tiếng bà Mười:

- Trời đất, sao cô không nói! Thời buổi nầy ai cũng thiếu hụt cái ăn cái mặc hết. Có ai đủ đâu. Hôm rồi, có đứa cháu dưới vườn lên, nó lén lút đem lên cho được mấy kí bo bo và mấy kí bột bắp, mai cô hai qua lấy một ít về ăn; lúc nào mua được thì trả lại tui, cô hai đừng ngại, chỗ bà con chòm xóm với nhau thương nhau không hết."

Mẹ nói:

" - Cám ơn dì Mười, rồi đi vào nhà, nằm lên giường. Cháu nghe tiếng mẹ thở dài. Cháu nằm xuống bên cạnh, mẹ ôm cháu hồi lâu, cháu nghe mẹ hát vào tai cháu âm thanh thật nhẹ như ru cháu ngủ:

Chiều qua bao nhiêu lần môi cười cho mình còn nhớ nhau.
Chiều qua bao nhiêu lần tay rời nghe buồn ghé môi sầu
Ngày nào đời còn có nhau xin cho dài lâu
Ngày nào đời thôi có nhau xin người biết đau..

Hôm đó cháu hỏi mẹ tại sao cháu không ba, Mẹ không trả lời. Cháu đã nhiều lần hỏi trước đó nhưng chưa bao giờ nghe mẹ trả lời. Mẹ chỉ im lặng thở dài. Tưởng như bao lần trước mẹ không trả lời. Cháu ngồi dậy, tính ra khỏi giường thì mẹ kéo cháu nằm xuống. Mẹ bấm lóng tay rồi xoa đầu cháu:

"- Này, con của mẹ được bốn tuổi tám tháng..con người ta tuổi nầy thân xác đã lớn trội, còn con sao còi cút như thế nầy..giá như có ba con thì mẹ con mình đâu đến nổi khổ."

Mẹ cầm bàn tay cháu áp lên má của mẹ nói tiếp:

"- Ba con là lính Việt-nam Cộng-hòa, làm sĩ quan Thủy quân lục-chiến. Cưới mẹ xong, chỉ sống bên mẹ chưa hết phép mười lăm ngày phép thì phải đi đánh giặc ngoài Quảng-trị, cho đến nay không biết ba con chết hay sống. Thời đó chiến tranh dữ dội lắm. Mẹ sinh con năm 1974, vài tháng sau thì Việt-cộng họ chiếm hết đất nước...mà thôi, con còn nhỏ không nên nghe, không nên biết nhiều chuyện chiến tranh, chuyện người lớn".

Mẹ ngồi dậy lấy khăn ướt lau mặt cho cháu:

"- Tới giờ đi ngũ rồi" Mẹ lại nằm bên cạnh cháu, mẹ hát:

Trời đêm dần tàn, em đến sân ga để đòn người trai lính trở về....

Lời của mẹ thật êm, thật nhẹ, thật buồn ru cháu ngủ hằng đêm. Mẹ chỉ hát duy nhất một bài hát, bài này đã đi vào trong tâm khãm cháu. Còn bài hát kia, có lời:

Ngày nào đời thôi có nhau xin người biết đau....

" Bài ca nầy mẹ ít hát kể từ khi mẹ đi làm về trễ, không còn thời gian để đưa cháu đi dạo bên ngoài, nên cháu quên. Nay có bác hát nên cháu mới nhớ lại...Mẹ cháu bán nhà, hai mẹ con cháu qua sống chung với dì Mười. Dì Mười sống một mình. Mẹ cháu kể:

" - Chồng và hai con trai của dì đều chết trận, dì không còn ai thân thuộc gần gũi, chỉ có bà con xa ở dưới quê. Rồi một hôm, mẹ cháu chào dì Mười, nói đưa cháu về thăm bà ngoại. Mẹ cháu cùng cháu đi xe đò đến chiều tối, đến một nơi nào đó cháu không biết. Hai mẹ con cháu ngồi chờ trong một quán bên đường, có một người đến đưa hai mẹ con cháu xuống một chiếc ghe lớn, trên đó có rất nhiều người. Ghe chạy, mọi người ngồi sát vào nhau, không ai nói chuyện. Thỉnh thoảng mọi người được cho ăn cơm vắt và uống nước lạnh...rồi trong đêm tối, bỗng cháu nghe mọi người la khóc, hoảng hốt, xô đẩy trong ghe, có tiếng la "cướp..... cướp", mọi người đạp lên cháu và cháu không biết gì nữa...cho đến lúc cháu được đưa vào ở trong trại mồ côi. Cháu mất mẹ từ ngày ấy."

- Cháu có thể kể cho bác biết lý do nào cháu đi hát trong hầm xe điện để có tiền giúp trẻ em mồ côi ở Việt-nam?

- Năm đầu tiên cháu vào đại học, cháu làm thiện nguyện cho hội chữ thập đỏ của Pháp, nhân đó theo đoàn công tác đi Viêt-nam. Một buổi sáng ăn điểm tâm tại một nhà hàng Việt-nam, cháu vừa ăn xong, thì một vài em nhỏ, các em sống ngoài đuờng, xông nhào vào giành những thức ăn còn thừa, hình ảnh đó khiến nhóm bạn của cháu lập ra tổ chức "trẻ bụi đời".Tiền chúng cháu góp lại bằng mọi hình thức khác nhau theo khả năng..làm các công việc phụ cuối tuần cho các cá nhân cần như: giữ trẻ, dạy kèm, phụ bán hàng....riêng cháu,cháu đã chọn công việc hát rong như bác đã biết. Cháu đã chọn bài hát lời Việt vì cháu chỉ nhớ và thuộc bài nầy, vì đây là bài mẹ cháu hay ru cháu ngủ. Cháu hát để nhớ mẹ cháu..cháu nghĩ mẹ cháu còn sống ở một nơi nào đó. Biết đâu một ngày nào đó mẹ cháu đến Paris...và nghe tiếng hát của cháu trong khi tình cờ đi xe điện ngầm...

Kévin ngừng kể. Biển ngoài xa mờ dần trong trong sương. Lòng Phú tràn ngập nỗi buồn cảm thuơng hoàn cảnh của nguời thanh niên trẻ. Phú nghe lòng anh xao xuyến.. chợt hoài niệm về những ngày tháng cũ.Từ nhỏ, anh được người cậu nuôi sau khi cha mẹ anh chết trên chuyến xe đò chạy trúng mìn. Khi anh đậu xong tú tài toàn phần thì cậu anh chết vì bạo bịnh. Anh không có bà con thân thích nên ghi danh văo trường Võ-bị quốc-gia Đà-lạt. Ra trường, anh vào binh chủng Thủy-quân lục- chiến. Trong một cuộc hành quân tiếp cứu một đơn vị bạn, đơn vị anh bị phục-kích, anh bị thương phải lẫn trốn trong nhà dân, chờ được tải thương. Anh gặp Thư, chủ nhân của căn nhà.

 

Inline image

Cuộc giao tranh hai bên vẫn khốc liệt. Hai ngày sau trực-thăng cứu thương mới hạ cánh đón anh. Để bảo toàn tính mạng cho Thư, anh đề nghị toán cứu thương cho Thư rời khỏi vùng đang giao tranh, vì sợ sau nầy khi lính quốc-gia rút đi, dân cộng sản nằm vùng sẽ hại Thư vì đã che chở cho ngụy quân. Khi vết thương của Phú ổn-định, anh tìm đến trại tạm cư thăm Thư. Được biết gia-đình gồm cha mẹ và hai người em của Thư đã chết bị đạn pháo kích cách đó vài tháng, anh đưa Thư về thành phố, lấy căn nhà của người cậu bỏ trống trước đây cho Thư tạm trú. Rồi tình cảm nẩy sinh giữa hai người trong những ngày về phép gặp nhau. Không có những hẹn hò thơ mộng không có những lãng mạng của yêu đương bồng bột. Cả hai cùng cô đơn..cô-đơn không gia-đình. Cô đơn giữa chiến tranh, cả hai muốn san lấp nỗi cô đơn của thân phận mình. Anh và Thư bàn tính chuyện tiến đến hôn nhân... ngày nghỉ phép cưới vợ rồi cũng đến...nhưng chỉ đuợc một nửa. Chiến trường đã gọi anh về trình diện gấp gáp, lấy đi những ngày phép nghỉ phép cưới còn lại...

Thành phố Buôn-mê-Thuộc bị cộng quân chiếm, anh bị bắt làm tù-binh...Miền Nam thay chủ.

Năm 1981, sau hơn năm năm bị giam, Phú được trả về từ trại tù Tiên-Phước tỉnh Quảng-nam.

Nhà cũ của anh ở khu Bàn cờ Sài-gòn bị giải tỏa. Toàn khu không còn ai quen biết để tìm hỏi tin-túc vợ. Những ngày lang-thang tìm vợ, tìm nơi cư trú, một người lính cũ cùng đại đội tình cờ anh gặp đang làm nghề vá và sửa xe hai bánh bên lề đường, cho anh tạm trú tại nhà. Hàng ngày anh cùng người đồng đội cũ sửa xe tạm kiếm sống. Dịp may nữa lại đến với Phú, một bạn học cũ ngày xưa từ Nha-trang vào Sài-gòn học năm cuối trung học để thi tú tài hai, nhà nghèo đã được cậu anh cho ở miễn phí, tình cờ người bạn dừng lại nhờ vá lốp xe bị xì hơi. Hai bên nhận ra nhau, vui mừng bỡ ngỡ. Người bạn rủ anh về Nha-trang làm cho hợp tác xã đánh cá gia-đình đã .. tạo dịp cho anh và gia-đình người bạn vượt biển không lâu sau đó.

Khi ghe dần dần xa bờ biển Việt Nam, Phú bùi ngùi nghĩ đến đến người vợ trẻ vừa mới cưới nhau đã xa nhau. Phú đã cố công sức tìm kiếm Thư nhưng Thư vẫn biệt tăm. Thư đã chết hay Thư vẫn còn sống một nơi trên quê hương Việt-nam hay một đất nước xa lạ nào đó. Anh thầm xin lỗi Thư trong niềm đau khi lập gia-đình với nguời mới nơi quê người.

Phú thẫn thờ kéo tay Kévin đi về hướng khu nhà nghỉ. Kévin còn đang nhớ về mẹ. Anh cũng đang nhớ về người vợ ngày xưa. Mỗi trái tim mang một niềm đau riêng!

***********
Hai năm sau.

Sau một thời gian dài điều trị chứng suy tim, nhân mùa nghỉ hè, Phú được các con tổ chức đi nghỉ bên Thái-lan. Dịp nầy Kévin muốn cùng đi chung. Trước khi chết, bà mẹ nuôi nhiều lần đề nghi Kévin khi có điều kiện nên đến Thái-lan thăm trại mồ côi ngày xưa. Bà có để lại một số tiền nhỏ để giúp trại mồ côi nầy,

Khách-sạn nằm ẩn mình sau một làng chài nhỏ có nhà cửa khang trang dược xây lên trong một vịnh nhỏ nằm tận cùng phía Tây-nam vịnh Thái-lan. Một buổi chiều, như thường lệ, sau bửa cơm, Kévin cùng vợ ra ngồi ngoài bãi cát trước khách-sạn, Kévin vừa đánh đàn, vừa hát:

Trời đêm dần tàn em đến sân ga để tiển người trai lính về ngàn.
Cầm chắc đôi tay, ghi vào đời tâm tư ngày nay.....

Kévin say sưa hát, âm thanh tan theo trong ánh sáng cuối ngày đang chìm dần ngoài biển xa. Kévin ru hồn trong cơn buồn ngủ chợt đến... anh như thấy mình đang cùng mẹ lang thang trên những con đường thuở ấu thời...anh mơ thấy mẹ ôm trong lòng để ru anh ngủ khi tay còn cầm miếng bánh mì khô cứng loang lỗ nước tương đen chưa ăn hết... anh nghe có giọng hát từ đâu đó vang lên như hơi thở, chuyền tải hơi ấm ôm phủ lấy cơ thể anh trong con gió biển se lạnh ...

Anh choàng tỉnh, tiếng hát đàn bà từ đâu đó vẫn văng vẳng vang lên:

Tàu cũ năm xưa mang người tình biên khu về chưa?
Trắng đêm em chờ nghe tiếng tàu đêm tìm về

Rồi tiếng hát bỗng chuyển lời:

Chiều một mình qua phố, âm thầm nhớ nhớ tên anh
Gót chân đôi khi đã mềm, gọi buồn cho mình nhớ tên......

Giọng hát thật là quen thuộc. Lời ca thật là quen thuộc. Cả hai đều xoáy vào tâm thức anh.
Theo bản năng của con thú lạc mẹ, lạc bầy, anh chạy về hướng phát ra âm thanh quen thuộc đó. Kévin đi nhanh theo hướng về xóm ghe và tiếng hát càng rõ thêm. Vợ anh chạy theo sau, đầy vẻ ngạc nhiên. Phú đang ở trong hàng hiên khách sạn, anh cũng đã nghe tiếng hát Việt-nam, giong nữ vọng lên từ xóm ghe, anh càng ngạc nhiên vì giữa một khu ghe thuyền trên xứ Thái lại có một giọng ca Việt. Tình cảm thiêng-liêng dân tộc cùng lòng tò mò khích động, anh cũng đi nhanh về hướng có tiếng hát phát ra.

Ánh sáng của buổi chiều tàn đủ rọi lên trên mũi của một chiếc ghe lớn, một người đàn bà ngồi ôm một đứa nhỏ vừa ru vừa hát, xung quanh có vài đứa nhỏ khác ngồi đứng rải rác trên mui ghe. Người đàn bà chợt ngừng hát vì thấy có người đứng trên bờ nhìn chăm chú vào ghe bà. Bà đi vào phía trong ghe rồi trở ra cùng với một người đàn ông trẻ, đứa bé không còn bồng trên tay. Đèn trên ghe được thắp sáng. Người đàn ông trẻ vẻ do dự một chút rồi hướng về phìa Phú và vợ chồng Kévin nói gì đó bằng tiếng Thái.. Cả ba lắc đầu không hiểu. Người đàn ông trẻ hỏi rất chậm bàng tiếng Anh:

- Mấy người muốn tìm gì trên ghe chúng tôi ?
Phú trả lời:

- Chúng tôi nghe trên ghe của ông có người hát tiếng Việt rất hay. Chúng tôi là du-khách Viêt-nam, đang ở khách sạn gần đây, tò mò muốn biết sao người Thái-lan mà hát tiếng Việt hay quá chừng, chúng tôi muốn khen thôi".

Người đàn ông trẻ và người đàn bà nói gì với nhau, rồi người đàn ông nói vọng xuống:"

- Mẹ tôi là người Viêt-nam".

Người đàn bà tiếp lời bằng tiếng Việt :

- Vậy xin mời ba người lên ghe uống nước".

Người đàn ông trẻ đẩy tấm ván từ ghe lên bờ làm cầu. Người đàn bà mặc y phục Thái cúi chào Phú và vợ chồng Kévin. Phú chào người đàn bà rồi tự giới thiệu:

- Tôi là Phú đến từ nước Pháp. Đây là Kévin đồng hương, lớn lên tại Pháp nên quên tiếng Việt, còn đây là vợ của Kévin..

Vừa nghe dứt lời giới thiệu, người đàn bà lùi lại một bước, chăm chăm nhìn Phú...cái tên "Phú" đánh thúc vùng tăm tối trong đầu bà bừng sáng... Phú của bà đây sao? Người trung-úy Thủy-quân lục chiến oai phong của bà ngày xưa, nay thân thể héo gầy như vậy sao? Nụ cười rạng rỡ thu hút người nhìn, nay nhạt nhẽo không hồn như vậy sao? Phú của bà...

- Trời ! anh Phú..anh còn sống ..trời ơi, anh còn sống, anh không nhận ra em sao.?

- Em là Thư, vợ của anh. Giọng của Thư thổn thức, nghẹn ngào:

- Trời cao cay nghiệt quá.. em là Thư, vợ của anh.

Phú đứng sững-sờ, người đàn bà trước mặt anh toàn thân đang run rẫy, tóc bạc trắng là Thư, vợ của anh? Cái giọng nói miền Trung quê mùa chất phát khơi nhớ lại quá khứ, đúng là Thư, vợ của anh. Cả Phú và người đàn bà cùng tiến đến cùng nắm tay nhau, hai đầu tựa vào vai nhau trong một vòng tay yêu thuơng như có chút vụng về, ngượng ngập. Tiếng thổn thức vọng ra trong khoang ghe nhỏ hẹp. Rồi sự yên tĩnh trở lại.
Kévin nhích lại gần Phú, Thư nhìn Kévin qua vai Phú, một mãng tóc lộ màu trắng bằng lóng tay út thoáng hiện trên đỉnh đầu Kévin. Đây là dấu tích duy nhất của đứa con trai của Thư hơn ba mươi năm trước. Thư đẩy nhẹ Phú qua một bên, cố nén xúc động tràn ngập trong tim, bước nhanh về hướng Kévin gọi lớn:

- Cu Bi.. Cu Bi phải không?"

Hai tiếng "Cu Bi" từ bao năm đã biến đi không còn trong đầu Kévin bất chợt nay được gọi lên, được nhắc tới như làn hơi ấm thổi đến phủ cơ thể. "Cu Bi" tiếng của mẹ gọi ngày xưa. Kévin rúng động, nhìn sững nguời đàn bà không tin nỗi tai mình, miệng mở ra như đủ cho tiếng "Dạ" thầm lặng xác nhận. Thư lao mình tới ôm Kévin như sợ Kévin tan biến vào hư không.
Kévin sững sờ dang hai tay ôm lấy mẹ:

- Mẹ"..

- Con của tôi"...Những tiếng nấc xé lòng thốt ra. Thư nói với Phú nghẹn ngào:

- Anh Phú, đây là con của chúng ta.

Phú ôm Kévin trong niềm vui chen lẫn đớn đau. Anh đã có một đứa con... qua bao năm sống gần nhau, nay mới biết là con của mình. Cảm xúc dâng tràn... Phú cảm thấy trái tim đau nhói...toàn thân anh khuỵu xuống sàn ghe.

 

Inline image

Ba hôm sau, sức khỏe Phú ổn định, bác sĩ Thái cho xuất viện. Thư có đến thăm anh vài lần ở bịnh viện. Buổi chiều sau ngày xuất viện, Kévin đưa anh ra bến ghe tìm Thư, chiếc ghe không còn neo tại bến. Hai người đang tính hỏi thăm những người có ghe đang đậu ở bến để hỏi thăm chiếc ghe của Thư thì một người trong tiệm tạp hóa bước ra trao cho Phú một lá thư, nói vài câu bằng tiếng Thái rôi quay lưng đi. Phư cùng Kévin ngồi xuống bờ thềm trước quán, anh thẩn thờ mở thư ra đọc:

"Anh Phú của em và con trai Cu BI của mẹ,

Buổi sáng hôm thăm anh trước khi anh được cho xuất viện, em có gặp bác-sĩ điều trị, Ông cho biết bịnh tim của anh tái phát vì bị xúc động mạnh, anh cần tỉnh-dưỡng mới trở lại bình-thường.
Em rất mừng khi được biết tin nầy, em quyết định và có thư nầy cho anh và con trai:

Anh Phú,
" Sau ngày anh cưới em một tuần anh ra mặt trận, rồi từ đó em không còn tin tức của anh. Em không biết anh chết hay sống. Rồi đất nước thay đổi chủ mới, em càng vô vọng tin tức về anh. Em đã có với anh một đứa con, tên của nó là Cu Bi. Với bao nổi khổ đau của cuộc sống bị đổi chủ, em đã không làm nỗi cho con của chúng ta một tờ khai sanh... đồng thời em cũng mong chờ thời gian sẽ gặp lại anh và chúng ta sẽ tìm đặt cho con một cái tên mà cả hai ta cùng muốn . Cu Bi chỉ là cái tên gọi tạm thời để khỏi lẫn lộn với những trẻ khác trong một xã hội thu hẹp. Không tìm được anh, và để tránh cho con của chúng ta bị lăng mạ là con của ngụy quân, bị sự phân biệt đối xử, tìm cuộc sống ngày mai cho con của chúng ta nên em đã đưa con vượt biển. Định mệnh đã đưa đẩy con tàu vào tay cướp biển Thái-Lan.

Con tàu bị cướp tràn ngập...em bị cướp bắt.

" Em bị xa con.Toán cướp đưa em đến một đảo nhỏ không người ở.Vài ngày sau, toán cướp rời đảo, bọn chúng mang theo những người đàn bà khác, em bị để lại đảo.Tên cướp đã hãm hại đời em đã để lại lương thực cho em. Có lẽ nó muốn giữ em ở đây, rồi có ngày quay lại. Ngày sau một cơn bão, một tàu buôn bán nhỏ ven bỡ của Thái-lan tạt vào đảo trú ẩn. Người chủ con tàu đã cứu em. Ông là cựu binh-sĩ Thái đã từng tham chiến ở Việtnam. Ông nói tiếng Anh lõm bõm cũng như em, ở mức độ chỉ có thể hiểu nhau đơn giản. Ông kể, khi quân đội rời khỏi Việt-nam để về nước, ông xin giải ngũ, lập gia-đình. Theo truyền thống gia-đình, ông là thành viên trên con tàu buôn bán ven bờ vùng vịnh Thái-lan. Vợ ông qua đời vì tai nạn lưu thông chỉ sau nửa năm chung sống với ông. Ông hứa ông sẽ đưa em về Bangkok giao cho Phủ cao-ủy Tỵ-nạn. Sau gần hai tháng ngược xuội ven biển, khi con thuyền trên đường về Bangkok thì ông ngỏ lời thương em và đề nghị em chấp thuận làm vợ ông.

" Cuộc sống của em đã quá tận cùng của sự nghiệt ngã. Anh ở đâu và con ở đâu? Chiếc phao nầy em không nắm lấy thì tương lai có chiếc phao nào khác sẽ đến không? Cuộc đời em có còn gì nữa đâu, đã mất hết rồi! Thôi em nhận lời để buông theo số phận. Em xin nhận lỗi cùng anh. Em đã có với người chồng Thái, một con trai và có bốn đứa cháu như anh đã gặp tại ghe. Người chồng Thái của em đã ra đi vì bịnh đã hơn một năm.

" Được biết anh đã có vợ, có con, có sự nghiệp.. nay lại tìm được đứa con của hai chúng ta, thật không có gì hạnh-phúc cho bằng cho anh và cho em trong hiện tai. Em cảm ơn trời đất đã thưởng đền cho những khổ đau của chúng ta đã gánh chịu bao lâu nay. Cuộc sống thương hồ của em không thể đậu bến mãi. Mong anh hãy an vui trong hạnh-phúc đang có và mãi mãi.

Cu Bi của mẹ,

"Từ cái đêm mẹ bị cướp bắt đi, mẹ bị mất con. Đời trôi giạt đau thương của mẹ, biết tìm con ở đâu? Đau đớn trong lòng mẹ kể sao cho xiết? Hai tiếng "Cu Bi"" và hình ảnh ngây thơ của con là dòng suối mát trong lòng mẹ mỗi lúc nhớ con trong cùng khổ. Nói làm sao cho hết yêu thương của mẹ khi nghĩ về con! Mẹ xin lỗi con vì đã không bảo-vệ được con lúc con lâm hoạn nạn. Con hãy tha thứ cho mẹ những tháng năm mẹ không hoàn thành trách nhiệm ở cùng bên con khi con khôn lớn, trưởng thành.

" Trời đã thương nỗi đau của mẹ nên ban cho mẹ đặc ân gặp lại con ngày nay. Con khôn lớn, hạnh phúc bên vợ và nay con lại được thêm hạnh-phúc gặp lại ba con...nhớ đến ngày nào con hay hỏi mẹ "ba con đâu?" thì bây giờ ba con đang ở bên cạnh con rồi đó.! Con hãy săn sóc cho ba con thay mẹ. Mẹ cám ơn con nhiều lắm. Con bảo trọng sức khỏe.

"Trưa hôm nay thuyền buôn của mẹ sẽ rời bến theo lộ trình đã định. Nếu bão táp phong ba của biển không làm đắm con thuyền buôn của mẹ thì những tháng năm sau nầy, biết đâu mẹ con ta cũng có ngày hội ngộ?"

**********
Trước ngày rời Thái-lan, Phú và con trai đến gặp người chủ quán tạp hoa trên bến tàu gởi lá thơ nhờ chuyển lại cho Thư nếu một ngày nào đó thuyền buôn của Thư ghé bến.

Phú viết thay lời con trai :

"Đây là nhà con ở tại Pháp. Hy vọng một ngày không xa mẹ sẽ đến với con. Con trông chờ mẹ.

Con Cu Bi của mẹ".

Thời gian sau nầy, khách xử dụng xe điện ngầm trong thành phố Paris được nghe người hát rong hát bài ca lời Việt, âm điệu vẫn như cũ nhưng lời có thay đổi:

Trời đêm dần tàn, con đến sân ga để đón mẹ yêu quý trở về.
Tàu cũ năm nao chưa mang về trả cho tôi mẹ xưa
Tháng năm con chờ đây, mong tàu đem người về
..................
Tháng năm con chờ đây, mong tàu đem mẹ về.

Nguyễn Đại Thuật.

Sunday, August 10, 2025

BÀ MẸ THƯỢNG ĐẲNG (DƯ THỊ DIỄM BUỒN)

                                  BÀ MẸ THƯỢNG ĐẲNG

DTDB

 


         Nắng sáng le lói xuyên qua kẻ hở màn cửa sổ rọi vào mặt khiến Cẩm Hà thức giấc, nhưng chưa chịu dậy mà năm nướng nghĩ ngợi lung tung. Nàng mỉm cười một mình rồi kéo mền trùm kín mít người, để hưởng cái ấm áp trong chăn mền, và cái hạnh phúc của những ngày được nghỉ ở nhà với chồng con… Giờ nầy, Thương chồng nàng chắc là đang đi bộ ngoài công viên gần nhà cũng sắp về, mấy đứa nhỏ thì còn trong phòng kế bên, chúng ngon giấc nồng ngáy khò khò như cưa gỗ... Cũng không nói hay cằn nhằn gì chúng được, bởi đêm qua mấy cha con họ tán hưu tán nai, kẻ chơi “ghem”, người xem phim bộ, rồi ăn uống tới khuya lơ mới lên giường.

Cẩm Hà nằm yên, nhìn qua cửa sổ ánh mặt trời đã sáng tỏ, chan hòa trải khắp đó đây... Hương cỏ cây vân vê theo gió loan vào phòng một mùi dìu dịu thanh thanh đạm đạm... khiến nàng cảm thấy tươi trẻ và dễ chịu vô cùng... Bỗng nàng nhớ đến cha mẹ lúc còn sanh thời, nhớ những ngày mình còn cắp sách đến trường, nhớ lúc quen với Thương… Có nhiều thứ để nhớ trong thiên hình vạn trạng, ẩn hiện khi mờ khi tỏ lởn vởn trong tâm tư, dầu không muốn nhớ đến cũng không sao quên được.

Bỗng tiếng chuông điện thoại ra rả reo vang. Sợ làm thức các con, nên Cẩm Hà chụp ngay:

-  Hello, hello... Ai đó, ờ Hoàng Mai hả? Gia đình chị khỏe chớ, hôm nay không đi làm giờ phụ trội sao mà gọi tôi vậy?

Tiếng trầm trầm của bà chị con của cậu Hai, anh cả của mẹ mình. Gia đình chị Hoàng Mai, ở mãi tiểu bang Michigan (sát nách với nước Canada) xa tít mờ xa, phải bay hơn bốn giờ từ California mới tới Michigan nơi gia đình chị đang cư ngụ. Hôm nay trời trong mây tạnh, nên qua điện thoại viễn liên, Cẩm Hà nghe rõ ràng từng chữ một, vang vang bên tai chớ không rò rè bị ảnh hưởng lúc mưa bão, hay gió cuốn tuyết rơi...

Chào và hỏi thăm sơ qua về gia đình chị, thì Cẩm Hà nhẹ giọng cười vui lên tiếng, sau khi nghe bà chị họ có ý muốn kể cho mình nghe chuyện gì đó. Nàng sốt sắng bảo:

-  Ờ ờ thì chị cứ nói đi, kể đi... mình có làm chi đâu, chỉ không nở rời cái ổ chuột quen hơi hám ấm áp thôi. Vậy chị cứ tự nhiên như người “Hà Nội” đừng ngại, hãy kể đi, mình lắng tai nghe đây.

         Đầu dây điện thoại bên kia chị Hoàng Mai đều giọng, kể lễ tâm tình về gia đình nhỏ bé của chị hồi năm ngoái kỳ xưa cho đến bây giờ...  

 

Ông bà ngoại tôi có năm người con trai, cộng thêm má tôi là con gái út, nên có cả thảy là sáu người con. Ông là một thương gia ăn nên làm ra, chủ một cửa tiệm bán xe đạp, sau dần dà bán các loại xe gắn máy và có ba bốn căn phố lầu cho người ta mướn để mở tiệm bán buôn sầm uất sát trục lộ thông thương xe qua lại... Mỗi ngày như mọi ngày đường phố trong thị trấn Vĩnh Điện (Tỉnh Quảng Nam) lúc nào cũng đông đảo khách vãng lai của chợ nằm gần lộ, từ lâu đời thuở Đệ Nhất, Đệ Nhị Cộng Hòa. Gia đình ông ngoại tôi ăn nên làm ra tiền bạc khắm khá dồi dào đã mấy đời cha truyền con nối về việc buôn bán ở chợ phồn thịnh nầy.

Má tôi lại là con gái út là «công chúa» của gia đình ông bà ngoại đó đa. Nên câu “Miền Trung khổ lắm ai ơi. Đông thời thiếu áo, hè thời thiếu ăn” không tác dụng gì với má tôi và các anh của bà. Vì họ là những đứa con có phước nhờ cha có tiền, mà họ hàng và chòm xóm thường bào: «Bọn anh em nó giàu trong trứng giàu ra». Để khi hết bậc Tiểu học thì các cậu và má tôi lần lượt ra tỉnh thành học tiếp tục. Ông bà ngoại mua nhà trên tỉnh để cho các con trú ngụ mà học hành, và có bà vú của má tôi theo giặt giũ, nấu ăn cùng chăm sóc các cậu con trai, và cô tiểu chủ xinh đẹp của mình.

Để khuyến khích các con theo đuổi đường học vấn, lập nghiệp thành nhân... nên ông bà ngoại tôi thường khuyên hãy cố gắng học hành, và bảo với các con rằng «Ruộng đất bề bề không bằng nghề trong tay» hay là câu «Vàng xây chín bệ vẫn phù vân» Bởi theo ông bà ngoại tôi, dù có tiền bạc cũng không vững bền bằng việc học hỏi, hiểu biết... và phát triễn qua con đường học vấn của chính mình...

Quê hương ta dằng co trong tranh sáng tranh tối của cuộc nội chiến Quốc Cộng, cho nên sau nầy năm ông anh lớn của má tôi đều là quân nhân, công chức công tác trong nhiều binh chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Họ ở rải rác khắp bốn vùng chiến thuật từ: Năm Căn, Đồng Tháp... miệt mày với câu hát «Áo nhà binh thương lính, lính thương dân» có người ở miền thùy dương cát trắng, biển xanh xanh ngát Nha Trang, Vũng Tàu... hoặc tận chân trời Huế, Thạch Hản, Bến Hải... của nước Việt Nam hoa gấm mến yêu.

         Ba tôi anh chàng lãng tử là con cả, con trai độc nhứt có ba cô em gái được sanh trưởng trong gia đình nông dân ở cái miền “Con cá gô, bỏ chong gỗ nhãy gồ gồ” Tôi muốn nói vùng ông bà nội tôi người ta nói chuyện ít có đánh lưỡi bẻ giọng, nơi xa lộ đá “Muổi kêu như sáo thổi, đĩa lội như bánh canh” ở vùng Đồng Tháp Mười ấy mà! Mặc dù sống ở dưới quê, có ruộng đất bề bề, có tá điền, có kẻ ăn người làm... phụ lo ruộng nương vào mùa cây trái trong vườn nhà, mà ông bà tôi không sao làm cho xuể.

“Đồng Tháp Mười là phần địa phận của tỉnh Kiến Tường. Đó là một cánh đồng rộng bảy trăm ngàn (700.000) mẫu tây, nằm trong lòng của các tỉnh như Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc, Kiến Phong, Kiến Tường, Định Tường, Long An, Tây Ninh và lan sang đến bên giới Việt Miên (Comuchia) Đồng Tháp Mười nguyên là đồng sâu, lai láng nước quanh năm, mọc đầy: lau, sậy, đưng, lác... và nhiều cây chịu nước như ô môi, bầu, tràm, điên điển... Đồng Tháp Mười là nơi thủy sản như: Cá lốc, cá trê vàng, cá bông, lươn, rùa, cá sặc lò tho con lớn bằng bàn tay xòe... Những loại cá nước ngọt nầy ngon nổi tiếng Nam Kỳ Lục Tỉnh.. Cái vùng ruộng đồng bao la «Cò bay thẳng cánh/ chó chạy cong đuôi» cũng chưa qua hết ruộng đồng. Nơi nầy nước ngập quanh năm nên cá tôm nhiều đến nỗi tới mùa nước nối chúng theo nước lội lên bờ, khi nước rút, xuống không kịp... chết ngộp đầy dường để cho người ta bắt cả thúng giê, thúng giạ... đem phơi khô, làm mắm...

Về di tích lịch sử Đồng Tháp Mười là vùng đầm lầy hiểm yếu, thuận lợi cho nghĩa quân nổi dậy đánh phá chống bước tiến của giặ, có: Anh hùng Trương Công Định, Võ Duy Dương, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân khởi nghĩa. Tháng ba năm 1866 nghĩa quân ba tỉnh miền Tây phổ biến hịch dân chúng nổi dậy! Dân quân Đồng Tháp Mười nổi dậy chiếm Cái Nứa, đồn Sa Tiên trên sông Vàm Cỏ Tây và đóng quân ở đồn Tiền và đồn Gò Bắc Chiên (Mộc Hóa). Đồng Tháp Mười còn là biểu tượng của công trình khai phá rừng hoang thành đồng ruộng của người Việt Nam, là một chứng tích thiên nhiên của tinh thần yêu nước. Người dân Đồng Tháp nói riêng, dân miền Nam nói chung rất kiêu hãnh về tinh thần nầy, vì nó được tiếp nối từ đời xưa đến đời nay... trong công cuộc kháng chiến lật đổ bạo quyền Việt cộng” (tài liệu từ: Nước Tôi, Dân Tôi).

Trong gia đình bên nội chỉ có ba tôi là con trai lớn, nhưng ông bà nội không cho gánh vác việc nhà như những bạn bè ông, có con trai ở mười bảy, mười tám tuổi thì bắt đi cưới vợ, sanh con... rồi làm rẫy, làm ruộng nối tiếp công việc như cha ông! Tuy sống ở vườn, là con của một nông dân cha truyền con nối từ mấy đời, nhưng ông bà nội có óc cầu tiến cho ba tôi ra thành thị học hành chữ nghĩa để sau nầy làm việc ngoài xã hội… Chớ ông bà không muốn con mình cày sâu cuốc bẩm, sống ở làng làm một nông dân như cha mẹ mình.

         Khi ba tôi đậu bằng Thành Chung (Trung Học Đệ Nhất Cấp) thì ông tình nguyện vào trường quân sự. Khi còn sanh thời ba tôi kể rằng, lúc đó trong làng xã, ai có con trai tòng quân nhập ngũ đi quân dịch là một niềm hãnh diện cho gia đình, và một vinh hạnh rất lớn cho làng thôn. Sẽ được ban hội đồng xã, dân trong thôn, và các làng lân cận có con em đi quân dịch như vậy... thì họ cùng nhau vật trâu, vật bò... cùng nhau ăn uống hả hê, múa lân, ca nhạc... vui vẻ, nhôn nhịp trong tiệc tiễn đưa.

 

BỨC TÂM THƯ

 

«Vài hàng gửi anh trìu mến/ Vừa rồi làng có truyền tin/ Nói rằng nước non đang mong/ Đi quân dịch là thương nòi giống/ Người thường tìm sang giàu tới/ Lòng này thì khác tình ơi/ Ước nguyền hứa duyên trao người Cầm tay súng tòng quân anh tươi cười/ Lòng thầm đang lớn ươm đầy tơ/ Nhờ trời cam quít đã lên mùa/  Chờ ngày dệt xong áo chung tình/ Em mang tới đồn mà tặng anh/ Lạy trời tròn năm tròn tháng/ Nợ làng ơn nước đã đền xong/
Xóm làng hát câu thanh bình/ Về nơi cũ tìm vui duyên lành/ Lòng thầm đang lớn ươm đầy tơ/ Nhờ trời cam quít đã lên mùa/ Chờ ngày dệt xong áo chung tình/ Em mang tới đồn mà tặng anh/ Lạy trời tròn năm tròn tháng/ Nợ làng ơn nước đã đền xong/ Xóm làng hát câu thanh bình Về nơi cũ tìm vui duyên lành».
Ca khúc « Bức Tâm Thư » của nhạc sĩ «Lam Phương» thuở đó được ca sĩ thời đại hát vang vang trên các đài phát thanh, trên các loa phóng thanh từ những trạm thông tin huyện, thông tinh xã...

Những thanh niên đó đối với dân là những trai hùng, những chàng trai đứng đầu gió ngọn sóng để gánh vác việc nước nhà... Luôn được người ngưỡng mộ, và nhiều gia đình quen biết có con gái lớn gấm ghé muốn gả cho nửa... Đó là những người đi quân dịch còn được đãi ngộ như vậy... thì nói chi ba tôi vào trường sinh viên Sĩ Quan...

Thời gian thấm thoát trôi qua, bao nhiêu tháng năm thụ huấn ở «quân trường mồ hôi đổ, sa trường bớt đổ máu». Rồi ba tôi cũng đến ngày ra trường... Ông rày đây mai đó từ Bến Hải cho đến Cà Mau không đóng quân hoặc ở nơi nào nhứt định... Ông bà nội đã bao nhiêu lần nhắc nhở ba lấy vợ... Nhưng ông cười trừ chớ không sốt sắng đáp ứng theo lời của cha mẹ. Cho mãi đến năm gần ba mươi cái xuân già (30 tuổi), mà miền Nam ở cái tuổi đó nếu trai chưa cưới vợ, gái chưa lấy chồng, thì coi như bị “lỡ thời” trầm trọng rồi, nhứt là phái nữ! Nên mới có câu: “Trai chưa vợ ba mươi tuổi hãy còn xuân/ Gái ba mươi tuổi chưa chồng như chình mắm nêm”.

Năm đó anh chàng lãng tử ba tôi phải lòng cô gái út, con ông chủ tiệm xe gắn máy mới có mười tám tuổi (nhỏ hơn ông một con giáp (12) tuổi, ở miền Trung. Có dịp ghé lại miền Trung, xứ sở sỏi đá khô cằn nhưng đầy thú vị và nên thơ… thì hẵn nghe câu hò chân tình mộc mạc: “Quê em nghèo lắm ai ơi… Mùa đông thiếu áo hè thời thiếu ăn” Nơi nầy là cái miền má tôi sanh trưởng, mà thường nam cũng như nữ, đa số người có tầm vóc nhỏ bé, thấp... Vì đó là vùng núi non “địa linh nhân kiệt” nhưng cũng là vùng khô cằn sỏi đá, chỉ có nhiều đồi, núi cao, rừng thâm sâu, ít sông, xa biển, thiếu đồng bằng, vườn tược, ruộng nương. Gia súc cũng không có nhiều, tôm, cá sông, cá biển cũng hiếm hoi hơn những nơi khác... Ở đây chỉ có cá suối, cá khe… nước trong leo lẻo nên con nào cái đầu cũng chờ vờ, vẩy, vy... mình cá xanh dờn, ít thịt, nhiều xương, dai... không ngon! Và nhứt là giọng nói nặng, rất khó nghe, khác hẳn với giọng nói với người ở miền đồng bằng sông Cửu Long... từ Vũng Tàu về miền Lục Tỉnh.

Nhắc đến miền Nam vùng Đồng Tháp Mười ba tôi sanh ra thì nói gì. Nơi có khí hậu ôn hòa mưa nắng hai mùa, có ruộng thênh thang, vườn cây xanh lá thắm cành nặng bông quằn trái sum sê như là: xoài, bưởi, cam, quít, cùng các loại chuối ngọt dẻo thơm tho vô cùng... Gia súc thì có: gà, vịt, ngỗng, heo... nhà nào cũng có nuôi để ăn, thừa thải thì đem bán... Sông ngòi kinh, rạch thì chằng chịt cho nhiều thủy sản cá, tôm... ngon hiền.

Ba tôi cưới một thiếu nữ ở vùng khô cằn sỏi đá. Nhưng má tôi thì là một thiếu nữ ngoại lệ. Bà có khuôn mặt trái soan thanh tú, không dài, cũng không ngắn sáng sủa, nước da trắng hồng, mắt to, mũi như giọt mật (thon trên gần mắt, và cao gọn, kín ở hai cánh mũi). Bà có tướng đi nhẹ nhàng khoan thai, mái tóc dài óng mượt đen như mực tàu Long Tể. Giọng nói của má tôi thỏ thẻ thanh tao như chim hót, vì bà được sanh ra và lớn lên ở thị thành nên có khác đi với thôn dân sống xa chợ, cận kề bên rừng núi...

Đặc biệt là bà có má lúm đồng tiền tô thêm nụ cười trông rất dễ thương, khoe hàm răng trắng đều như hạt bắp... Vì thế bà đã làm lụy anh hùng một chàng lãng tử hào sảng, đẹp trai miền đồng bằng sông Cửu Long như ba tôi! Dù cha mẹ không hài lòng cho con trai thành hôn với cô gái miền ngoài đó! Nhưng vì thương con, nên ông bà nội tôi cũng phải khăn gói quả mướp ra tận miền Trung xin hỏi cưới đúng theo lễ nghĩa con gái người ta, cho thằng con trai yêu quý của mình...

         Ba tôi công tác nơi quê vợ được mấy năm, lúc đó ông bà đã có bốn đứa con (chưa có tôi) thì đổi về làm việc ở Sài Gòn. Và con bé Hoàng Hà được sanh ra ở bệnh viện Từ Vũ nơi hòn Ngọc Viễn Đông nổi tiếng gấm hoa thanh lịch nhứt vùng Đồng Nam Á thời miền Nam Cộng Hòa.

Má tôi là một phụ nữ, ngay từ khi được sinh ra là vì sao tốt trong gia đình cha mẹ giàu! Về làm vợ ba tôi được cưng chiều hết mực... ngoài tiền lương hàng tháng của chồng đem về, còn nhờ bên gia đình ngoại chu cấp... nhà nội giúp đỡ... nên gia đình chúng tôi có cuộc sống rất hài hòa, rất tốt. Ông bà ngoại còn mướn cho người làm, ngay từ khi con gái theo chồng ở riêng... Một người có tuổi đi chợ, nấu ăn, giặt giũ… Khi bà sanh thì có thêm một người giữ em… Hai người giúp việc nầy, đều do ông bà ngoại tôi mướn trả tiền hàng năm.

         Ở sở làm, ba tôi làm gì không biết, nhưng trong gia đình ông là một người chồng tốt, một người cha mẫu mực thương yêu và lo lường mọi thứ cho vợ, con. Từ việc học hành, cho đến sức khỏe và miếng ăn, cái mặc... của anh em tôi, đều một tay ba tôi sắm sửa lo cho cả.

Khi lớn lên tôi mới nhận biết rằng, má tôi là phụ nữ ít nói, thâm trầm và là người vợ hiền sanh con cho ba để nối dòng nối giống họ hàng nhà nội, chỉ vậy thôi! Má tôi thích ăn sang, mặc đẹp, trong nhà bà chỉ bế con khi chúng sạch sẽ... dòm ngó người làm, nhắc nhở lo cho con bà chu đáo. Bà để ý và săn sóc chồng nhiều hơn cả con từ miếng ăn, giấc ngủ và cách trang phục của ba... Lúc ba tôi tại nhiệm còn trẻ có địa vị trong xã hội thời bấy giờ... má tôi thích theo chồng trong những lần có tiệc tùng... Thích như vậy chỉ đi với ba tôi, chớ bà không thích đi ra ngoài một mình. Bà cũng không có bạn bè tụm năm, tụm ba để trò truyên, ăn uống bên ngoài, cũng không giao du thân thiết với những người phụ nữ ở tố như bà...

Mặc dù ngoại thương yêu lo cho má tôi lúc còn trẻ sống chung với gia đình, cũng như lúc làm vợ ba tôi và có con cái... Nhưng ông bà ngoại nhớ thì vào thăm con cháu chớ má không dắt chúng tôi về thăm... Ngoại trừ đám cưới của các cậu, hay ông bà bất ngờ đau yếu. Má tôi cũng không hay chuyện vãn, tâm sự với bà con bên chồng, hoặc các chị dâu bên mình... Bà ngồi bên ba nghe hơn là góp chuyện vui, hay buồn, của đại gia đình bên ngoại cũng như bên nội tôi mỗi lần có dịp họp mặt đoàn tựu. Họ hàng thường bảo má tôi là một phụ nữ ít nói. Nhưng ba tôi lại là người đàn ông hoạt bát, vui vẻ thân thương gần gũi anh chị, em, con, cũng như cháu. Ông là người chồng thương yêu vợ nhứt trên cõi đời nhiều đổi thay, nhiêu khê... Để rồi sau nầy lớn khôn, có lúc anh em chúng tôi len lén than phiền về má.

Anh Hai tôi bảo:

         -  Trong bọn anh em mình, đứa nào thiếu cái gì thì xin hỏi ba. Ba đều lo cho, trong nhà cần thứ gì, hết thứ gì, mất cái gì nói với ba... ba sẽ tìm kiếm có ngay, hoặc trước sau rồi cũng mua cho...

         Anh Ba tôi cười hí hí:

-  Còn hỏi má, má nói “Sao trong nhà chuyện gì cũng hỏi tao hết vậy? Hỏi ba tụi bây đi…”. Bởi vậy, năm đó ba đi công tác ở Đài Loan chỉ có hai tuần mà tụi mình nhớ ba muốn chết, cứ đếm từng ngày mong ba về.

         Chị Tư tôi cười hí hí lấy tay che miệng, nói nhỏ như sợ ai nghe:

         -  Còn đi thăm ông ngoại bịnh ở cả tháng, khi má về anh Hai mình hỏi “Sao má về mau quá vậy?” Chị Năm còn bảo sao má không ở thêm vài tuần nữa với ông bà ngoại rồi về, tụi con không có chờ má về đâu... thế là bị má vả cho mỗi đứa một bạt tay, khiến cả bọn chúng mình chạy tán loạn. Sau nầy anh chị em khi có dịp nhắc lại… cả bọn vỗ tay cười ngã cười nghiêng, cười muốn nín thở... Thiệt là xui xẻo, khi chúng tôi nói lén đến đó, bất chợt má lại đi qua! Nghe mấy đứa con rù rì, bà đứng lại tra hỏi một hồi... Cả bọn anh tôi vô số tội mà chối bai chối biến... Còn con em khờ dại nầy là tôi đây chỉ biết khóc hu hú... rồi thành thật khai ra hết mọi thứ với má, để được tha không phải bị đánh đòn...

Má tôi trợn mắt, phùng mang đay nghiến nhìn lũ con khôi ngô tuấn tú  của mình... rồi quát cho một trận nên thân:

-  Tụi bây là đồ vô ơn bạc nghĩa! Tao bụng mang dạ chữa chín tháng mười ngày nặng nề đau đớn mới sanh bây ra... Sanh tụi bây được vuông tròn tao quên hết cái đau đớn, yêu đuối như bún luộc của một sản phụ! Sanh ra thì cho tụi bây bú mớm cho đến thôi nôi... Đêm đông lạnh lẽo, khi tối lửa tắt đèn... bây bịnh hoạn... ba bây đi lính xa nhà... ai đã săn sóc thuốc thang, trông chừng, thức sáng đêm với tụi bây đây? Mặc dù nhà có kẻ làm người giúp việc... nhưng chỉ đỡ đần, giặt giũ áo quần, ẵm bồng thôi trong lúc bây khỏe mạnh... Chớ làm sao tao dám giao lúc tụi bây bịnh cho họ trông coi hết được... Rõ ràng bọn bây thật là những đứa con bất hiếu... tao sanh tụi bây uổng quá trời... Phải hồi đó tao sanh trứng gà hay trứng vịt luộc ăn còn sướng và ngon cái miệng hơn sanh lũ bây…

Với giọng hờn giận rung rung, má tôi rươm rướm dòng lệ mỏng! Bà với lấy cái khăn máng trên vách gần bên để lau nước mắt... Lúc đó tôi cảm thấy thương yêu má vô cùng, lòng se thắt và hối hận đã hùa với các anh mình...

         Má tôi nghẹn lời, nói tiếp:

-  Tụi bây là những đứa con uổng công tao thương yêu chiều chuộng mà chẳng ra gì! Mấy đứa lớn xúm lại nói hành nói tỏi mẹ bây, làm gương xấu bắc cầu cho lũ em... Cho nên con Hoàng Lan, con Hoàng Tâm mới nức mắt mà tao nói cái gì chúng nó cũng xon xỏn cãi lại hết… Tao thật là vô phước quá mà!

         Rồi má khóc lớn... nghe má rầy rất là phải, anh em chúng tôi cúi đầu không nói lời nào mà nhận tội, mặt mày lộ vẻ sầu bi, và nước mắt rưng rưng... Họ quỳ xuống cùng xin lỗi má sau nầy không dám nữa... còn tôi ôm chắc má mà khóc lớn hơn ai hết, và thấy ghét anh chị mình quá trời đi thôi!

 

Sau 30 tháng 4 năm 1975, cùng chung số phận với quân, dân, cán, chánh miền Nam. Ba tôi bị giặc bắt đày đi cải tạo ở các trại tù miền Nam rồi ra miền Bắc... Lúc giặc mới vào thì má lấy đồ trong nhà đem ra bán là: xe, rồi áo quần, chén bát, tủ bàn... Cái nhà giờ đây chỉ còn bốn tấm vách, từ nhà trên xuống nhà dưới trống trơn, dù xe ba bánh cũng có thể chạy qua chạy lại thông thương không có chướng ngại vật nào cản trở ráo trọi trơn... 

Hai anh lớn của tôi lúc đó đang học nghề chuyên môn ở một trường Đại học. Vì thời cuộc, và hoàn cảnh gia đình... họ phải nghỉ học ra buôn bán để nuôi ba tôi kẹt trong tù, và giúp mẹ nuôi mấy đứa em trong tuổi ăn chưa no lo chưa tới, chưa làm gì ra tiền...

Việt Cộng vào, má tôi cho người làm về quê... vì gia đình không đủ gaọ ăn thì có đâu giữ người giúp việc... Người làm nghỉ, trong nhà như nấu cơm nước và mọi việc khác giặt giũ, gánh nước, đi chợ... giờ đây do má chỉ biểu cho chị em tôi đứa lớn làm việc lớn đứa nhỏ làm việc nhỏ... chớ bà cũng không rớ tới. Mấy tháng đầu chúng tôi làm bếp cơm sáng khét, chiều nhão, nấu canh cháy nồi... “vạn sự khởi đầu nan” mà, lần lần rồi đâu cũng vào đó cả! Tuy chúng tôi nấu không khéo không ngon, nhưng mà nấu nướng khô lân chả phượng... mới khó, chớ chặt to kho mặn miển nấu chín rồi thì cả nhà kẻ húp người chan ăn uống ngon lành... Ăn ngon hơn ngày xưa về nội, về ngoại ăn giổ. Bởi khi đói thì cái gì cũng ngon, và cũng nuốt trôi hết ráo!

Năm đó tôi mười ba tuổi, chị tôi người mười bảy, người mười sáu. Thỉnh thoảng các chị em tôi cũng ra phụ hai anh buôn bán chợ trời. Hoàn cảnh tang thương chung của đất nước, mọi gia đình gần như chịu khốn đốn bởi việc sanh nhai... vì gần như gia đình nào cũng có người bị tù cải tạo.

Nhưng gia đình chúng tôi âm thầm sống khỏe, sống tốt... kể từ khi các anh tôi ra mánh mung buôn bán có tiền vô, ra... Má tôi là người nắm giữ tiền bạc... và chỉ bảo mọi điều... Chúng tôi thương yêu ba má thấu hiểu và luôn dè dặt trong hoàn cảnh đau thương, nhiễu nhương và tình người đổi trắng thay đen dưới sự thống trị của chế độ Cộng sản tràn vào cưỡng chiếm...

Anh chị tôi đi bán chợ trời, gội nắng dầm mưa, đi sớm về tối... vất vả trăm chiều, tảo tần trong việc buôn bán mới có miếng ăn... Má tôi vẫn quanh quẩn trong nhà chân giầy chân guốc ăn no, ngủ kỹ... mấy tháng chưa bước ra khỏi cửa... cho dù ngoài trời có sập xuống bà cũng không để ý!

Mỗi lần đi thăm ba ở trong tù, ông thường nhỏ to dặn riêng chúng tôi:

-  Má các con từ thuở nhỏ sống với cha mẹ có ăn có để nên bả chưa bao giờ giặt cái áo hay nấu nồi cơm... Đến khi có chồng thì ông bà ngoại con giúp đỡ tiền bạc hàng tháng, sợ con mình cực khổ nên mướn cả hai người giúp việc để hầu hạ bả... khi sanh Hoàng Mai đứa con út của gia đình má các con cũng chưa hề cực khổ... Bây giờ ba tù đày, tội nghiệp bả, mặc dù má các con ra đời ở vùng nghèo nàn vì năm nào cũng bị thiên tai hạn hán, mưa lũ ngập lụt gió bão mùa màng thất bát... Nhưng ông bà ngoại con khá giả, má con sống sung sướng từ lúc lọt lòng mẹ quen rồi... Nay thì ông bà nội các con nay già yếu, vườn tược cũng chia năm, xẻ bảy, và số còn lại cũng sang nhượng để nuôi gia đình mình từ khi giặc vào. Ông bà ngoại cũng đã kiệt quệ, đang lâm cảnh khó khăn, má các con ít nói, nên sự thương yêu lo lường bà ít để lộ ra ngoài, nhưng là người mẹ tốt, người vợ thương yêu chồng... Thương ba, thì các con phải hiếu thảo, giúp đỡ má và nghe lời má. Những gì các con có thể làm được… thì phải cố gắng làm để má các con đỡ nhọc nhằng, và không khiến bả tủi thân buồn khổ sẽ dễ gây bịnh...

Ở trong tù ba tôi chịu bao nhiêu nỗi cực khổ, tủi hổ... nhưng ông vẫn canh cánh lo cho gia đình nhứt là lo cho má chúng tôi! Người đã cho gia tộc hiếm muộn con trai của ông những đứa con xinh, những đứa con ngoan hiền biết nghe lời cha mẹ... Chúng tôi đứa nào cũng biết ở trong tù mà ba lo cho má còn hơn má lo cho ba đang bị giặc đày đọa giam cầm, thiếu ăn thiếu mặc, lương tâm luôn bị kẻ vô ý thức, dốt nát, ngu đần... tìm đủ mọi cách chà đạp và hủy hoại cho “chết một con, nhòn một mũi...” để trả thù về sự thua kém của chúng...

Cho đến mười mấy năm sau ba tôi mới được ra khỏi tù. Và mấy chị lớn của tôi lần lượt đã lập gia đình ra sống riêng cũng chung thành phố.

Ba tôi ngày nào cũng theo phụ với hai anh buôn bán. Còn tôi làm hết mọi việc từ vệ sinh trong nhà, giặt giũ quần áo cho mọi thành viên trong gia đình cùng đi chợ nấu ăn hàng ngày… Dù nhọc nhằn nhưng chúng tôi rất hạnh phúc ngấm ngầm, nhờ trong gia đình sống gần gũi hôm sớm đùm bọc lẫn nhau... nhứt là các anh tôi buôn bán “Chợ Trời” kiếm ăn cũng đỡ lắm.

Ba tôi là người đàn ông thương vợ thương con rất mực. Gia đình chúng tôi khá cũng nhờ khéo léo bán buôn của hai anh nên giờ đây không đến nổi khổ sở như lúc giặc mới vào... Riêng má tôi trở lại sung sướng như ngày xưa mặc dù không sang, đẹp tân thời như xưa... nhưng vẫn ấm, no mà không phải làm lụng chi cả, vì chồng và các con lo từ trong ra ngoài...

Vậy mà đôi lúc má tôi còn thở dài buồn bã rồi oán trách:

-  Số phần tao thật hẩm hiu, tại lấy ba bây nên giờ mới khổ...

Ba tôi cười hiền, nói nhỏ với các con:

-  Kệ bả, tội nghiệp lúc ba ở tù, bả ở nhà khổ tâm mọi chuyện… Bả nói vậy chớ có làm gì đâu... các con nên thông cảm với bả mà đừng có buồn má nghe chưa…

         Thiệt tình sao má tôi không chịu nghĩ suy mà tôi nghiệp cho chồng con lại đi thốt những lời hết sức khó nghe như vậy! Nhưng rồi ngày lại ngày qua, cuộc sống của gia đình chúng tôi lây lất theo thời gian trong lo âu sợ hãi, trước những kẻ khi cưỡng chiếm được miền Nam rồi thì tự mãn cho là mình chiến thắng... muốn làm chi thì làm “Phép vua thua lệ làng” ở thời buổi nầy, và bất cứ ở nơi đâu trên quê hương khốn khổ cũng có thể xảy ra. Từ giặc thả về sau những năm dài bị đày ải, ba tôi sống lặng lẽ, an phận với những công việc hàng ngày chớ ít giao du với ai, kể cả người thân thì đừng nói chi bè bạn... Ông luôn dặn dò các con: “Tai vách mạch rừng” nhắc cho chúng tôi phải nhớ lại phim “Chúng Tôi Muốn Sống” mà giữ mồm giữ miệng, kẻo tội va vào thân lúc nào không hay biết, nhứt là sau ngày hai anh tôi vượt biên...

Số là có một hôm đẹp trời, ba tôi được gia đình người cộng sự viên ngày xưa ở Gò Công đến thăm. Ông ta có nhã ý giúp ba tôi rời Việt Nam bằng thuyền chài vượt biển Đông... Không cần nghĩ suy, tội nghiệp ba tôi sụp lạy người ngỏ lời giúp mình... ông từ chối cho ông mà năn nỉ người ơn nhờ giúp đỡ cho hai anh tôi theo gia đình ông ta vượt biên... Ba tôi muốn như vậy là vì các anh tôi còn trẻ, tương lai còn dài không thể nào chung sống trong chế độ Cộng sản vô thần, không nhân quyền, không tự do... Và anh em chúng tôi sổ bộ đời ở chế độ Cộng sản vĩnh viễn nằm trong sổ bìa đen là con của “ngụy quân...” đó là thành phần khiến chúng lo sợ trả thù vì những chuyện gian ác chúng  đã tạo nghiệp chắc chắn phải trả ở mai sau...

Ba má và mấy chị em tôi mừng còn hơn trung số độc đắc mấy tỉ bạc Việt Nam Cộng sản hiện đại... khi được tin hai anh tôi vượt biên đến Nam Dương. Chín tháng sau được vào Mỹ, các anh tôi biên thư đại khái, về cho gia đình biết tin để yên lòng:

 

“........................................................................

Kính ba má, tháng đầu ở xứ lạ quê người làm xong thủ tục giấy tờ, hai anh em con ngày đi học sinh ngữ. Chiều về sớm ở không nên chúng con làm trong các chỗ bán đồ ăn liền... Công việc không cực nhọc cho lắm... cứ hai tuần được lãnh tiền một lần, trang trải sở phí ăn, ở... Chúng con dành dụm khá khá sẽ gởi về ba má tiêu dùng... Từ rày ba má và các em cứ yên lòng, không phải lo sợ thiếu thốn, và đói nữa.

....................................................................................”

 

Khi có chương trình các cựu quân bị tù cải tạo ba năm trở lên thì làm đơn xin đi Mỹ theo diện H.O... Ba tôi không xin tỵ nạn Cộng Sản theo diện H.O, hay đoàn tựu gia đình do sự bảo lãnh của anh tôi để sang Mỹ.

Ông bảo:

-  Ba không đi đâu! Nếu có điều kiện, các con đứa nào thoát ra khỏi nước thì ba mừng lắm. Các con ra đi là một việc hết sức chính đáng, phải ra xứ người tự do mà bươn chải với đời... mới thấu hiểu trời cao đất rộng... Chớ cả kiếp nầy sống ở đây chui rút làm thân tôi mọi cho một nhóm người không ra gì thật uổng cho kiếp làm người lắm! Các con phải nhớ lấy lời ba dặn dù ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải làm người lương thiện lúc nào bên mọi người chúng ta cũng đều có hai bên vai vác, và trên đầu các con đều có thần linh, có Thượng Đế... Hồi còn trẻ, trong quân ngũ, ba đã tu nghiệp ở Mỹ gần hai năm... nay ba già rồi, xứ người không hợp với tuổi tác của ba đâu... Vả lại ba mong muốn, những tháng ngày còn lại của đời mình được chứng kiến vòng xoay lịch sử của đất nước ta...

Cũng nhờ có sự tiếp trợ hàng tháng của hai anh, và gia đình các chị tôi sau nầy chịu cực chịu khổ nên làm ăn sung túc sớm thăm tối viếng cận kề bên ba má tôi, còn kẹt ở quê nhà. Khi mấy chị đem đến tặng ba con gà, con vịt, gạo ngon, nếp dẽo… Nên cuộc sống của ba má tôi đỡ hơn và tâm tư cũng đỡ khắc nghiệt lo nghèo, lo đói nữa.

Riêng tôi theo chồng sang Mỹ theo diện H.O cũng được bốn năm rồi. Thỉnh thoáng tôi cũng phụ hai anh gởi về chút đỉnh trong những ngày giỗ, Tết … Ba má tôi có cuộc sống âm thầm và khiêm tốn nhưng vật chất rất đầy đủ rất dồi dào... giữa đất nước nhiễu nhương, ngữa nghiêng trong tay giặc. Một bọn tráo trở, nhân nghĩa, luân thường, đạo lý coi như đã mất theo vận nước nổi trôi từ dạo chúng từ phương Bắc xâm nhập theo làn sóng đỏ tràn vào Nam. Bởi người dân miền Bắc mấy mươi năm cuộc đời khốn khổ bị nhồi sọ, bị kềm kẹp, bị ép bức, bị bốc lột... đại đa số thất học từ trong chánh sách ngu dân của Cộng sản mà ra.

Ba tôi qua đời sau những tháng ngày mang bịnh trầm kha, lúc còn trong tù đày cải tạo. Ngày tang lễ, anh em tôi đều về để được nhìn mặt người cha khả kính lần cuối. Sau đó chúng tôi đề nghị với má là bảo lãnh qua Mỹ, nhưng bà nhứt định không chịu đi. Vì ý má tôi muốn khi trăm tuổi già được nằm cạnh mộ ba tôi, thế nên anh em tôi không nài nỉ má đi qua Mỹ nữa.

Riêng tôi nhận thấy rằng, người lớn tuổi có con cháu ở hải ngoại, thỉnh thoảng gởi tiền về tiêu dùng còn sướng hơn ra nước ngoài. Vì người già mà sống trong cảnh trăm thứ đều khác biệt, tối ngày ờ nhà đi ra đi vô với cái vô tuyến truyền hình và những bộ phim Tàu, thì sẽ buồn chán lắm... Riêng má tôi nếu qua Mỹ thì có gia đình anh chị Hai, gia đình anh Ba cùng cháu nội, và gia đình chúng tôi chắc cũng sẽ đỡ buồn.

Ba không còn, dĩ nhiên là má tôi cảm thấy cô đơn! Hiện bà đang sống bên kia bờ đại dương nơi sinh ra và lớn, trên cùng một con đường ngắn đi bộ chừng mười phút thì đến nhà vợ chồng chị Tư của tôi. Chị có hai đứa con chạy tới chạy lui với ngoại... Và vợ chồng chị Năm có hai đứa cháu xinh đẹp, ngoan bà cũng cảm thấy đỡ phần hiu quạnh... Nên ba anh em chúng tôi ở xa cũng được an lòng hơn.

Anh em chúng tôi gần như mỗi ba tháng đều gởi tiền về cho má tiêu dùng. Riêng hai anh tôi có sức nào bỏ ra sức nấy, để lo cho má sống bên nhà an vui với các con và các cháu. Nhà má tôi đang ở cũng còn tốt, bởi mấy năm ba còn sinh thời chúng tôi gởi tiền về, nhờ anh chị ở bển sửa lại cho được tươm tất. Ngoài ra, trong nhà được trang bị đầy đủ có cả máy điều hòa không khí… Tủ lạnh, máy giặt máy xấy áo quần... cầu vệ sinh tự động, vòi nước tắm hiện đại... Hai anh tôi cố tình tạo cho bên trong nhà tiện nghi như nhà ở Mỹ, cho ba má tiện dụng và thoải mái lúc tuổi về chiều mà cả đời vất vả vì con cái.

Ba qua đời chưa giáp năm, má tôi gọi điện thoại bảo chúng tôi mua thêm đất xây nhà cho rộng hơn… Hai anh tôi nhiều lần khuyên má là anh em chúng tôi trong tương lai không về sống bên đó… Vả lại má chỉ có một mình “Ăn nhiều chớ ở bao nhiêu” thì cần gì mà phải cất lớn chi cho bừa bộn... Nhưng bà vẫn nằng nằng quyết một... rồi tự mua lại cho được mấy thước đất chạy dọc, sát ranh nhà của người hàng xóm.

Lúc chưa mua, có hôm má tôi gay gắt, gọi điện thoại qua bảo:

-  Bây coi, bà Năm, bác Bảy, thằng Tí, thằng Tèo… Lúc xưa nghèo mạt sát, có áo không quần, có quần không áo… Họ qua Mỹ sau bây mà cha mẹ họ, con cái họ bây giờ có nhà cửa cái ở, cái cho thuê… Mua xe, mua đất, ì xèo… Tụi bây phải làm sao cho tao nở mặt nở mày với xóm diềng chớ. Không thì họ sẽ cười chê tao, chồng “ngụy” có con ở ngoại quốc mà “phèn” quá đi! Họ sẽ kêu rêu là nhà cửa mẹ ở như cái chòi, không giống ai... Bộ tao già thì không có mặt mũi sao mà để họ chê cười nhà cửa xập xệ... có con cái ba bốn đứa ở Mỹ làm chi mà không lo cho mẹ...?

         Chúng tôi thương má, nên cũng chiều lòng bà… Nhưng thiệt tình mà nói, ai đời thời buổi nầy họ hàng, xóm chòm đói khổ, nghèo rớt mồng tơi... Còn má tôi chỉ một mình mà mướn hai người giúp việc! Một người đàn bà trọng tuổi làm việc nhà, nấu ăn... còn cô cháu trẻ bà con xa theo hầu hạ mỗi khi bà đi ra ngoài… Công việc chánh của cô gái nhỏ là mỗi tối đấm bóp trước khi bà ngủ...

Bà đã ỉ ôi than van: 

-  Bây giờ tứ chi tao rũ riệt đau tay, nhức chân, xương sống ê ẩm... Bởi tao phai mang nặng đẻ đau sanh và nuôi lũ con... Nhưng toàn là lũ vô dụng bất hiếu, được ở xứ người giàu có ấm thân, phì da, lên xe xuống ngựa mà trong lòng không có chút gì để mà trả công ơn sanh thành của mẹ mình...

Sau mấy mươi năm Việt cộng chiếm miền Nam, phong trào người Việt trong nước đi thăm thân nhân ở nước ngoài rầm rộ, và cũng có người xin gia hạn ở lại làm chui giữ em, nuôi người bịnh, người già... Mỗi tháng họ cũng được trả cả ngàn đô đỗi ra tiền Việt Nam, tệ lắm cũng mấy chục triệu chớ bộ!

Có một hôm, má ngỏ ý muốn qua thăm anh em chúng tôi và ở chơi dài hạn... Bà còn bảo với đám con: “...Tao đâu thèm muốn ở cái xứ vô tình mấy đứa con bạc nghĩa đó... Nhưng tao muốn đi cho biết đó biết đây để khi theo ông theo bà không làm con ma nhà quê...”

Thế là thủ tục làm giấy tờ được các anh tôi lo lường nhanh chóng nhứt. Để bà sớm được ra đi gặp con cái bên phương trời Mỹ quốc, vùng đất hứa mà trên thế giới ai cũng ước muốn có một lần đến thăm...

         Chúng tôi họp lại nhà anh Hai ở Washington (Vùng gia đình anh chị Hai sinh sống) để đón rước má tôi. Anh chị Hai tôi có ba đứa con. Đứa lớn tám tuổi, đứa năm tuổi và đứa được ba tuổi. Gia đình anh chị khá nhứt trong mấy đứa con của má sống ở ngoại quốc. Vì chị Hai tôi là một phụ nữ tháo vác, thức thời, cần kiệm, biết làm ăn... Chị đang coi sóc tiệm uốn tóc lớn có 4, 5 người thợ làm đẹp, dưỡng da cho khách hàng... đại đa số là dân bổn xứ, ở vùng Mỹ trắng giàu sang. Khách của chị phải hẹn trước mới có chỗ đến săn sóc dưỡng da mặt, trang điểm, làm móng tay, gội đậu, chải tóc... nên việc làm ăn của chị Hai tôi khá lắm. Vì yêu thương chồng nên chị đổ của cải về Việt Nam cho má và quà cáp cho các chị tôi bên đó, chớ anh Hai tôi lương của một người thợ hai năm đại học thì có là bao nhiêu, dựa vào sở làm anh Hai chỉ có bảo hiểm sức khỏe cho cả gia đình anh chị mà thôi.

Có con dâu biết điều, thương chồng mới lo cho bà già chồng như vậy mà má tôi vẫn càm ràm... Có một đêm bà điện thoại cho con gái út của mình đích thị là tôi đây phân trần đã đời rồi thì trách móc, phàn nàn vợ anh Hai tôi. Mở đầu bà khóc lớn bên kia đầu dây điện thoại.

Tôi hoảng hồn, không biết chuyện gì, lật đật nói:

-  Chuyên gì vậy má, tại sao khóc? Má hãy bình tỉnh kể lại cho con nghe coi…

Tiếng nói má tôi sụt sùi trong nước mắt, và bổn cũ cứ nói đi nói lại hoài khi nào má muốn việc gì đó mà con cản ngăn:

-  Má thiệt vô phước, sanh một bầy con để nối dòng nối dõi cho ba bây. Tao cực khổ lúc ba bây ở trong tù… giờ qua đây ăn nhờ ở đậu anh Hai bây bị vợ chồng nó rẻ rúng, khinh khi… Tao ở nhà giữ con cho nó chớ có ở không đâu mà nói coi thường tao. Phải biết trước bị con dâu khi dễ như vậy có đem võng lộng về rước tao cũng không thèm đi... Ở bên đó tao có kẻ hầu người hạ… Thiệt ba bây ác lắm, nửa chừng ổng bỏ tao mà đi... theo lẽ ổng phải để tao đi trước cho sướng cái thân, chuyến nầy về, tao sẽ ở luôn bên đó… Có chết tao cũng không cho bọn nó hay, thiệt là thứ con bất hiếu thế nào cũng gặp quả báo… “Ngày xưa trả báo thì lâu/ Bây giờ trả báo phút giây nhản tiền” đừng tưởng không có...

         Tôi nhăn mặt cắt ngang lời bà:

         -  Má à, mà chuyện gì nói thẳng vào điểm chánh đi... cứ dong dài nên con không hiểu chuyện gì cả? Nhưng con không tin rằng anh chị Hai dám hổn hào và khinh thường má...

         Má tôi nín khóc, mắng xối xả:

         -  Mầy là con ngu, chị Hai mầy là con sư tử Hà Đông, là con hồ ly tinh... nó không nói nhưng xúi anh Hai mầy nói, anh Hai mầy làm…

         Tôi nổi nóng:

         -  Nhưng chỉ xúi anh Hai nói gì má? Má đừng vòng vo nữa, nói cho con nghe đi...

         Đầu dây bên kia, má tôi lại khóc rống lên, rồi tức tưởi như bị hiếp đáp dữ lắm:

-  Có bà Tâm hàng xóm quen với tao. Bà sẽ về thăm Việt Nam, tao nói với vợ chồng anh Hai bây tao cũng muốn về thăm mấy chị mầy và tiện thể coi nhà cửa, rồi tháng sau sẽ trở qua.

Tôi ngắt lời, gắt giọng:

-  Trời đất, bộ tiền in ra được sao, má mới về bốn tháng trước, thì nay lại muốn về nữa vậy má?

         -  Bây căm họng đi... tao muốn đi hay ở là mặc tao có mắc mớ gì đến chúng bây! Lúc tao nói, anh bây chỉ làm thinh, chắc đêm về tâu với hoàng thái hậu (vợ) nên sáng nay, Trước khi anh Hai mầy đi làm nói với tao: Con sẽ mua giấy máy bay một chuyến cho má đi về. Má khỏi qua nữa, để thỉnh thoảng con dắt các cháu về thăm má... Mầy coi, con trưởng nam gì mà trời đánh thánh đâm không, làm mọi cho vợ chồng nó thì được, còn muốn về thăm mồ mả ông cha, nhà cửa thì nó không cho. Tao về kỳ nầy ở luôn, nếu có đói đi xin ăn... tao sẽ ở bển chớ đương thèm qua đây nữa…

Tôi thở dài ngao ngán! Tức má tôi muốn chết mà tại vì bà là mẹ nên tôi đành câm miệng làm thinh! Tôi không hiểu má tôi thiệt tình không biết hay giả bộ để mà làm eo làm sách anh chị Hai tôi? Đành rằng từ nhỏ má tôi sống sung sướng, cho dù lúc ba tôi đi học cải tạo ở nhà cũng có anh chi em tôi lo lường từng li từng tí cho má… Cuộc sống của bà được các con lo chu đáo cơm no, áo ấm hơn hẵn những bạn bè có chồng đi học cải tạo như ba tôi. Nhưng bà cũng biết là có nhiều gia đình bị Việt cộng đuổi đi kinh tế mới... chịu không nổi nước độc, gió núi, rừng rậm... trốn trở về mất nhà, và đang sống lang thang đói khổ ở đầu đường xó chợ.

Giờ đây nghe má nói tôi buồn quá, và cũng ngại miệng lưỡi người  đời bảo là con hổn xược, bất hiếu... Nhưng không nói ra thì thiệt là bất công cho anh chị tôi, nhứt là chị dâu vợ anh Hai mình. Số là má tôi qua Mỹ sống với anh chị Hai, mỗi tháng anh chị cho má một ngàn (1000) đô-la Mỹ, chớ không phải một ngàn đồng Việt Nam đâu nghen! Anh chị nói để má bỏ túi cho má vui, khi nào muốn mua sắm gì má khỏi ngại phải hỏi con, dâu... Người ta trông chừng ba đứa nhỏ cho anh chị cũng phải trả bằng với số tiền đó nhưng không yên lòng, vì dù sao bà nội giữ cũng thương cháu hơn... Bà chỉ trông chừng các cháu lúc ở nhà cho có người lớn và tới bữa ăn (cơm nước chị đã làm sẵn) hối thúc chúng ăn. Quần áo giặt, sấy khô đều bằng máy, anh chị tôi làm cả, ít khi má rớ tới…

Người ngoài cuộc, xin quý vị nghĩ xem. Má tôi sang Mỹ ở với anh chị Hai tôi mới có ba năm, sáu tháng, mà bà đã về thăm Việt Nam mười ba (13) lần! Mỗi lần ít nhứt là ba tuần, thường thì một tháng. Mỗi lần má về như vậy, anh chị đều lo mua gấy máy bay và cho tiền bạc dằn túi để tiêu xài ở bên đó nữa.

-  Mầy đang suy nghĩ cái gì mà câm họng nín thinh, không nói lời nào hết vậy Hoàng Mai?

Giựt mình đánh độp vì tiếng hỏi lớn của má tôi bên kia đầu điện thoại. Tôi cà lăm cà lặp, trả lời:

         -  Vậy má tính sao?

         -  Tính ông nội mầy chớ tính sao cái gì? Thì tao về nhà tao, chớ không lẽ tao ra ngoài đường sống vô gia cư ở đây sao? Tụi bây toàn là lũ con bất hiếu không hà…

         Tôi cố dằn lòng, ngọt ngào khuyên bà :

         -  Má à, má thấy bên nầy làm việc vất vả lắm… Anh chị Hai may mắn ăn nên, làm ra có tiền, chớ như con, hay các anh chị Ba cũng đâu có ai lo cho má như anh chị Hai con đâu. Chị Hai là người hiền lành, con nhà gia giáo có đạo đức mới lo cho má như vậy. Má còn càm ràm ta thán nỗi gì nữa? Ai có nói má ra ngoài đường ở đâu, ảnh chỉ sợ má cứ đi qua đi lại... đường xa mệt thôi! Ở xứ Mỹ, con dâu tốt như chị Hai tuyệt giống hết rồi, không có người thứ hai đâu… Má có đốt đuốc đỏ trời tìm khắp năm Châu bốn bể... cũng không có con dâu như vậy đâu...

         -  À, bây giờ cả mầy cũng binh cho bọn nó nữa hả?

         Tức quá, tôi không còn sợ nữa:

         -  Binh cái gì mà binh? Không phải má thường bảo con dữ như con gấu chó sao? Chị Hai mà dám hổn hào với má, con để yên cho chỉ à? Con là con gái của má, nếu con không nói cho má biết, má hiểu thì ai dám nói? Má đã về Việt Nam còn hơn con đi chợ mua quần áo cho mấy đứa nhỏ nữa. Tiền bạc làm ra cực khổ lắm... Anh chị Hai có tiền, nhưng má coi có lúc nào ảnh chỉ ngồi chung ăn tròn được bữa cơm với gia đình chưa? Giờ giấc không đủ để ngủ, để săn sóc con cái… Đáng lẽ má thấy vậy phải thương ảnh chỉ nhiều và phụ ảnh chỉ hơn mới phải chớ. Tối ngày má cứ phân bì với ông nầy bà kia đi đi, về về Việt Nam xài tiền bạc như bươmbướm bay… Má ích kỷ quá đi! Tại lúc sanh thời ba nuông chiều nên má lúc nào cũng sống cho mình chớ không nghĩ đến con cái… Có ai đời thời buổi nầy bà con, chòm xóm nghèo khổ, còn một mình má mướn hai người làm... tiền đâu má nuôi họ ăn và trả lương cho họ, cũng tiền của anh chị Hai gởi về... Má hãy bình tâm nghĩ xem con nói vậy có đúng không?

-  Câm miệng đi con gấu chó nịnh bợ bốn mùa! Tao phải chờ mầy dạy khôn hả? Từ rày sắp tới đừng gọi tao bằng mẹ nữa nghe con kia. Tao sanh tụi nó ra, nuôi lớn khôn nó mới có vợ con mới làm ra tiền. Không có tao làm sao có bọn nó… Tiền của nó làm ra gốc gác cũng từ tao mà có... với tao, nó trả bao nhiêu cũng không đủ…

         -  Trời! Nồi đồng nồi đất ơi má đừng có vô lý như vậy có được không? Anh Hai má sanh ra, còn chị Hai má có sanh đâu... Má ở với con cũng không được như vậy chớ đừng nói chi ở với con dâu… Con thấy anh Hai nói đúng, má nên về bên nhà ở luôn là tốt hơn...

Má tôi dằn điện thoại một cái cụp, không thèm nghe nữa... Tôi cũng buông điện thoại ngồi xuống thấn thờ, hai dòng nước mắt chảy dài. Hôm sau tỉnh mỉnh, tôi gọi người chị bà con, tâm sự:

-  Chị Hà ơi, mấy hôm rày em buồn quá không tâm sự với ai. Vì chung quanh đây toàn là bên chồng em không hà. Tội nghiệp ba má chồng em cao tuổi hơn má em mà hàng ngày phải giữ một bầy vừa cháu nội vừa cháu ngoại bảy đứa, (trong đó có hai đứa con em). Ông bà không đòi hỏi lấy một cắc giữ các cháu của mình. Cuối tuần bà còn nấu món ăn ngon kêu lại ăn, đứa nào không đến được có lý do ômg còn lái xe đem tới nhà cho. Đứa nào không đến mà không có lý do ổng bả còn hờn giận nữa kìa. Thiệt tình, còn má em là vậy đó, từ nhỏ đến bây giờ bà chỉ biết có bà, ngoài ra không cần biết đến người khác… Nhưng em tự trách đã biết má mình như vậy rồi thì còn nói làm chi để bả giận, mai kia má có chuyện gì em sẽ ân hận suốt đời… Hôm nay sáng gọi nói cho chị nghe, vì bên nầy ngoài mấy anh của em ra thì có chị là người ruột thịt, hiểu và thương em nên sẽ thông cảm và cho em biết thêm ý kiến của chị…

Đó là điện thoại của Hoàng Mai từ tiểu bang xa lơ xa lắc, mới sáng sớm gọi qua tâm sự với người chị em cô cậu ruột đó là Cẩm Hà. Thở dài ngao ngán cho bà mợ Hai, vốn là chị dâu con nhà bác của má Cẩm Hà. Hoàng Mai là con nhà cậu thứ hai, má nàng là con gái thứ ba trong gia đình bên họ ngoại của Cẩm Hà và là nhà nội của Hoàng Mai (có nghĩa là hai nàng Hà và Mai là chị em cô cậu họ với nhau). Nhưng Hoàng Mai nhỏ hơn Cẩm Hà gần mười tuổi nên thay vì gọi Cẩm Hà bằng em theo vai vế gia đình, nhưng Hoàng Mai lúc nào cũng gọi Cẩm Hà bằng chị và xưng em ngọt sớt... Nghe chị Hoàng Mai kể lễ về má chị, tức là mợ Hai của Cẩm Hà mà nao lòng. Người đời thường bảo: «Mợ dâu nấu đầu trâu lủng trả» nhưng đem ra so sánh với mợ Hai mình thì không đúng cho lắm... Bởi mợ chưa làm điều gì sái quấy để ông bà ngoại, và họ hàng nhà chồng buồn lòng. Má của Cẩm Hà thường bảo khi trong nhà có chuyện gì nhắc đến cậu mợ Hai (ba, má của Hoàng Mai).

Má tôi thở dài và mỉm cười, bảo:

-  Nói đến mợ Hai bây là có chuyện để nói dài dài, vui có buồn có. Hồi lúc cậu Hai về xin ông bà ngoại cưới mợ, từ cha mẹ và các em không ai vui vẻ bằng lòng cả. Nhưng vì thương cậu Hai nên ông bà ngoại nhắm mắt cưới đại. Biết rằng chỉ con nhà giàu gia đình đàng hoàng, và đẹp lắm... Chị ấy có dáng người mảnh mai cao sang quý phái, nước da trắng, môi má hồng tự nhiên khi ra nắng một lúc. Mắt to đen láy, tóc mây mịn và nặng bồng bềnh xoã trên bờ vai thon... Mợ Hai thuở thanh xuân đẹp hơn cả những bức tranh vẽ của các phụ nữ đẹp nổi tiếng của báo Đông Phương. Cậu Hai nói cũng đúng phần nào, vì gia đình giàu và quá cưng chiều con, nên chị không biết gì cả từ trong nhà cũng như ngoài xã hội. Mà bà ngoại đã nói. «Cưới con đó về anh Hai bây phải đóng cái tủ kiếng để chưng, và ngắm nhìn... » Tuy có chút học vấn, hiền lành gia đình giàu... nhưng phụ nữ mà nồi cơm không biết nấu, cái chén không biết rửa, cái áo không biết giặt thì tệ quá!

Dừng lại uống hớp nước, mắt nhìn trời xa vắng như cố nhớ lại chuyện xưa lơ xưa lắc, má tôi tiếp:

-  Gia đình ông bà ngoại của Hoàng Mai biết điều lắm. Biết con mình dở lấy được người chồng tốt nên họ mua cho nhà cửa khang trang khi ảnh đổi vô Sài Gòn. Họ còn mướn cho người làm để làm việc thay con gái cơm nước và làm việc nhà, giữ em. Trong năm có những ngày lễ Tết, hoặc cúng giỗ lớn phải về bên chồng, thì theo chỉ lúc nào cũng có hai người làm, người nấu nướng trong gia đình hàng ngày thì phụ với gia đình chồng xắt, xào, nấu nướng, còn đứa nhỏ giữ em và phụ rửa chén... Bà già chồng với các cô em chồng lúc đầu cũng thấy chướng mắt và bực bội lắm... nhưng dần dần rồi quen đi, bởi cậu Hai tụi bây thương yêu bả quá chừng đi thôi... Cha mẹ nào cũng vậy hễ thương con thì thương dâu, thương rể... vả lại bả sanh cho nhà chồng liên tục mấy đứa cháu nội trai có gái có... đứa nào cũng ngộ, và ngoan đó là bửu bối của cha mẹ chồng, và họ nhà chồng thương yêu cháu hết biết...

Má tôi bật cười thành tiếng nhớ đến mợ Hai tôi đi bắt ghen:

-  Thỉnh thoàng cậu Hai bây đi công tác ở tỉnh không cho vợ theo. Bả sanh nghi câu Hai có mèo... nên lần mò cùng đứa ở đi bắt ghen. Hôm đó ba bây họp chung với cậu Hai nên mời ảnh về nhà ăn cơm, vì có ông bà ngoại qua ở nhà mình mấy ngày để dự lễ cưới con người bạn. Nhà đang sửa soạn ăn cơm, thì con nhỏ ở của mợ sầm sầm ngoài cửa đi vào, tay cầm thanh tre dài, tay kia cầm cây chổi...

Cả nhà chưng hửng, cậu Hai ngạc nhiên lớn tiếng hỏi:

-  Bây làm gì ở đây, còn mợ Hai đâu, bộ có chuyện gì sao?

Con nhỏ ở như tỉnh, vội bụm mặt khóc ồ rồi bỏ chạy ra ngoài... Cả nhà không ai bảo ai cùng đi nhanh theo con nhỏ ở xem chuyện gì đã xảy ra?

Thì ra mợ Hai bây đang ngồi trốn trên xe vì sợ, vì mắc cỡ... không dám cùng đi với con nhỏ ở vào bắt ghen chồng! Tôi nghiệp cậu Hai bây cười như mếu với cha mẹ và gia đình em, cháu... còn mợ thì vừa e thẹn, vừa khóc lớn, vừa đánh thùm thùm vào vai cậu Hai... Ông ngoại lắc đầu thở ra! Để đỡ cho con dâu yêu quý của mình, bà ngoại rầy cậu ăn ở thế nào mà để cho vợ sanh lòng nghi ngờ rồi ghen...

Chị Hai của mẹ không thích và không chịu làm việc nhà, hoặc nấu ăn... đó là việc hết sức bình thường của phụ nữ... Lúc cậu Hai đi học cải tạo anh em Hoàng Mai còn đi học, nhà cửa công chức, quân nhân... miền Nam đều lâm vào cảnh túng thiếu... Tội nghiệp anh chị nó nghỉ học ra bán chợ trời, con Hoàng Mai mới mười ba, mười bốn tuổi... mà làm hết những việc trong nhà kể cả nấu ăn cho cả gia đình... Còn chỉ thì cái chén cũng không rữa giúp con... ở không đi tới đi lui trong nhà chắc lưỡi hít hà, than không tiền, than mệt... Bả là thế đó không chịu làm lụng mà muốn ăn ngon mặc đẹp, nếp sống xa hoa trên gấm lụa... Hễ cha mẹ, chồng con... ai có tiền cho thì bả tiêu xài thơm tay lắm, không cần biết, không bao giờ nghĩ suy đến sự cự nhọc của kẻ làm ra tiền cho bả tiêu dùng. Chắc là bả luôn nghĩ đó là bổn phận và trách nhiệm phải cung phụng cho bả... Nói tóm lại má của anh em Hoàng Mai, mợ Hai bây không thức thời... Bả thiệt đúng là một phụ nữ có phước, có cách sống của người thượng đẳng!

Bà chị dâu của má dở đủ mọi thứ nhưng bả được cái là thật tình và hiền lắm... Cả đời bả chỉ biết nhỏng nhẻo với chồng, ăn diện... thuở cậu Hai còn tại nhiệm, cứ mỗi hai tuần bả đi tiệm gội đầu làm tóc, và sơn phết móng tay móng chân... Ở nhà rầy la các con thôi, chớ người làm bả cũng chưa xéo xắt hay nặng lời với họ... Bả tốt bụng hay giúp đỡ người lỡ chân, trái bước túng cùng... Có lẽ nhờ vậy mà trước tình thế đất nước ngã nghiêng tang thương sau cuộc đổi đời... ở vào thời đại nào, hoàn cảnh như vậy... mà má thấy bả cũng được chồng có nghĩa tình, con có hiếu, cha mẹ anh chị thương, họ hàng không nở ghét... Bả thiệt đúng là một người «Thượng đẳng»...

-  Còn đó không chị Cẩm Hà?

         Giọng sũng buồn của Hoàng Mai bên kia đầu dây... khiến tôi quay về thực tế, mau mắn trả lời người chị em cô cậu luôn gọi tôi bằng chị nầy.

         Tôi nhẹ giọng, cười hí hí:

         -  Tôi đây, đừng buồn nữa Hoàng Mai. Chị nói với mợ như đã kể trên, nếu ai không biết thì nghĩ là có vẻ nặng lời, nhưng biết về mợ thì chị nói vậy cũng chẳng oan ức chút nào, thật đúng quá chớ có gì sai quấy với mợ chút nào đâu mà lo... Tại vì khi còn ấu thơ mợ luôn được «nâng như nâng trứng/ Hứng như hứng hoa» quen rồi. Tôi nghĩ, giờ đây nghe chị nói... biết đâu mợ Hai thức tỉnh, suy nghĩ lại lời con gái mình mà sửa đổi tánh tình... Còn nếu mợ không thay đổi thì thôi cũng chẳng sao, má tui bảo năm nay mợ cũng đã bảy mươi, tuổi tác lớn cũng dễ thay đổi tâm tính lắm chị ơi. Thôi thì kẻ làm con, mấy anh chị hãy chiều mợ đi... Má tui còn bảo mợ Hai bây từ hồi nào đến giờ, bả sống đúng cung cách của người «Thượng Đẳng».

         Bên kia đầu dây điện thoại Hoàng Mai bật cười thành tiếng:

         -  Chị nói nói gì, cô Ba (má của Cầm Hà) bảo má em là người «thượng đẳng» hả? Vậy là chúng em đã có bà «Má Thượng Đẳng», thế mà hồi nào đến giờ không biết chớ...

         Mợ Hai tôi bây giờ chân tay cũng đã yếu, chớ không còn khỏe mạnh như xưa nữa. Mợ cũng không chịu trở qua Mỹ với con, mặc dù con trai lớn của mợ đã về rước mẹ mấy lần. Ở Việt Nam mợ có con cháu... ra đường ai cũng nói tiếng Việt, từ ăn ở nhứt nhứt cái gì cũng quen... và còn có hai người giúp việc mà mợ nhứt hô, thì được bá ứng ngay! Mợ cùng người hầu đi chu du thiên hạ nơi nào có phong cảnh đẹp, viếng thăm những di tích lịch sử nổi tiếng...  Từ vịnh Hạ Long cho đến mũi Cà Mau, Phú quốc, Hà Tiên... Và còn qua cả xứ người du lịch, như: Trung quốc, Miên, Thái lan, Đài Loan, Singabo... Đi ra nước ngoài mợ còn đi trực thăng để nhìn biển, hồ núi non hùng vỉ đẹp, tiền vé phải trả cho mợ và con nhỏ theo bả mỗi lần lên xuống trực thăng dạo chơi cũng mất mấy trăm đola một người chớ không tiền bác Hồ đâu ! Đó cũng nhờ có các con ở Mỹ chu cấp tiền bạc dồi dào cho mợ. Thiệt hết ý với mợ Hai tôi, mợ có cuộc sống hiện tại trong nước chỉ thua những bà có chồng tai to mặt bự, các đại gia đỏ của thời đại... chớ không thua kém bất cứ một ai ở hoàn cảnh như mợ...

Kể từ đó trong gia đình chị em chúng tôi (cháu chồng của mợ) nói chuyện với nhau... luôn gọi mợ dâu mình là «Mợ Hai Thượng Đẳng». Ba má, dì dượng chúng tôi luôn gọi mợ là «Chị Hai Thượng Đẳng», các con mợ gọi mợ Hai tôi là bà «Má Thượng Đẳng». Hai chữ «thượng đẳng» có nhiều nghĩa, tùy theo trường hợp và hoàn cảnh áp dụng của nó. Thường khi áp dụng trong sự cười ngạo, châm biếm, chế diễu... cho những đối tượng hay hách dịch, hay khinh thường người, và tự coi mình cao sang hơn những người khác... Nhưng hai chữ «thượng đẳng» áp dụng cho mợ Hai chúng tôi ý nghĩa của nó có khác biệt. Như ba má và dì dượng chúng tôi gọi mợ là «Chị Hai Thương Đẳng» các cháu con của các em chồng gọi «Mợ Hai Thượng Đẳng», các con của mợ gọi là «Má Thượng Đẳng».... Với đại gia đình chúng tôi hai chữ «thượng đẳng» đó, có tính cách trong thân thương, quý mến... chớ không phải xem thường, chê bai hay ghét bỏ bà «Má Thương Đẳng» của anh em chị Hoàng Mai.

 

Mùa Thu California

 

DƯ THỊ DIỄM BUỒN

 

Email: dtdbuon@hotmail.com