Thursday, April 30, 2026

GIÁ ĐỪNG ĐEN MỘT THÁNG TƯ (THƠ- SONG CHÂU DIỄM NGỌC NHÂN)




MẸ TÔI (ĐÀO THẾ VƯỢNG- SÁNG TÁC)

 



https://www.youtube.com/watch?reload=9&feature=shared&v=eZPt_GWTQi4

 


MIỀN BẮC …(CHI SAM)

 


MIỀN BẮC …
… là 2 chữ ba tôi thường có vẻ thất thần khi nghe ai nói đến sau khi đi tù hơn 3 năm ở một nơi nào đó xa xôi. Tôi đã sợ sệt không nhận ra ba khi ông về trong bộ áo quần rách rưới, cái nón tơi tả trên tay, với gương mặt méo mó hằn những vết nhăn, vào một đêm lúc tôi khoảng 10 hay 11 tuổi.
Trước ngày bể dâu năm 1975 ba tôi thường kể những câu chuyện ở Hà Nội trong bữa ăn với một niềm nhớ nhung khi ông “du học” ở đó, từ trường Bưỡi đến trường Kỷ Thuật Đông Dương, trong thập niên 1930/40. Mỗi khi ông kể về những món ngon Hà Nội là thế nào mẹ tôi, người Huế như ba tôi, cũng lườm nhẹ ba tôi với câu “Ni chỉ có món Huế thôi!” và anh chị tôi chỉ nháy mắt nhau cười lén. Ngay cả khi đi ăn phở với tôi ba tôi dặn không bỏ giá và không ăn rau thơm “như ngoài nớ” và tôi không bao giờ hiểu được phở không giá, không rau làm sao mà ngon được.
Ba tôi trở về Hà Nội vài tháng sau ngày bể dâu năm 1975, nhưng trong một xe tù bít bùng từ một trại tù hẻo lánh nào đó ngoài bắc khi họ muốn hỏi cung. Những ngày đó ba tôi không thấy “ánh đèn giăng mắc muôn nơi, áo màu tung gió chơi vơi” (“Hướng Về Hà Nội” của nhạc sĩ Hoàng Dương) mà chỉ thấy ánh đèn hỏi cung trong bốn vách tường đen tối trong một ngôi nhà cũ nào đó. Sau đó họ chở ba tôi về lại trại tù và có vẻ thất vọng vì có thể không biết được nhiều hơn những gì người tố cáo ba tôi đã nói. Có thể ba tôi thật sự không biết vì thôi làm công chức trước đó đã lâu hay ba tôi đã không khai. Tôi không biết được sự thật vì tôi ra đi năm 13 tuổi và ba tôi mất khi tôi tỵ nạn ở Đức.
Từ ngày ba tôi đi tù về tôi càng mất niềm tin vào con người nhiều hơn trước, trong một nơi chỉ còn nghi kỵ, sợ hãi đấu tố ngay trong cả họ hàng. Câu “không được tin ai” như khảm vào óc tôi mỗi ngày và mọi nơi tôi đi. Tôi cảm thấy rất là bất an và khó chịu trong thời gian đó khi còn là một đứa trẻ con, khi lúc nào cũng phải cẩn thận, cũng thấy phản bội chung quanh mình.
Từ khi anh ba ra tù 1 năm sau ba, tôi bắt đầu cảm thấy thù hận, mà đúng ra tôi hận nhiều hơn. Hận vì tôi không nói ra được những gì tôi cảm và hiểu.
Ngày tôi ra Hà Nội lần đầu tiên khi đi công tác sau hơn 20 năm trở về Việt Nam lần đầu tiên, tôi không muốn, và có thể không còn thù hận, nhưng tôi vẫn không có niềm tin.

THÁNG TƯ, NHỚ MÌ GÓI (VŨ THẾ THÀNH)

 Tháng Tư, nhớ mì gói

Vũ Thế Thành


Tháng tư và mì gói nào có liên quan gì với nhau. Tháng tư năm 75 chỉ là cột mốc, thoắt chốc mì gói đã trở thành sơn hào hải vị trong các bữa ăn của người dân Sài Gòn.

Những năm sau 75, con đường vương bá của mì gói bất ngờ nổi lên. Miền Tây là vựa lúa mà Sài Gòn thiếu gạo mới đau, dù chiến tranh đã trôi qua vài năm rồi. Mỗi tháng tiêu chuẩn gạo của kỹ sư như tôi được 13 kg. Gạo thiếu, thay một phần gạo bằng mì gói. Một kg gạo quy thành sáu gói mì, và chỉ một kg gạo được quy đổi thành mì gói thôi, còn lại là những lương thực độn khác như bo bo, bột mì, khoai sắn. Rồi đến lúc bao bì gói mì cũng không đủ, cho mì vụn vào túi nylon đóng bao nửa kg.

Mì vụn hay không, không thành vấn đề, vì trước sau  cũng được bóp vụn để nấu canh. Tô canh bành ky, mì vụn lõng bõng. Gói bột nêm đi kèm trở nên thần thánh. Có ai ngờ nổi?

Rồì mì gói bị đổi tên thành “mì ăn liền”. Ai đầu têu đổi tên mì gói? – Tôi không biết, nhưng chữ “mì ăn liền” nhanh chóng trở thành tiếng lóng mang nghĩa “chụp giựt” trong một xã hội… “mì ăn liền”. Bây giờ tiếng lóng này vẫn còn thông dụng.

Tôi không nhớ mì gói có mặt ở miền Nam từ hồi nào, có lẽ cuối thập niên 60 hay đầu 70. Hồi đó thức khuya học thi, làm một tô mì gói thì cái đầu trở nên sáng suốt lạ thường.

Hình như chỉ có hai hãng sản xuất mì gói, mì Vị Hương Tố nổi trội hơn so với mì Colusa. Nổi trội hơn chỉ vì dễ mua, đến tiệm chạp phô gần nhà, có thứ nào mua thứ đó. Cũng đôi lần tôi nếm thử mì gói Đại Hàn, vị lạ và cay, nhưng tôi vẫn thích mì gói Hai Tôm hơn.

Thiệt tình, tôi cũng chẳng bao giờ đặt câu hỏi trong đầu về mức dinh dưỡng của mì gói. Đơn giản, đó là món ăn vặt. Nấu mì gói nhanh lẹ hơn chiên cơm. Đêm hôm học thi, thời gian đâu mà bày vẽ nấu nướng, hơn nữa mùi vị của tô mì gói cũng đậm đà, dễ chịu, và dễ… nuốt.

Rồi đến thời khó khăn, cái thời mà có nhà khoa học hùng biện trên báo, rau muống bổ hơn thịt bò. Mẹ tôi không tin – Bà già bán xôi mù chữ không tin nhà khoa học. Còn tôi, như bao người trong nước thuở đó, ăn để tồn tại thì mì gói, bo bo , khoai sắn gì cũng như nhau, để ý làm chi đến chuyện dinh dưỡng. Mà chẳng phải mì gói đang được tôn vinh thành món canh vương bá đấy sao?

Ít ai biết mì gói còn là món mồi đưa cay rất… tới. Mì gói đưa cay làm tôi nhớ đến chuyện liều lĩnh, bạt mạng một thời.

Hồi đó tôi đang làm ở một Trung tâm nghiên cứu, thỉnh thoảng xuống phòng thằng bạn, cùng trường nhưng khác khoa, nói chuyện đời. Thằng này giỏi tử vi, nó gần như thuộc lòng quyển “Tử vi đẩu số” của Nguyễn Phát Lộc, còn tôi chỉ mới biết xem chập chững. Tôi không tin chuyện bói toán, bây giờ vẫn không tin, nhưng thời buổi khi đó nhiều nỗi hoang mang, bế tắc, nên cũng tập tành coi tử vi chơi, để xem đời mình lắm rệp cỡ nào.

Có hôm hai thằng luận tử vi, từ 3 giờ đến 6 -7 giờ chiều vẫn chưa mãn cuộc. Nó “phán” (tôi nhớ đại khái), “Số mày, Mệnh, tử phủ vũ tướng – Quan, hóa khoa, xương khúc hồng đào đủ cả. Nhưng tất cả đều ngộ Không – Kiếp, Hóa kỵ. Số mày, làm vua thì đi tu, làm quan thì đi tù”… Tôi bật cười ha hả – nói, “Điều tao muốn biết là, tao có số đi nước ngoài hay không thôi. Dẹp cung Mệnh – Thân – Quan lộc gì đó qua một bên, luận cung Thiên Di cho kỹ. Đi không được thì ở đây Thân – Mệnh cũng chẳng nghĩa lý gì”.

Câu chuyện tới hồi gay cấn, thằng bạn chợt hỏi, “Có chút gì để mềm môi không?” Tôi lắc đầu, cuối tháng, túi thằng nào cũng rỗng. “Thầy” lại gật gù, “Liệu có thể lên phòng lab pha chế ra thứ gì đó nhâm nhi không?” Thằng bạn gốc nhà trâm anh thế phiệt, nên lúc nào cũng nói năng thủng thỉnh. Tôi ngẫm nghĩ, phòng lab dĩ nhiên có đủ thứ hóa chất tinh khiết, có thể “sáng tạo” được. Tôi trả lời, “Đợi đấy!”

Tôi vào phòng thí nghiệm, lấy chai ethanol 96 độ, tự nhủ, tinh khiết tới cỡ này chắc không đến nỗi…. Rót ethanol vào bình erlenmeyer (loại bình có thể lắc để trộn dung dịch), pha loãng với nước cất để còn 30 độ. Chưa hết, cho thêm chút đường dextrose (tương tự như đường glucose) để có chút đậm đà, rồi vài lát chanh nữa.

Tôi mang rượu xuống, cùng với một dĩa mì gói bóp vụn, vắt vài giọt chanh. Thiệt bất ngờ, bắt mồi không thể tả. Từ rượu tới mồi, tất cả đều tinh khiết để luận tử vi với cung Thiên Di thần thánh.

Trẻ người non dạ, tôi đã không ý thức được rằng, cồn trong phòng thí nghiệm, dù tinh khiết 96 độ, cũng chỉ là cồn công nghiệp, không phải cồn thực phẩm. Vậy mà mà hai thằng cũng chia nhau cạn hết nửa lít, không bị ngộ độc methanol thì đúng là trời độ. Ngẫm lại, chẳng có cái dại nào giống dại nào.

Mì gói thời gian khổ trở thành sơn hào hải vị. Bữa cơm trong nhà có khi chỉ là tô canh mì gói, một trái hột vịt luộc dầm nước mắm loãng, pha chút gia vị mì gói. Vậy mà chỉ chan canh, còn hột vịt thì “tế nhị” nhường nhau, ưu tiên người già con nít.

Chừng 20 năm sau này, mì gói “nâng cấp” trở thành món ăn thường xuyên của sinh viên, lao động nghèo, và tiện lợi làm hàng cứu trợ. Mới đây tôi còn chứng kiến một em sinh viên ăn một lúc hai gói mì. Khỏi cần chất đạm chi cho đỏ da thắm thịt, chỉ cần chất bột chất béo, ăn mì gói như thế thì no lâu, phải thế không em, những tiềm năng của đất nước? Hai trăm gói mì trị giá bằng một tô phở bò Kobe.

Năm ngoái, Sài Gòn mắc đại dịch thê thảm, cả 3-4 tháng bị phong tỏa tuyệt đối, nhà nào biết nhà nấy. Rau quả thịt cá không mua được, mì gói trở thành món ăn cầm cự để tồn tại của dân Sài Gòn. Nhiều nhân viên y tế cũng ăn mì gói để dằn bụng cho qua ca trực đêm. Vậy mà lại bùng lên vụ mì gói có chứa chất gây ung thư ethylen oxide (EO). Hầu hết các nước trên thế giới kể cả Mỹ, Nhật, Canada… đều cho phép xài chất EO, chỉ có EU là cấm. Khác biệt quan điểm về an toàn thực phẩm giữa các quốc gia là chuyện thường. Nhưng vài KOLs, không chút kiến thức về an toàn thực phẩm, hay về luật chơi xuất khẩu đã nhảy lên facebook hùng hồn khuyến cáo…

Sáng nay tôi vào tiệm phở. Bàn bên cạnh là đôi vợ chồng trẻ và đứa con chừng 6-7 tuổi. Cả cha lẫn mẹ đều thay phiên nhau, vừa dụ ngọt, vừa đút phở cho con. Còn thằng nhỏ vừa hờ hững há miệng, vừa nhìn vào smart phone chơi game.

Tôi bỗng nhớ tuổi thơ của mình, phải giả vờ ốm mới được mẹ cho ăn phở. Tôi nhớ tô canh mì gói bóp vụn, nhớ quả trứng luộc chia năm xẻ bẩy, nhớ cả những năm tháng gian khổ mà sao đâu đó vẫn còn chút tình người thật mặn.

Mì gói ăn vặt, mì gói lên hương, mì gói cứu trợ, rồi mì gói tai bay vạ gió với đủ thứ chuyện buồn vui của đời người. Mì gói của một thời như thế đó, làm sao quên được!

Vũ Thế Thành

TẢN MẠN VỀ NGÀY (30.4.1975) / TRANG Y HẠ (TRẦN PHƯỚC HÂN)

 

TẢN MẠN VỀ NGÀY (30.4.1975)
Trang Y Hạ (Trần Phước Hân)

Thấm thoát thời gian đã đi qua một chặng đường dài - Bốn mươi lăm năm! Kể từ ngày “giải phóng 30.4.1975”. Nhớ lại những ngày tang thương…! Tôi từ KonTum chạy về Sai Gòn, được phân công làm công tác tiếp cư ở làng Đại học Thủ Đức. 
------------ 
Làng đại học lúc bấy giờ chưa xây xong hoàn toàn, còn ngổn ngang: gạch, cát, đá…, chỉ có một số phân khoa hoàn thành. Dân tản cư chạy giặc từ vùng một, vùng hai và một số tỉnh lân cận chạy về Sai Gòn đều tập trung về làng đại học. Người tản cư được tiếp tế: thức ăn, nước uống, chăn chiếu... Mỗi ngày ngong ngóng chờ tin tức người thân và tình hình chiến sự...!
 
Hằng ngày mọi người xúm lại mở đài BBC theo dõi tin tức. Đài nầy loan tin quân miền Bắc như có cánh… Thắng như chẻ tre - rượt đuổi quân dân miền Nam…! Chính đài nầy cũng đã góp thêm “thành quả” cho quân miền Bắc. Tất cả mọi người - đứng ngồi gần chỗ loa phát thanh, để nghe ông Tổng Thống Thiệu đọc diễn văn từ chức... Ông tổng thống Thiệu nói ”Đồng bào mất đi một tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, nhưng đồng bào còn một trung tướng Nguyễn Văn Thiệu… làm bạn của Mỹ rất khó, làm kẻ thù của Mỹ rất dễ…”. Bà con nhìn nhau ngầm hiểu là: số phận miền Nam đã cáo chung! Tôi quay người đi ra, bất chợt thấy một người đàn ông dáng dấp giống ông thầy năm lớp nhứt, - thầy Tôn Thất Đ…! Tôi kêu tên thầy, thầy quay lại ngơ ngác… - rồi dòng người quá đông chen lấn qua lại, chẳng còn thấy bóng dáng thầy…!
 
Tôi cũng như bao người lính và dân miền Nam, sau khi nghe “lệnh đầu hàng của tân tổng thống Dương văn Minh”. Nước mắt cứ trào ra tức tưởi…! Ngước lên trời - màu trời trong xanh lưa thưa một vài áng mây trắng bay ngang qua, ước chi được ngồi trên đám mây ấy. Không ai nói với ai lời nào, lặng lẽ ôm chút đồ đạt rời làng đại học, (chưa học một ngày nào) để trở vô Sai Gòn, hoặc tìm cách về quê. Tôi nghe người con gái tuổi khoảng đôi mươi nói với người thiếu phụ có lẽ là mẹ - "Thật nhục nhã! - Thua thật là nhục nhã!".
 
Từ làng đại học tôi cùng mọi người đi bộ về Sài Gòn… Đến Thủ Đức, tôi gặp các lớp tân binh trong trường bộ binh Thủ Đức, họ bỏ trường túa ra rất đông, đầu trần, họ bình tĩnh di chuyển ngay hàng bên phải, không vội vã… Trên người họ vẫn mặc đồng phục của quân trường. Những tân binh im lặng, lầm lì…, họ cũng đi về hướng Sài Gòn như chúng tôi. Từ nội ô Sài Gòn, trưa 30.4 dân chúng ào ạt dùng tất cả mọi phương tiện trở về quê. Người đi ra quá đông còn người đi vô như chúng tôi thì ít. Tôi đi tới đầu cầu Tân Cảng Sai Gòn nơi (Quân Cảng Hải quân VNCH). Tôi thấy ai đó phá kho dự trữ thực phẩm dưới chân cầu và mọi người dân nhào vô lấy đồ hộp,… Một bác xích lô đưa cho tôi một bình thủy tinh nước ép trái cây lớn. Một vài người dùng xe xích lô, chở “chiến lợi phẩm” ngược vào ngã tư Hàng Sanh, cộng với người và xe đi trở ra tạo nên cảnh kẹt xe không thể nào chen chân được. Không Cảnh Sát, người dân tự dàn xếp với nhau để mà đi, trên khuôn mặt nặng trĩu nỗi buồn pha chút hoang mang… Trên mặt cầu còn những vỏ đạn và vết máu…!
 
Tôi cũng chen lấn để qua cho khỏi cầu Tân Cảng Sai Gon, và đến được ngã tư Hàng Sanh. Tôi vô quán nước ngồi kêu nước uống và nghỉ chân. Ngồi nhìn quang cảnh dân chúng phá kho gạo... Họ nườm nượp đi khuân chở gạo, mặc cho trời nắng như thiêu. Lúc nầy, đối với họ nắng nôi đâu có gì là quan trọng đâu! Lo cho cái ăn là chính. Tôi kêu tính tiền. Tôi thấy một cặp có lẽ là vợ chồng, tóc đã hoa râm, mỗi người hai tay xách hai thùng tròn, khoảng một “gallon” chạy lại nhờ tôi xem những cái lon nầy có phải thức ăn hay không? Tôi nhìn trên lon ghi tiếng Anh. Tôi nói: - “Đó là thùng sơn màu trắng”. Họ không tin lời tôi nói, và cứ xách mấy thùng sơn đó lẫn theo dòng người…!
 
Trên đường phố Sai Gòn xe tăng quân miền Bắc phủ đầy cành cây rừng, trên pháo tháp, trên nòng pháo, trên nón và xung quanh lưng quần. Một số người ở trần, họ mặc quần dùi, họ cũng quấn lá quanh người, ngồi trên xe “motolova”. Một số ít dân chúng cầm cờ mặt trận “giải phóng miền Nam” tung hô, đông nhất là thanh thiếu niên đeo băng đỏ ngồi trên những xe deep vẫy cờ hoan hô… chiến thắng!
 
Sai Gòn lúc hỗn loạn, không còn ai kiểm soát, ai cũng có quyền lấy đi bất cứ thứ gì, miễn lấy được thì lấy...! Họ vào trong những nhà hàng, khách sạn… như chỗ không người. Bởi giờ nầy đâu có còn ai quản lý trông nom, tất cả đi tìm cho bản thân và gia đình một con đường thoát…! Văn hóa phẩm: Sách và những văn bản, băng đĩa vứt ra trắng đường…! Đường Yên Đỗ nơi có Thư Viện Đắc Lộ, đội đeo băng đỏ đem hết sách ở đây ném ra ngoài vỉa hè từng đống…! Những nhà sách khác cũng chịu hoàn cảnh tương tự. Sách anh văn, sách giáo khoa, bói toán, kiếm hiệp, tiểu thuyết, thơ, sách dịch, phim ảnh… đều vứt bỏ hết. Những tủ sách gia đình cũng bỏ ra đường, không ai dám lưu giữ, sợ bị qui cho cái tội “truyền bá văn hóa đồi trụy Mỹ Ngụy”. Tôi nhìn thấy bộ sách “Bộ Luật Hành Chánh”. Thèm lắm! Nhưng đành quay mặt…! Bản thân giờ nầy không còn hướng để đi thì sách đâu có còn ý nghĩa gì nữa đâu! Giao thông bát nháo, ai muốn chạy tới đâu thì chạy không theo quy tắc gì hết.
 
Những “chú bộ đội” nắm tay nhau đi từng tóp năm, tốp ba vì sợ thất lạc, có người mang giày (hình như mới kiếm được), nhìn chung hầu hết đều mang dép râu… Mấy chú ấy, ngơ ngáo, trầm trồ, chỉ chỏ… - họ chỉ nói chuyện với nhau và đi tìm mua đồng hồ đeo tay… Ở Sai Gòn, ngoài đồng hồ Seiko tự động của Nhật ra, thì đồng hồ Hồng Kông cũng tương tự, nhưng bị nhái, nên mới có câu: “Hồng Kông bên hông Chợ lớn” là vậy! Mấy chú bộ đội hầu hết bị mấy thanh niên chiêu dụ mua loại đồng hồ bên hông Chợ Lớn nầy.
 
Những cô gái có móng tay dài đều phải cắt cụt (?) son phấn, nước hoa cũng bỏ (!) Đồ dùng bằng inox cũng ném xuống cống (?). Ai ai cũng chờ xem “cách mạng sẽ đối đãi” như thế nào với người Sai Gòn! Một buổi chiều tháng năm, tôi đi trên đường Petrus Ký, đoạn gần đường Trần Hưng Đạo, tôi thấy người ta xúm nhau xem truyền hình… Tôi dừng lại xem thử, tôi thấy một O du kích mặc áo bà ba dẫn đoàn xe tank bộ đội vào giải phóng Sai Gòn. O du kích ngồi trên xe tank quấn khăn rằn quanh cổ, vai mang súng AK, cười - trông dáng cô rất oai phong… Tôi nghe nói là cô Nhíp nào đó - người con gái của đất Sài Gòn.
 
Tôi chạy xe ra ngã tư Trung Chánh, Hóc Môn… Thấy người dân ở đây thong dong đi lượm những bộ quần áo, giày nón của lính “ngụy” đem giặt rồi phơi trên hàng rào chung quanh vườn… Họ thản nhiên - cười giỡn như chưa hề có một cuộc “thay ngôi đổi chủ” với nỗi tang tóc bị ai còn đang diễn ra sờ sờ trước mắt… Tôi hỏi: - Không sợ cách mạng bắt sao…?. Một người phụ nữ trả lời tỉnh queo, rằng: -“Lượm giặt sạch để dành mặc đi lao động chứ - hơn nữa tôi cũng là người của cách mạng, tôi sợ chi…?”. Như vậy, là… chỉ có tôi sợ thôi! Tôi nhận thấy có những người già họ đi lượm mấy tấm ảnh, sách, băng nhạc kể cả cờ vàng…!
 
Tôi đến ngã năm và Quân Y Viện Cộng Hòa, ở đây những người thương bệnh binh đang tìm đường về quê, trên người còn bông băng… Nhiều người không có ai đón, hoặc ở xa đành phải ra - nằm ngồi ngoài đường xin ăn, xin tiền để tìm cách về nhà! Tôi thấy một người phụ nữ trẻ, đang ẵm một người thương phế binh ra chiếc xe xích lô, chẳng biết cô ấy đi về đâu…?! Thấy tình cảnh đau lòng… Tôi viết vội: “vợ tao ẵm tao như một đứa trẻ sơ sinh”, nhét vô túi áo. Và sau nầy tôi làm bài thơ “Tâm sự người thương phế binh” hoặc có tên khác là “Những người lính năm xưa”. Dân chúng Sai Gòn “háo hức” đổ xô đi dự lễ Lao Động một tháng năm và xem xe tank của bộ đội…!
 
Ngày nào phe ”cách mạng” cũng kêu gọi anh em “Nguy Quân, Ngụy Quyền” ra trình diện. Hai tuần sau, tôi lại “Ủy ban quân quản” tại tỉnh Gia Định cũ trình diện. Ở đây, họ cấp cho tôi một mảnh giấy nhỏ bằng bàn tay do ông Cao Đăng Chiếm ký tên. Họ bảo tôi về nhà chờ giấy báo đi học tập… Nhà (cha mẹ nuôi) của tôi ở bến Hàm Tử gần cổng sau Bịnh Viện Chợ Quán, phía bờ sông… Người nhà bảo tôi đi khuân gạch từ dưới ghe bầu lên bờ, kiếm chút tiền sống qua ngày... Một miếng ván dày, bề ngang chừng hai tấc - bắc từ thành ghe bầu lên bờ, chồng gạch cao tới cổ họng, đi không quen. Tôi bị trật chân rơi tõm xuống sông liên tục…!
 
Một hôm mẹ ruột bảo tôi về quê nhận đất để khỏi đi học tập. Tôi ra bến xe miền Đông ở Ngã Bảy xếp hàng chờ mua cho được cái vé... Nhưng tôi tìm hoài không thấy cái số xe ghi trong tấm vé. Tôi lơn tơn lại quầy vé nghía vô cái sổ phân “tuyến xe”… Ông già có khuôn mặt ốm, ngồi cạnh cái cuốn sổ. Ông ta nhìn tôi rồi đập bàn, quát: - “Anh có biết tôi là ai không? Sổ nầy là sổ gì không?”. Tôi trả lời rằng tôi không biết. Ông ta nói tiếp với vẻ mặt của kẻ đắc thắng: - “Tôi là cán bộ quản lý khu vực nầy, muốn gì thì phải hỏi tôi, không được dòm ngó lung tung…”. Dằn mặt tôi xong ông kéo trong hộc bàn ra cái “băng đỏ” đeo vào tay áo. Tôi im thin thít và nghĩ: Thì ra, ông nầy cũng là… “cách mạng 30.4”! Ông cán bộ, quên đeo cái “nhãn hiệu” - vậy là ổng chửi oan cho tôi… Từ đó, tôi tự nhắc nhở mình phải cẩn thận hơn!
Về quê được mấy hôm, tôi được mấy anh du kích xã lại mời tôi tới xã trình diện và khai lý lịch… Người lấy lời khai của tôi là một O du kích còn rất trẻ, cây súng lúc nào cũng kè kè bên hông của cô ấy. Tôi ngồi vắt chân, cô nói nhỏ: “… bỏ chân xuống...!”. Độ nửa tháng sau, tôi nghe trên loa xã kêu tên tôi và cho biết hãy chuẩn bị tiền ăn - mười một nghìn sáu trăm đồng (11.600$) và quần áo, xuống xã để đưa tới nơi học tập trong vòng 20 ngày. Tôi nghĩ “chỉ “hai mươi ngày” rồi về nhà thôi”. Vậy mà, hơn bảy năm trôi qua trong tù tội... Tôi còn may mắn hơn những chiến hữu khác là Chúa giữ cái thân tôi cho các em, cho mẹ tôi! Tôi cảm ơn các em và mẹ đã “thăm & nuôi” tôi - nuôi một thằng “con nít” mới ngoài hai mươi bốn tuổi đầu!
 
Tôi khâm phục và biết ơn những người phụ nữ. Họ là người “lính hậu phương” không số quân trong thời chiến. Ngày “hòa bình”, một mình nai lưng làm lụng để nuôi con, nuôi chồng trong tù… Chưa kể trên đầu họ và con cái của họ còn phải mang cái “lý lịch gia đình Ngụy” và mất hết quyền lợi…! Ai, ai là người vinh danh hay gắn huy chương cho họ đây?!
 
Cuộc chiến đã im tiếng súng gần nửa thế kỷ, những người thất bại chừ họ cũng đã chết, không còn lại bao nhiêu, mà có còn sống thì cũng đã “sương trắng miền quê ngoại”, lang thang tìm kế sinh nhai trong mọi ngõ ngách trên quê mẹ Việt Nam và lang bạc khắp nơi trên thế giới...! Những người thất bại còn mang trong thân thể vết thương chiến tranh, hay bị mất đi một phần thân thể … Cho dù có lành sẹo thì cũng dễ bung ra một khi - đọc một bài báo, một câu nói hay một cái nhìn không mấy thiện cảm của mọi người “bên thắng trận”! Gần nửa thế kỷ đi qua… Vậy mà…, thương thay - vẫn nhìn nhau bằng mặt chứ không bằng lòng… Chuyện lịch sử vẫn còn y nguyên đó - làm sao mà quên - có kẻ khuyên hãy quên quá khứ… Quá khứ định hình cho tương lai… làm sao mà quên đây? 
 
Người Mỹ có câu nói “Tôi tha thứ, nhưng tôi không quên”. Đúng, kẻ đó khuyên người khác quên vì họ không mất thời gian ở tù… Vua Văn Vương đi tù bảy năm ở Dĩu Lý. Ông cũng cũng đâu có quên những tháng năm tù đày đâu! Ông để lại câu nói truyền tụng tới mấy ngàn năm nay chưa bao giờ mất giá trị “Nhứt nhựt tại tù thiên thu tại ngoại hề”. Tôi mượn hai câu đối của ông Nguyễn Hữu Đang (1913 – 2007) trong “nhóm nhân văn giai phẩm”, để tạm kết thúc.
 
-”Nào công, nào tội, nào nhục, nào vinh, thương số phận Khuất Nguyên, Nguyễn Trãi.
-Vận nước, vận nhà, biết thời, biết thế,, quý cuộc đời Nguyễn Trãi, Trương Lương.”. (Nguyễn Hữu Đang).
Trang Y Hạ (Trần Phước Hân).
 
Viết tại San Francisco – 24.4.2020.

Bài văn lưu trong trang website của tác giả & đăng trong website văn học huongduongtxd. (...)
Lời Gió Mưa:
Tướng George Patton. "Xin Chúa thương xót kẻ thù của chúng con, vì con sẽ không thương xót họ."
“Nếu đất nước Hoa Kỳ mất tự do, chúng ta sẽ khộng còn một nơi nào trên trái đất để chạy trốn”. (Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan).
Trang Y Hạ (Sưu Tầm)

Tuesday, April 28, 2026

MỘT ĐỜI : HAI LẦN TỴ NẠN ! (THIÊN KIM)

 


Tưởng Nhớ 51 Năm Quốc Hận: MỘT ĐỜI : HAI LẦN TỴ NẠN ! Thiên Kim





MỘT ĐỜI : HAI LẦN TỴ NẠN !

Thiên Kim

Đời Người phải có Tự Do

Trời ban cho những ấm no, nhân quyền

Hưởng bao hạnh phúc triền miên

Nhưng ta phải giữ tâm tuyền, thiện nhân...

- Chúng ta người Việt gian truân

Bao đời sóng gió, nhiều lần nổi trôi !

Nước ta xinh xắn, đẹp tươi

Nước lớn ngắm nghé muốn "xơi" nước mình

- Nhưng đâu phải dễ, mà khinh?

Việt Nam anh dũng, uy linh bao đời

Gươm thiêng sáng chói, rạng ngời

Hồn thiêng sông núi, ngàn đời trung kiên!

- Một thời nước Việt đảo điên?

Theo đảng Cộng sản chuyên quyền, ác tâm!

Những người ngu xuẩn tâm thần

Chọn ngọn cờ đỏ,  đâm xầm quê hương!

- Toàn dân đã quá chán chường          

Chết chóc, đấu tố, mười phương đọa đầy...

Toàn dân đói khát, từ đây

Quê hương: ngục thất,  bạo quyền: bất lương!!!

- Trời sầu đất thảm, tai ương

Quê hương nước Việt:  Trăm đường tối tăm

Hơn triệu dân đã hờn căm

Bỏ quê Cha,  đến miền Nam đất lành!

- Đi theo lãnh tụ hùng anh

Ngài Ngô Đình Diệm chân thành,  quyết tâm

Miền Nam tiếp đón ân cần...

Bao người Tị nạn Bắc phần đau thương!

- Cuộc sống đất mới thay chương

Cộng Hòa những  ánh hào quang sáng ngời

Văn hóa, đạo đức tuyệt vời

Nhân quyền,  hạnh phúc muôn người chung lo...

- Hơn hai mươi năm Tự Do

Cuôc sống sung túc, ấm no chan hòa

Hậu phương- Tiền tuyến rực hoa

Cờ Vàng phất phới! Quân ta lẫy lừng!

- Cuộc đời lại có chữ :  "Nhưng"...

Đồng minh phản bội,  lưng chừng cuộc đua

Thế rồi, cuộc chiến phải thua!

Thế rồi súng gẫy, còn đâu chiến trường?

- Phía kia, cộng sản tăng cường

Viện trợ vũ khí, tăng đoàn quân nhân

Lính ta đành phải rút quân!

Thắng thua, đành chịu, còn đâu trông chờ?

- Cộng sản chiến thắng bất ngờ

Ta thua đau đớn,  ngỡ  hờ chiêm bao?

Ôi  thôi!  Đành phải lao đao

Đành xa quê Mẹ, tìm vào biển Đông

-  Hai lần tị nạn...  Thoát gông!

Tránh xa cộng sản !   Tìm vùng Tự Do

Cùng Cha Mẹ xa quê Bắc đó... (1954)

Di tản lần hai, phải bỏ  Quê hương! (1975)

-  Tìm Tự Do sống tha phương

Quê hương thứ hai, phải thương,  phải nợ...

Dân Việt trồng hoa vàng dân chủ!

Cùng lá Hoàng kỳ, ấp ủ ước mơ..


Thiên Kim - Tháng Tư 2026


THÁNG BA GÃY SÚNG, THÁNG TƯ TAN HÀNG: NÉN HƯƠNG THẮP MUỘN (NGUYỄN THIẾU NHẪN)

 



THÁNG BA GÃY SÚNG, THÁNG TƯ TAN HÀNG: NÉN HƯƠNG THẮP MUỘN

NGUYỄN THIẾU NHẪN


“Tuổi đã hoàng hôn tội vẫn đầy

Lòng vì non nước ngục trung quây

Bệnh vương màu chết tù đày đọa

Đèn đốt bao đông đã cạn dầu

Ba mấy năm trường vì nghĩa tận

Bước trên gai thép vẫn chân trần

Một lần thác đoạn muôn vàn oán

Một kiếp oan khiên chí trả đầy”

(thơ của Sở Không)


Trong cuộc chiến Việt Nam vừa qua, một trong những tờ báo mà người Việt Quốc Gia miền Nam hết sức căm ghét là tờ l’Express của Pháp. Trong cuộc chiến tranh tự vệ của quân dân miền Nam chống lại cuộc xâm lăng của Cộng sản miền bắc, tờ báo này đã gây ra không biết bao nhiêu thiệt hại cho phía những người Quốc Gia. Tờ báo này đã gây ra không biết bao nhiêu thiệt hại cho phía những người Quốc Gia. Tờ báo này qua tay bỉnh bút thiên tả nặng ký Oliver Todd đã ra rả tung hô Hồ Chí Minh, đã bỏ công lặn lội vào các vùng do Cộng sản

kiểm soát ở miền Nam và ca tụng, thần thánh hóa những cán binh Cộng Sản như những anh hùng của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau tháng Tư năm 1975, sự thật đã làm Olivier Todd mở mắt. Tháng 6-1978, tuần báo l’Express đã đăng một bài mang tựa đề “Le Goulag Indochinois” (tạm dịch Đông Dương: Quần đảo Ngục Tù). Đây là một bài viết chứng minh sự phản tỉnh

hoàn toàn của Oliver Todd.

Trong bài viết, ký giả phản tỉnh Oliver Todd đã nhắc tới một lời phát biểu của văn hào Nga lưu vong Solzhenitsyn. Trong cơn hấp hối của miền Nam, đoán trước sự chiến thắng của Cộng sản và những gì họ sẽ làm trong tương lai ở Việt Nam, ngày 11 tháng Tư năm 1975,

văn hào người Nga này đã gửi đến thế giới một thông điệp vắn tắt: “Toàn thể nước Việt Nam sẽ trở thành một trại tập trung.” Lời tiên đoán này đã trở thành sự thật.

Tiếp theo đó, Oliver Todd còn viết nhiều bài vạch trần những mặt trái của xã hội Cộng sản mà bấy lâu nay được che lấp bởi hào quang và huyền thoại. Một trong những tác phẩm của Todd là quyển “Cruel Avril 1975: La Chute de Saigon” (tạm dịch Tháng Tư Đen 1975: Sự

sụp đổ của Sàigòn) để tưởng niệm và tôn vinh một người Việt Nam mà ông đã có dịp gặp gỡ:

Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Paris Trần Văn Bá.

Có lẽ mọi người còn nhớ, Trần Văn Bá là con của cố Dân biểu Trần Văn Văn, du học tại Pháp từ trước 1975 và giữ chức Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Việt Nam tại Paris. Trong những ngày cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Pháp lúc ấy

là Nguyễn Duy Quang đang chuẩn bị bàn giao Đại sứ quán VNCH tại Paris cho đại diện Ngoại giao của Cộng sản và không thiêu hủy các hồ sơ mật. Chính Trần Văn Bá đã cùng các sinh viên trong Tổng hội Sinh viên Việt Nam trèo lên tầng lầu chứa các hồ sơ và tiêu hủy các

hồ sơ đó. Ai đã từng theo dõi cuộc đấu tranh chống Cộng của người Việt tại Pháp trong giai đoạn 1975-1980 chắc hẳn không ai mà không biết Trần Văn Bá, một trong những người lãnh đạo chủ chốt.

Cùng với các ông Lê Quốc Túy, Mai Văn Hạnh (đồng Chủ tịch Mặt trận Thống nhất các Lực lượng Yêu nước Giải phóng Việt Nam), Trần Văn Bá trở thành một trong những bộ óc lãnh đạo của tổ chức kháng chiến này.

Ngày 6 tháng 6 năm 1980, sau năm năm chuẩn bị và trăn trở suy nghĩ, chán ngán các trò tranh đấu chống Cộng bằng những cuộc thảo luận tại những phòng khách sang trọng ở các thành phố, thủ đô pháp, Mỹ, Trần Văn Bá bay sang Thái Lan. Dưới bí danh C.4 trong tổ chức, anh đã góp phần tuyển mộ, tổ chức, huấn luyện cho các chiến sĩ kháng chiến, chuẩn bị xâm nhập quốc nội.

Kỷ niệm hai năm ngày rời Paris, từ vùng hoạt động, anh gửi ra ngoài một lá thư, có đoạn viết: “Tôi vẫn mạnh khoẻ. Thật là gay go và cực khổ. Nhưng tôi cảm thấy được sự liên đới mật thiết giữa tôi với quê hương nghèo khổ, bất hạnh và đói khát. Công cuộc giải phóng đất

nước, chủ yếu sẽ là công trình của những người kháng chiến quốc nội, chứ không phải của các chính trị gia lưu vong.” (do tác giả bài này in đậm).

Trong những ngày anh còn ở Thái Lan, ông Trần Văn Tòng, anh ruột của anh (sau này là Chủ tịch Ủy ban Quốc tế Trần Văn Bá, trụ sở ở Paris) đã đến thăm và đã được anh tâm sự:

“Quả thật là em đang làm cái chuyện đội đá vá trời.”

Và rồi, từ giã C.1 (bí danh của ông Lê Quốc Túy) anh cùng C.2 (bí danh của ông Mai Văn Hạnh) và một số chiến hữu khác mang vũ khí, đạn dược, phương tiện liên lạc xâm nhập quốc nội.

Sa cơ, anh và ông Mai Văn Hạnh cùng một số chiến hữu cùng xâm nhập và một số chiến hữu cơ sở quốc nội bị Cộng sản bắt. Bạo quyền Hà Nội đã mở một phiên tòa hát bội, được quảng cáo rùm beng ngày 19-12-1984 tại Nhà hát Thành phố Sàigòn để xử anh cùng 21 chiến hữu khác trong tổ chức. Phiên tòa này, thực chất chỉ là một cuộc trình diễn hình thức và đọc lên các phán quyết đã được định trước: 5 án tử hình dành cho các ông Mai Văn Hạnh, Trần Văn Bá, giáo sư Hồ Thái Bạch, Huỳnh Vĩnh Sanh và Lê Quốc Quân (em của ông Lê Quốc Túy). Trước phiên tòa, Trần Văn Bá đã giữ trọn vẹn khí phách của một chiến sĩ Quốc Gia can trường. Mặc dù theo luật, các tử tội có thể xin ân xá, nhưng anh đã thẳng thừng từ chối.

Trong số những người từ bên ngoài xâm nhập Việt Nam để hoạt động, có hai người lãnh án tử hình là Trần Văn Bá và Mai Văn Hạnh. Ba người còn lại thuộc cơ sở quốc nội. Trong những người này, chỉ có ông Mai Văn Hạnh là thoát khỏi mũi súng của đội hành quyết. Là công dân Pháp, ông được chính phủ Pháp tích cực can thiệp và đã được thả về Pháp sau nhiều năm tù. Trần Văn Bá và các chiến hữu khác đã lần lượt đền nợ nước trong năm 1985. Trong phiên tòa, một cán bộ cao cấp của Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, đóng vai trò công tố viên, đã lồng lộn quy kết cho Trần Văn Bá và các chiến hữu của anh những tội danh nặng nề nhất. Đồng thời cũng lên án các “thế lực phản động quốc tế, bọn bành trướng Bắc Kinh, quân phiệt Thái Lan” đã tiếp tay hỗ trợ cho Mặt trận Thống nhất các Lực lượng Yêu nước Giải phóng Việt Nam. Đặc biệt Hà Nội đã tố cáo đích danh Tình báo Lục quân Thái Lan do Tướng Yongchai, Tham mưu trưởng Lục quân Thái lan vào lúc đó chỉ huy đã tận tình giúp đỡ tổ chức này. Youngchai sau này trở thành Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Thái Lan và đã qua thăm Việt Nam. Anh Trần Văn Bá đã chết. Ba mươi năm sáu đã trôi qua. Oliver Todd đã đặt câu hỏi: “Cũng như những người kháng chiến vô danh khác, Trần Văn Bá là người của lý tưởng hay thực tế, can đảm hay mạo hiểm? Anh là một anh hùng gương mẫu hay là một kẻ tuẫn đạo vô ích? Cuộc đấu tranh mà anh Bá theo đuổi là một cái gì đó mơ hồ, tuyệt vọng hay một thách đố xứng đáng để chúng ta kính phục, thông cảm và ủng hộ?” Đối với người Việt Nam chúng ta, có lẽ không cần thiết phải đặt ra một câu hỏi như vậy. Rõ ràng anh Trần Văn Bá là một người tranh đấu vừa lý tưởng vừa thực tế, can trường và dám mạo hiểm. Anh là một anh hùng gương mẫu và là một kẻ tuẫn đạo, và con đường anh đã theo đuổi, cuộc đấu tranh của anh là một thách đố hết sức xứng đáng để chúng ta kính phục và hết lòng biết ơn.

*

Cách đây 9 năm, ngày 12 tháng 7 năm 2010, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã tạm trả tự do cho tù nhân Trương Văn Sương đang bị giam giữ tại trại giam Ba Sao, Nam Hà. Là một cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, Trung uý Trương Văn Sương đã bị tù “cải tạo”

tại Quảng Bình trong 6 năm (từ năm 1975 đến 1981). Ra tù, vượt biên đến Thái Lan và gia nhập lực lượng do các ông Trần Văn Bá, Mai Văn Hạnh, Lê Quốc Tuý thành lập với mục đích xâm nhập Việt Nam và lật đổ chế độ Hà Nội. Trương Văn Sương là 1 trong số 21 người bị tù giam trong phiên tòa hát bội vào ngày 19-12-1984 tại Nhà hát Thành phố Sàigòn.

Sau 33 năm bị giam cầm, ngày 12 tháng 7 năm 2010 vì đau ốm liên miên, cựu Trung uý Trương Văn Sương đã được trại giam Nam Hà tạm tha 1 năm về nhà để chữa bệnh . Trả lời phỏng vấn của một tờ báo ở hải ngoại, nhà tranh đấu dân chủ Nguyễn Khắc Toàn ở trong nước là người đã có thời gian ở tù chung với ông Trương Văn Sương đã xưng tụng ông này như là “một Nelson Mandela của Việt Nam”.

Đến ngày 19-8-2011, ông Trương Văn Sương đã bị áp giải đến trại giam Nam Hà để tiếp tục thi hành án. Người tù tranh đấu cho tự do, dân chủ cho đất nước đã qua đời chỉ 25 ngày sau khi trở lại vòng lao lý.

*

“Chao ôi! Tôi chợt tầm thường

Tình không đủ khói e buồn lòng mây!”

(thơ Trần Như Liên Phượng)

Bài viết này xin được coi như một nén hương thắp muộn gửi đến hương hồn người anh hùng tuẫn quốc Trương Văn Sươn

Chết vì nước là sống mãi với thiên thu!

Cũng như anh hùng Trần Văn Bá, cái chết của cố Trung úy QLVNCH Trương Văn Sương mãi mãi sẽ là ngọn đuốc soi đường cho công cuộc tranh đấu giành lại tự do, dân chủ và nhân quyền cho 90 triệu đồng bào trong nước và 3 triệu người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại.

NGUYỄN THIẾU NHẪN

TÂM TÌNH NGƯỜI VONG QUỐC (THƠ- NGÔ MINH HẰNG)

 


Trích thi tập Tiếng Gọi Núi Sông - 2021

TÂM TÌNH 
NGƯỜI VONG QUỐC

Thân mến gởi về quê hương và đồng bào Việt Nam, mọi lứa tuổi, trên toàn thế giới.




Mới hơn ba chục mùa xuân
Mà đau thương đến hai lần mất quê! 
Ra đi không hẹn ngày về
Nỗi sầu ly biệt tái tê tấc lòng... 
Ai đem Bến Hải một dòng
Cắt làm hai để non sông lệ tràn!? 
Năm Tư máu thịt lìa tan (1)
Xót xa, tôi bỏ xóm làng, tuổi thơ 
Rồi nhìn Mẹ khóc, tôi mơ
Tuốt gươm chính nghĩa nối bờ Hiền Lương 
Để dòng Bến Hải yêu thương
Không còn là mốc chiến trường Bắc - Nam

Hiền Lương chưa giải hờn oan 
Sài Gòn giặc lại tham tàn cướp đi!

Bốn vùng ngút lửa âm ti
Để trang hùng sử sầu bi, bẽ bàng 
Bảy Lăm (2) mất nốt miền Nam
Vào tay giặc cộng dã man, bạo cường
Bỏ quê, tôi vượt đại dương
Giữa bao nhiêu nỗi đoạn trường đầy vơi!
 
Mới hơn ba chục tuổi đời
Mất quê hai lượt, rã rời hồn xuân 
Mong đời xuất hiện chính nhân 
Trung kiên, vì nước, vì dân, một lòng 
Đem tài chuyển núi dời sông
Để đưa dân tộc thoát vòng đau thương 
Đập tan lừa mị thiên đường
Việt Nam, dựng lại quê hương huy hoàng!

Ngày mai, dưới bóng Cờ Vàng
Sạch hờn vong quốc, về làng thăm quê... 


Ngô Minh Hằng
21.6.2006
Ngày 20/7/1954 VC chia đôi Nam Bắc tại vĩ tuyến17.
Ngày 30/4/1975 CSBV cưỡng chiếm miền Nam VN.

Inline image
Inline image