SÀI GÒN ƠI!... LÝ THỤY Ý
LÝ THỤY Ý
LÝ THỤY Ý
THƯỚC ĐO LÒNG CHUNG THỦY
Người ta thường đo lòng chung thủy bằng nước mắt.
Người ngoài khi nhìn thấy ai khóc nhiều hơn trong đám tang của người bạn đời,
người đó được xem là yêu sâu, thương đậm.
Nhưng đi qua vài câu chuyện đời thường, tôi chợt
hiểu: NƯỚC MẮT CHƯA BAO GIỜ LÀ THƯỚC ĐO CHÍNH XÁC NHẤT TRONG TÌNH YÊU.
Hai cuộc hôn nhân tôi từng chứng kiến, hai cái
chết và hai cách chọn sống tiếp của người ở lại. Tôi hiểu ra rằng, độ dày của
chung thủy không nằm ở phút tiễn biệt, mà nằm ở quãng đời còn lại sau đó.
Mùng Năm Tết.
Buổi sáng hôm ấy, anh còn năn nỉ vợ quay mặt lại
cho mình hôn một cái trước khi đi làm.
“Thôi mà cưng, em đừng giận anh nữa. Quay ra đây
cho anh hôn một cái rồi anh đi làm coi nè.”
Chị vẫn dỗi hờn mát
“Anh muốn đi đâu thì đi. Tui không cần một con
người bạc bẽo như anh!”
Vẫn những tưởng còn rất nhiều thời gian dành cho
nhau nên anh đứng dậy chỉnh đốn lại tác phong rồi dặn thêm chị rằng:
“Nếu em đi chùa về mà không thấy anh thì qua nội
đón bé Nị về nhé!" Ngày đầu năm có khi anh lai rai với ly với bạn bè rồi
anh mới về"
Đâu có ai ngờ, đó là đoạn hội thoại cuối cùng của
hai vợ chồng.
Chiều hôm ấy, trên đường từ chùa về, chị gặp tai nạn
và ra đi đột ngột.
Anh đau đớn như phát dại. Khóc vật vã, quằn quại,
đến ngày đưa tang còn nhảy xuống huyệt mộ đòi chết theo chị. Đứa con gái chưa đầy
bảy tuổi ôm chặt quan tài của mẹ, khóc đến khản giọng không chịu buông tay.
Nhìn cảnh ấy, ai cũng xót xa cho anh thương vợ mình đến tận cùng.
Tôi cũng đã nghĩ như vậy. Nhưng hóa ra, có những
giọt nước mắt chỉ đủ ướt một đám tang.
Chưa đầy một tháng sau ngày chị mất, anh đã đưa
về nhà một người phụ nữ khác. Dù không nói cười vui vẻ Nhưng người đàn bà ấy
sinh hoạt ăn cơm bằng nồi ơ xoang chảo chén bát của chị, ngủ trên chiếc giường
còn vương hơi ấm, đi lại trong căn nhà chị từng chút một vun vén, nằm trong
vòng tay của người đàn ông vừa mới hôm qua còn gào khóc đòi chết theo vợ.
Thì ra anh đã có người phụ nữ khác từ trước, chị
phát hiện nên hai người cự cãi nhau ỏm tỏi cả cái tết.
Tôi không biết phải đặt tên cho cảm giác của
mình lúc đó là gì. Chỉ thấy trong lòng chới với như vừa nhìn thấy một điều gì
đó sụp đổ. Không phải ngôi nhà. Không phải cuộc hôn nhân. Mà là niềm tin ngỡ
như vững chắc vào những lời yêu nghe rất cảm động ở một cái đám tang.
Người lớn có thể tự dỗ dành rằng người sống phải
sống tiếp thôi. Nhưng còn đứa con gái nhỏ kia thì sao?
Nó vừa mất mẹ khi chưa kịp lớn. Còn phải chứng
kiến mẹ mình bị thay thế bằng một người phụ nữ khác quá nhanh trong chính căn
nhà cũ. Nó bị đưa về ở với bà nội, mang theo một vết xước sâu hoắm trong tim
không thể nào phai theo năm tháng.
Có những đứa trẻ lớn lên không phải bằng tuổi
tác, mà bằng sự tổn thương như vậy đó.
Ở một câu chuyện khác.
Một gia đình khác. Một cái chết khác. Và một người
đàn bà ở lại theo một cách hoàn toàn khác.
Ngày anh mất vì tai nạn trên đường đi làm,
chị không gào khóc. Không ngất lịm và tuyệt nhiên không một giọt nước mắt rơi.
Chị chỉ lặng lẽ ngồi bên anh, lấy lược chải tóc
cho anh, lau mặt cắt móng tay móng chân cho anh, còn tự tay thay quần áo và thắt
lại chiếc cà vạt thật ngay ngắn. Ai muốn phụ, chị cũng lắc đầu. Chị nói tỉnh
khô là để chị làm.
Người ta xì xào sau lưng chị. Nói chị lạnh lùng,
vợ gì mà chồng chết không rơi nổi một giọt nước mắt.
Nhưng tôi hiểu.
Không phải chị không đau, mà vì nỗi đau quá lớn
đã làm chị tê dại. Chị vẫn chưa tin anh đã thật sự rời đi. Chị vẫn chăm anh như
một thói quen, như thể là chốc lát nữa thôi anh sẽ mở mắt ra, ngồi dậy, cười hiền
rồi bảo chị đừng lo.
Mãi đến lúc người ta hạ huyệt, chị mới thét lên
một tiếng xé lòng rồi ngất lịm giữa trời trưa oi bức.
Tiếng thét ấy, với tôi, còn đau hơn mọi tiếng khóc
vật vã mà tôi từng nghe.
Sau đám tang, chị sống những tháng ngày tối tăm
nhất đời mình. Nhưng thời gian, con cái, cơm áo và trách nhiệm kéo chị vực dậy.
Chị vẫn sống, vẫn đi qua cuộc đời này bằng dáng
vẻ hiên ngang, nhưng chị không còn là người phụ nữ của ngày xưa nữa.
Từ ngày anh mất, tôi chưa từng thấy lại nụ cười
từng sáng bừng khi thấy anh đi làm về trong đôi mắt của chị.
Chị vẫn đẹp, vẫn dịu dàng nhưng đôi mắt lại
toát lên vẽ kiên định mạnh mẽ, người đàn ông nào muốn ve vãn chị khi nhìn vào
đôi mắt ấy đều nhận thấy được rằng: - xin lỗi tôi không phải là người phụ nữ để
anh tìm hiểu.
Cho đến tận bây giờ, chị vẫn một mình.
Người ta hay hỏi chung thủy là gì.
Theo tôi, chung thủy không nằm ở việc một người
khóc lớn đến đâu trong ngày tiễn biệt. Cũng không nằm ở những lời thề thốt lúc
sinh ly.
Chung thủy nằm ở quãng đời sau đó.
Là khi đám đã tan, trống kèn đã dứt, nhang trên
bàn thờ không còn nghi ngút khói, nước mắt đã khô chỉ còn người ở lại đối diện
với chiếc giường trống, với cái chén cái ly, với những thói quen cũ không biết
cất vào đâu thì lúc đó mới biết lòng người sâu hay cạn.
Nếu phải chọn một thước đo cho lòng chung thủy,
tôi sẽ không chọn nước mắt.
Tôi chọn thời gian vì thời gian chưa làm cho tôi
phải thất vọng điều gì ở bản thân.
Thời gian là thứ công bằng nhất. Nó bóc tách lớp cảm
xúc nhất thời, phơi bày tận cùng bản chất của một con người, và trả lại nguyên
hình cho mọi lời yêu từng nói.
Vậy thế cho nên thời gian chưa bao giờ nói dối một
ai cả.
Vậy là ta đã xa nhau
Lòng buồn hun hút đêm sầu mông lung.
Tim trao nhưng nhịp chẳng cùng
Nghe tình rụng cánh bên vùng yêu thương.
Hợp tan đau xót lẽ thường
Nguồn yêu chợt tắt, vô phương tìm về.
Mộng lòng chưa thoát u mê
Một vùng quạnh quẽ, lời thề khuất xa.
Trần gian nào phải riêng ta
Còn nhau xin giữ...
....gọi là....
.....tin yêu....
Mộc Lan
| KIM LOAN (TÁC GIẢ) |
Một mùa hè của những năm trước, trong chuyến thăm gia
đình ở Arlington, Texas, tôi theo chị tôi đi chợ Hongkong. Đang loay hoay lựa
trái mít, có một chú người Việt Nam đứng bên hàng rau quả nhìn tôi chằm chằm,
rồi tiến lại phía tôi:
-
Cô là cô Loan, ngày xưa ở trại tỵ nạn Thailand ?
Tôi nhìn chú, không ngạc nhiên lắm, vì ở Mỹ hay Canada,
thỉnh thoảng tôi cũng có gặp lại người tỵ nạn ngày xưa, rồi nhận ra nhau sau
thời gian dài xa cách. Giống như những lần khác, khi không nhớ ra người đối
diện, tôi vẫn mỉm cười:
- Dạ, đúng rồi chú! Chú tên
gì, ở khu nào, nhà nào?
Chú nhoẻn miệng cười:
-
Vậy là cô không nhận ta tôi rồi! Tôi là Hiếu, ở lô E cạnh lô D của cô, có lần
cô và mấy cô bạn chung nhà nhờ tôi đến bít cái ổ chuột trong góc nhà cô đó!
- Ôi, con nhớ ra rồi,
chú Hiếu “handy man” thường giúp đỡ bà con những chuyện “nhà cửa” trại tỵ nạn
đây mà! Chú thứ lỗi cho con, lâu quá rồi, con chẳng nhớ rõ…
Chú Hiếu cười xoà, dễ chịu:
- Cô không nhớ tôi là
chuyện đương nhiên, nhưng chắc chắn là nhiều dân S1 Panatnikhom phải nhớ cô, vì
cô phát thư trên bưu điện mà. Dù quen hay không quen, dù thương hay không
thương cô, ở trại ai cũng đều phải lên đó… nhìn mặt cô hết á!
Tôi cười lớn:
- Cám ơn chú đã nhớ… cái
mặt của con, nhà chú ở Arlington này hả?
- Không, tôi ở Houston,
xuống đây chơi với gia đình em vợ, họ đang lựa catfish trong kia, cô có rảnh
thì nói chuyện với tôi chút nhe, mà cô định cư ở đây hồi nào đến giờ?
- Con ở Canada chú ơi,
nhưng gia đình, họ hàng con bên đây đông lắm. Còn chú, con nhớ là hồi đó chú
rớt thanh lọc, vậy chú qua Mỹ diện gì, qua lâu chưa?
Chú gật gù:
- Gia đình tôi qua
đây theo diện ROVR. (Resetlement Opportunity For Vietnamese Returnees) đó
cô! Phải nói là phước đức ông bà để lại, nên gia đình tôi may mắn,
đăng ký hồi hương theo lời kêu gọi của phái đoàn Mỹ.
Rồi chú kể, những ngày tháng ở trại nặng nề, u tối, khi
mà tất cả người rớt thanh lọc cương quyết bám trụ, chiến đấu chống cưỡng bách
hồi hương, với khẩu hiệu “Tự do hay là chết!”. Khoảng giữa năm 1994, phái đoàn
Mỹ vào trại, nói chuyện với mọi người với những câu “chơi chữ” rất thấm thía và
cảm thông: “ Chúng tôi biết quý vị đã bỏ quê hương qua trại tỵ nạn, sẵn sàng
MẤT tất cả vì hai chữ tự do, và nay kiên quyết không hồi hương vì sợ MẤT mặt!
Chúng tôi xin hứa, nếu quý vị trở về trong giai đoạn này, chúng tôi sẽ giúp quý
vị định cư ở Hoa Kỳ”.
Nhưng lúc ấy, nhiều người còn nghi ngờ thiện chí của
Mỹ, sợ rằng đó chỉ là chiêu bài giúp Cao Uỷ dẹp trại tỵ nạn, nên không phải ai
cũng lên đăng ký hồi hương, và nhiều người tuyên bố ở lại đấu tranh cho đến
cùng.
Tôi hỏi chú Hiếu:
- Vậy là chú về đúng thời
điểm phái đoàn Mỹ yêu cầu?
- Lúc đó tôi hoang mang dữ
lắm. Vợ tôi cũng nản, bả nói tội cho ba đứa con tuổi ăn tuổi lớn, sẽ ở trại cho
tới bao giờ, trong khi người ta rỉ tai nhau, biểu đừng hồi hương, coi chừng mắc
bẫy. Cuối cùng, tôi quyết định, phải liều lần nữa, nghe lời phái đoàn Mỹ, đi
về, nếu may mắn thì được đi, còn không thì trở lại như hồi chưa vượt biên, tới
đâu hay tới đó.
- Và chú đã gặp may!
Chú Hiếu mắt lấp lánh vui:
- Quả thật, Mỹ nói là
Mỹ làm cô ạ, chớ không tráo trở lật lọng như bọn cộng sản Việt Nam, nói một
đằng làm một nẻo. Mỹ đã kêu phỏng vấn tất cả những người ra về trong dịp này,
có người qua trại một mình, về nhà được kéo theo cả vợ con đi luôn, sướng thiệt
là sướng. Nhiều người về trước thời hạn hoặc sau thời hạn, nghe tin cũng kéo
lên xin đi, mà Mỹ dứt khoát không cho. Mỹ là thế đấy, hứa là làm, và làm thì
đúng luật, trước một ngày và sau một ngày cũng phải chịu thua.
Tôi cũng vui lây:
- Con cũng chúc mừng gia
đình chú đã đạt được ước mơ. Giờ cuộc sống gia đình chú ổn không?
- Không phải ổn mà là
rất ổn. Hồi mới qua, vợ chồng tôi về vùng Liberal, Kansas làm hãng thịt bò, rồi
dọn về Houston để tiện cho con cái học hành. Nói để cô mừng, các con tôi hai
đứa tốt nghiệp Cao Đẳng, đứa xong Đại Học, lập gia đình đuề huề, nhà cửa công
việc êm xuôi. Nói thiệt, tôi mang ơn nước Mỹ vô vàn, vì nếu còn kẹt lại Việt
Nam, thì đến đời con đời cháu tui cũng còn chưa thoát nghèo đói, bất công. Gia
đình tôi đúng là từ địa ngục đã được chính phủ Mỹ đưa lên thiên đàng.
Tôi nghe chú nói mà hưng phấn theo từng lời của chú.
Tôi chưa gặp ai tỏ lòng tri ân quê hương thứ hai của mình một cách tràn đầy,
hãnh diện như chú. Nhân tiện vài ngày sau đó vợ chồng tôi đi New Orleans,
Louisiana sẽ ghé qua Houston, chú mời chúng tôi đến thăm nhà, rồi đãi bữa
buffet Việt tại nhà hàng Kim Sơn .
Từ đó, tôi và chú giữ liên lạc qua phone, thỉnh thoảng
nhắn tin qua lại, chúc mừng những dịp lễ lớn trong năm như Thanksviving, Giáng
Sinh, Tết Ta.
Vậy mà mới tuần qua, chú Hiếu bỗng phone cho tôi:
- Cô
Loan có đang xem World Cup không, tôi cứ tưởng cô sẽ bay qua Texas để xem cùng
gia đình chớ! Kỳ này ba nước Bắc Mỹ tổ chức chung, nhưng đa số các trận đều ở
bên Mỹ, hay là cô tính xem bên Canada ủng hộ đội nhà?
- Dạ tụi
con cũng đã từng dự định xem cả bên Mỹ và Canada luôn đó, nhưng phút cuối có
việc đột xuất nên không qua đó chú ơi!
- Tôi
nhớ ở trại cô mê World Cup, đêm nào cũng đi xem, mùa World Cup Italy 1990, cô
còn nhớ không?
- Làm
sao con quên được, hầu như đêm nào nhóm tụi con cũng đi xem, có khi xem cả hai
trận, đến 4 giờ sáng, về ngủ được vài tiếng phải dậy đi làm, rồi cũng có “cá
độ” dù chỉ là những gói mì MaMa, ôi những kỷ niệm “ngày và đêm xôn xao” World
Cup vui quá chừng .
- Hồi đó
ở trại, thông tin về các đội bóng không có, mỗi sáng tụi tôi phải đứng chờ ở
phòng bưu điện nơi cô làm thiện nguyện, chờ bà boss người Úc đem tờ báo Bangkok
Post vào, mấy anh em bưu điện đọc tin mục thể thao, rồi ra kể cho chúng tôi
nghe diễn biến, để tối đi xem thêm phần hào hứng.
- Chú
nhớ dai thiệt ! Vậy kỳ này chú có đi xem ở sân Houston không?
- Tuổi
lớn rồi, tôi xem ở nhà, nhưng con trai tôi và cháu nội có đi xem, chúng bảo đã
lắm, đáng đồng tiền bát gạo lắm. Tôi tự hào về nước Mỹ, sân bóng nào cũng to
lớn, tối tân, hiện đại, đông kín khán giả. Nghe dân Châu Âu qua đây xem World
Cup khen nước Mỹ nức nở, tôi cũng nở lỗ mũi.
Chú vẫn tuôn trào cảm xúc:
- Tại vì
cô có gia đình bên Mỹ nên tôi mới dám nói hết cảm tưởng, chứ khi nói chuyện với
mấy người tỵ nạn cũ nay ở Úc, Canada tôi đâu dám nói như thế, sợ họ tự ái, mặc
dù tôi biết Mỹ, Canada, Úc đều là những nước tư bản tự do giàu có, nhưng tôi là
công dân Mỹ nên tôi khoe nước Mỹ của tôi chút xíu, cô nhỉ!
- Đúng
vậy, hổm rày tin tức tràn lan khắp nơi, chuyện bên lề World Cup, cổ động viên
khắp thế giới đổ về, họ thích thú ngạc nhiên và bất ngờ khi tận mắt chứng kiến
nước Mỹ, khác với những gì họ “nghe nói” và tưởng tượng. Họ khen ngợi nước Mỹ
rộng lớn, giàu có, hiện đại, thức ăn ngon rẻ, nhà vệ sinh tiện lợi khắp nơi, họ
trầm trồ khi bước vào Costco, các cây xăng, các cửa hàng, người dân thân thiện
hiếu khách. Dù sao đi nữa, nước Mỹ vẫn xứng đáng là quốc gia hàng đầu thế giới.
- Bởi
vậy bữa nay tôi muốn nhắc lại câu nói của tôi ngày nào, “Mỹ Nói Là Làm” trong
chuyện bóng đá. Xưa nay Mỹ không có tiếng tăm về bóng đá, nhưng sau khi Mỹ đăng
cai World Cup 1994 thì tình hình đã đổi khác, nước Mỹ quyết chí đầu tư vào bóng
đá, và kết quả năm nay, đội bóng Mỹ có nhiều tiến bộ, ở vòng Bảng thắng giòn
giã hai trận đầu, đứng đầu bảng tiến vào vòng 32 đội, tôi tin đội Mỹ sẽ còn
tiến xa hơn nữa trong World Cup này. “Mỹ Nói Là Làm” là thế đấy. À, quên nữa,
nếu cô qua đây dịp Lễ Độc Lập July 4th, năm nay là 250 năm nước Mỹ,
sẽ vui lắm. Phải nói là nước Mỹ được đăng cai World Cup rất đúng “ngày lành
tháng tốt”, cả thế giới sẽ chứng kiến niềm tự hào, yêu nước của dân tộc và
người dân Mỹ Quốc.
- Dạ,
con đã từng đón Lễ Độc Lập Mỹ ở Texas, California, và Hawaii. Cũng giống như
bên Canada, chiều tối cả gia đình ra ngoài sân garage làm tiệc BBQ, uống bia,
thỉnh thoảng nghe tiếng pháo bông rộn ràng đâu đó, rồi chờ đến giờ đi xem pháo
bông chính thức. Cảm giác thật là tuyệt vời, đầy lòng tri ân với quê hương thứ
hai, phải không chú?
- Cô nói
tôi mới nhớ, Canada cũng mừng Quốc Khánh tháng 7 giống Mỹ phải không?
- Chính
xác Canada Day là July 1st đó chú, nhưng năm nay Canada chỉ mới
159 tuổi thôi hà, còn thua Mỹ gần cả trăm năm.
- Tiếc
quá, nếu cô qua Mỹ đón Lễ Độc Lập 250 năm của Mỹ, tôi rất hân hạnh được mời cô
đến Houston dự Thánh Lễ và tiệc kỷ niệm 50 năm ngày cưới của vợ chồng tôi, và
nhân tiện mừng đứa cháu ngoại của chúng tôi vừa được nhận vào học Y Khoa .
- Trời!
Chúc mừng chú và gia đình, hình như Lễ Độc Lập năm nay là… dành riêng cho gia
đình chú thôi á!
Tiếng chú cười sảng khoái,
hạnh phúc xen lẫn tự hào, và trước khi cúp phone, chú vẫn không quên chúc tôi:
- Thôi
thì không gặp nhau kỳ này, tôi cũng xin chúc …ké “Happy 159 Birthday Canada”
của cô nhé!
- Dạ, và
chúng ta cùng chúc nhau mùa World Cup, Independent Day, Canada Day vui vẻ!
Edmonton, Tháng 7/2026
KIM LOAN