Friday, October 2, 2026

33 NĂM TÌM ĐƯỢC XÁC CHỒNG (CHUYỆN TÌNH THẬT/ GIAO CHỈ SANJOSE)

 





33 NĂM TÌM ĐƯỢC XÁC CHỒNG .
————-:::::::::———-
Truyện tình thật thời chinh chiến
Người viết : Giao Chỉ San Jose .
Câu chuyện tình bi thảm của 1 thời chinh chiến – Giáo sư Bùi văn Phú bên Oakland nói rằng học sinh Nguyễn Bá Tòng 70 ai cũng biết hoa khôi Ngọc Di – Thầy Mạc Bìa ở San Jose nói rằng anh em không quân ai cũng biết phi công Nguyễn văn Lộc – Ngọc Di quê Nha Trang vào học tại Saigon – Trung úy Lộc quê Đà Lạt về Nha Trang đi lính tàu bay – Ghé chơi nhà bạn chợt thấy tấm hình cô gái có đôi mắt “U uẩn chiều luân lạc” đâu biết rằng anh sẽ mê mệt vì đôi mắt người Nha Trang – Niên khóa 71-72 Trung úy Lộc đi Hoa Kỳ học lái phản lực. – Năm 71-72 cô nữ sinh Nguyễn Bá Tòng tốt nghiệp tú tài toàn phần và ghi danh trường luật.
Đám cưới ở Nha Trang ngày 6 tháng 2/1974. – Một năm sau căn cứ không quân Phan Rang di tản. – Chồng đưa vợ có bầu lên máy bay chạy vào Saigon.– Trung úy phi công ở lại lo phi vụ hành quân.– Chia tay nhưng hẹn gặp lại tại Saigon.– Rồi vợ chồng tái ngộ trong niềm hạnh phúc.– Lại chia tay thêm lần nữa ngày 28 tháng 4/1975. –Ngọc Di có bầu 6 tháng lên máy bay đi Mỹ.– Người phi công phản lực ở lại với những phi vụ cuối cùng.– Chia tay nhưng vẫn hẹn găp lại, nhưng lần này là vĩnh biệt.– Người mẹ trẻ sinh con gái trong tỵ nạn ngày 18 tháng 7/1975. –Vợ vẫn không biết tin chồng, con không thấy mặt cha. –Anh phi công của Việt Nam Cộng Hòa nằm trong trại tù Long Giao tính được gần đúng ngày vợ sinh. –Ngày đêm anh sống với đôi mắt người tình Nha Trang. –Việt cộng hẹn 6 tháng học tập rồi sẽ trả tự do. –Sáu tháng trôi qua chưa được thả, anh âm mưu vượt ngục. –Bị bắn chết ngày 25 tháng 3/1976. –Chôn cùng người bạn phi công trốn trại. –Vợ con bên Hoa Kỳ hoàn toàn không có tin tức. –10 năm sau, những người bạn tù qua được Hoa Kỳ lần lượt kể chuyện về chuyến vượt thoát bất thành. –Nhưng không ai biết xác chồng của Ngọc Di ở nơi nào. –Ba mươi ba năm sau, những bạn tù không quân mới tìm lại được xác chiến hữu. –Người quả phụ không quân đem con gái 33 tuổi về nhận di hài của phi công Nguyễn văn Lộc. –Trên chuyến bay hãng EVA đáp xuống phi trường LA ngày 3 tháng 11/2008 cô Ngọc Di ôm bình tro cốt của chồng. –Con gái cô ôm thêm bình tro cốt của người chiến hữu cùng chết bên cạnh anh.– Năm nay 2010 là ba mươi lăm năm nhìn lại con đường. –Tôi xin kể lại ngọn ngành 35 năm cuộc đời của người góa phụ không quân anh dũng muôn đời.
Một thời chinh chiến
Mỗi người trong chúng ta đều có riêng cho mình những kỷ niệm về tháng 4 năm 1975. Chuyện của cô Nguyễn Thị Ngọc Di thường được kể thêm vài hàng bên cạnh câu chuyện của người chồng anh hùng trốn trại và đã hy sinh. Nhưng tôi lưu ý riêng đến hoàn cảnh người vợ nên đã nghe cô Ngọc Di kể lại tâm sự cuộc tình. Cô nói rằng, dù đã đem được di hài anh Lộc về nhưng tâm tình u uẩn chưa nguôi. Con gái của cháu tương đối ổn định, nhưng phần cháu, cuộc chiến vẫn chưa yên. Từ lúc 10 tuổi, hình ảnh mẹ cháu đi nhận xác chồng với di hài và vết máu trên áo trận của ba cháu vẫn theo đuổi cháu trong nhiều năm. Đến thời gian cháu ở Phan Rang có mấy tháng đã chứng kiến cảnh cô vợ trẻ miền Tây, đẹp não nùng đi nhận xác anh không quân tử trận. Phi cơ bị rơi vẫn còn mang bom. Phi công không kịp nhảy dù. Bom mang theo nổ cùng con tàu. Xác chẳng còn gì. Căn cứ lấy 2 cây chuối cho vào quan tài, thêm 1 ít da thịt rồi đóng hòm thực kín. Khi cô vợ ra nhận xác chồng, vật vã xin mở ra nhìn mặt, nhưng còn thấy làm sao được. Cháu chứng kiến mà thấy tê dại cả người. Anh Lộc dìu cháu vào nhà ở khu sĩ quan độc thân. Anh nói rằng, anh cam đoan sẽ không bao giờ bị như thế. Như vậy là làm sao. Phải chăng lời tiên tri cho cả cuộc đời sau này. Lấy nhau từ tháng 2/74, chẳng bao giờ được gần nhau 1 tháng. Anh đi bay khắp mọi nơi. Đầu năm 75, cháu có bầu mới ra sống ở căn cứ Phan Rang. Vì không có nhà bên cư xá gia binh, phải tạm trú ở khu độc thân. Chứng kiến toàn chuyện hy sinh chết chóc. Cháu mới 19 tuổi, bác nghĩ coi làm sao mà sống được. Mới năm trước từ thời học sinh vô tư qua thời sinh viên hết sức thần tiên. Chợt bước chân vào đời vợ lính, lo lắng sợ hãi biết chừng nào.
Một thời để yêu
Chờ cô Ngọc Di bớt cơn xúc động, tôi xin cô kể lại chuyện tình bắt đầu ra sao. Cô bình tĩnh và kể hết, không hề dấu diếm kề cả chuyện bay bướm và ngang tàng của anh Lộc.
Bác biết không, trước khi gặp cháu, anh Lộc đã quen với cô giáo Hương bên Ba Làng cũng tại Nha Trang. Bạn bè đã có người gọi anh là Lộc Ba Làng. Chuyện này về sau cháu mới biết. Ông anh họ không quân của cháu cũng không biết mới dẫn Lộc về nhà coi mắt chị cháu ở Nha Trang. Nhà cháu có đến 9 anh chị em. Nhưng coi bộ anh Lộc với chị Như Khuê của cô không hợp duyên, nên chỉ chuyện trò qua loa. Chợt anh Lộc thấy hình của Ngọc Di còn đang trọ học Saigon. Anh nói là đã mê đôi mắt từ lúc đó.
Qua niên khóa 71-72 Trung úy Lộc đi học bay tại Hoa Ky. Ngọc Di bắt đầu nhận được thư làm quen. Bạn bè của anh ở Mỹ nói rằng mỗi tuần anh đều nhận được thư của 2 cô. Cô giáo bên Ba Làng và cô nữ sinh Nguyễn Bá Tòng. Nhưng xem chừng đôi mắt người Nha Trang đã lấy trọn vẹn tình yêu của anh chàng không quân gốc Đà Lạt. Dù rằng về phần Ngọc Di vẫn chưa thực sự rung động với tình yêu chiến sĩ.
Hồi hương được 3 ngày, Trung úy Lộc bèn vào trường Nguyễn Bá Tòng lừa cha giám học nhận là anh vào thăm cô em cùng họ Nguyễn. Đây là đầu tiên 2 người gặp mặt. Từ trước chỉ biết qua hình ảnh. Anh chị có 2 tuần lễ đi chơi khắp Saigon, bao nhiêu là quà bên Mỹ, anh phi công hào hoa dành hết cho cô hoa khôi trường trung học..
Giáo sư Bùi Văn Phú thời đó học Nguyễn Bá Tòng cùng lớp với Ngọc Di kể lại rằng hình ảnh anh không quân xuất hiện đã làm cho biết bao nam sinh đau lòng.
Một hôm anh Lộc dẫn cô Di về nhà bà chị tại Saigon, chợt gặp cô giáo Ba Làng ra thăm.
Cuộc gặp gỡ bất chợt như trong thoại kịch trên sân khấu. Người yêu cũ chợt thấy bị phản bội, người yêu mới chợt thấy bị lừa dối. Anh không quân đưa Ngọc Di về nhà, nhưng cô cho rằng cuộc tình ngắn ngủi coi như chấm dứt. Cô cũng chưa yêu nên không thấy thực sự bẽ bàng. Sẵn sàng để anh Lộc trở về với người xưa của anh. Nhưng anh không quân đã trở thành Phạm Thái của Tiêu Sơn Tráng sĩ nhất định chết trong cặp mắt của giai nhân Trương Quỳnh Như.
Ngày hôm sau, trung úy phản lực trở lại nói là đã giải quyết xong mục tiêu. Cô gái Ba Làng buồn tủi trở về Nha Trang và anh Lộc quyết 1 lòng đi tới với Ngọc Di.
Cuộc tình duyên trải qua suốt năm tháng dài cho đến ngày đám cưới ở Nha Trang 6 tháng 2-1974.
1974 - Một thời hoạn nạn:
Khi đôi trẻ bắt đầu xây dựng gia đình qua lễ cưới là lúc đất nước bước vào năm tang tóc cuối cùng. Ngọc Di nhắc đi nhắc lại là cháu đâu có được làm vợ lính cho trọn vẹn một đời. Tuy hòa bình đã ký nhưng 2 bên vẫn còn chiến tranh dành dân lấn đất. Cô sinh viên vẫn lấy bài học luật đi về giữa Saigon Nha Trang và người chồng bất chợt lúc gặp ở Nha Trang, lúc thì Saigon. Mấy tháng cuối cùng sống chung ở căn cứ Phan Rang ngày đêm nghe tiếng phi cơ phản lực và những giây phút ngóng đợi chồng về.
Rồi khi tình thế nguy ngập, anh chồng đẩy cô vợ mang bầu lên C.130 với toàn những người xa lạ. Phi cơ cất cánh, nhìn anh còn đứng trên phi trường Phan Rang, nào biết bao giờ gặp lại nhau. Nhưng rồi anh đem phản lực về Saigon yểm trợ cho mặt trận Long Khánh.
Có tin vợ con phi công chiến đấu vào hết Tân Sơn Nhứt để chờ di tản. Đêm định mệnh cuối cùng Ngọc Di vẫn còn ở nhà với mẹ và thân quyến tại Saigon. Các ông anh cũng có chương trình di tản cả nhà.
Nửa đêm 28 tháng 4/75 chợt có tiếng xe hồng thật tự chớp đèn bấm còi ấm ỹ. Anh Lộc gõ cửa kêu Ngọc Di khẩn cấp lên đường. Bà mẹ nói rằng hay con ở lại để đi với mẹ và anh em, nhưng Lộc kiên quyết kéo vợ đi ngay. Ánh mắt mẹ già buồn bã trông theo. Nhưng sau này cả nhà đều bị kẹt lại. Lên xe hồng thập tự thấy cảnh tượng hãi hùng, Trung úy Giới ngồi bên vợ là cô sản phụ vừa sinh con, ôm con trong khăn còn vết máu.
Thì ra xe bus chở gia đình phi công đã nổ máy chờ trong căn cứ, ông trung úy Giới lấy xe cứu thương của không quân chạy ra nhà thương rước vợ. Anh Lộc nhẩy theo, sau khi đón được vợ con mày, phải ghé nhà cho vợ tao đi. OK.
Xe Hồng thập tự bóp còi chớp đèn chạy như bay trong đêm Saigon. Các gia đình trên xe bus đang nổ máy chờ, thấy 1 bà mới sinh con và 1 bà bầu mặt còn trẻ thơ bước lên xe. Hai ông chồng vất vả đứng trông theo. Ngọc Di nhìn lại anh Lộc qua khung kính. Anh phi công hẹn sẽ gặp lại bên Mỹ. Vợ con đi rồi, còn mấy anh lái phản lực thì xoay sở dễ dàng, Ngọc Di không thể nghĩ rằng đấy là hình ảnh cuối cùng. Đó là ngày 28 tháng 4-1975. Cô đi C.130 qua Côn Son rồi sau đó di tản qua đảo Guam. Hết sức cô đơn, không gia đình, không bà con thân thuộc. Ngay cả gia đình bạn bè trong không quân cô cũng không quen ai. Cô sống 1 cuộc đời tiểu thư từ nhỏ, số mệnh đột nhiên ném vào cuộc đời. Cô bắt dầu cuộc sống trong chờ đợi, đen tối mịt mùng, hoàn toàn tự lập suốt một phần tư thế kỹ.
Một thời định cư
Vẫn tràn đầy hy vọng, cô nằm chờ ở đảo Guam. Các phi công lần lượt đến tìm vợ con và đoàn tụ bay vào lục địa. Anh chị Giới của chuyến xe Hồng thập tự định mệnh cũng đến rồi đi, không có tin gì về anh Lộc và không ai biết là Lộc mất tích, đã chết hay còn lạc loài nơi đâu. Rồi người ta không cho bà bầu ở lại đảo Guam. Cô phải đi vào Mỹ để còn lo sinh đẻ.
Ngọc Di lên đường mắt còn ngó lại biển Đông. Các trại tỵ nạn Cali và Akansas đã tràn ngập người di tản. Người ta đưa cô về Floria. Nơi đây ngày xưa anh Lộc đã từng đến học bay.
Mỗi ngày vẫn còn người đến trại, dù muộn nhưng vẫn còn tìm được hạnh phúc đoàn tụ bên nhau. Nhưng cô vẫn mòn mỏi đợi chờ. Ngày 18 tháng 7/1975 Ngọc Di hạ sanh 1 bé gái. Nỗi truân chuyên và sống trong ray rứt đợi chờ đã hành hạ thêm cô gái trẻ với 16 giờ đồng hồ đau đớn chuyển dạ. Trước sau vẫn chỉ có một mình. Anh Lộc một năm trước đã đặt tên cho con trai tương lai là Phi Hải. Nhưng cô con gái được mẹ đặt tên là Nguyễn Lộc Đan Vi. Nguyễn là họ của cha và mẹ, Lộc là tên cha. Đan Vi là ý kiến của cô học sinh Nguyễn bá Tòng khi nghĩ đến những cây hoa tường vi đan vào nhau ở cổng nhà chồng trên Đà lạt.
Sau khi sanh con, mẹ con cô tỵ nạn Việt Nam được ông bà bảo trợ đón về nông trại. Ngôn ngữ không quen, suốt vùng quê không có 1 người Việt Nam. Những năm đầu vừa buồn về cảnh ngộ vừa buồn vì cảnh vật. Ngọc Di ôm con sống bằng nước mắt. Duy chỉ có điều, bé gái với cặp mắt thần tiên của mẹ là nguồn an ủi cuối cùng.
Một thời để chết
Cùng lúc đó trong trại tù, anh phi công thấy rằng không còn hy vọng được trả tự do. Thời gian ngộ nhận 15 ngày đã qua từ lâu. Thời gian hứa hẹn học tập 6 tháng cũng qua rồi. Cặp mắt người yêu Ngọc Di thôi thúc ngày đêm, anh phi công ngang tàng 1 thuở nhất định trốn trại, tìm tự do. Hai anh phi công Nguyễn văn Lộc và Lê văn Bé cùng vượt trại. Hy vọng tìm đường qua biên giới Cam Bốt rồi Thái Lan. Giữa 1 đêm mưa gió, cả 2 vượt thoát còn đem theo cả lựu đạn phòng thân.
Lính cộng sản đuổi theo. Lộc chạy trước. Bé ném lựu đạn chận hậu nhưng bị thương ngã xuống. Lộc bèn quay lại, đánh lựu đạn cứu bạn. Được biết lính cộng sản cũng bị chết vì lựu đạn. Vì vậy sau khi 2 anh phi công đã gục ngã chúng còn bắn điên cuồng vào 2 xác chết.
Hai anh chết ngày 25 tháng 3-1976. Cộng sản cho kéo xác để giữa sân trại Long Giao để rằn mặt anh em rồi đem chôn xấp 2 ngôi mộ bên nhau, nhưng không có mộ bia. Các bạn tù tìm cách làm dấu nhưng không rõ ràng. Vài năm sau, không còn ai biết rõ di hài của 2 người anh hùng không quân nằm ở đâu.
Một thời định cư
Mẹ con Ngọc Di rời bỏ nông trại tìm đư33 Năm tìm Được Xác Chồngờng về ở với bà con trên Nữu Ước. Cô nữ sinh hoa khôi Nguyễn bá Tòng, sinh viên luật Saigon tiếp tục cuộc sống lủi thủi với đứa con ngày càng rực rỡ với dấu vết người cha Đà Lạt và đôi mắt bà mẹ Nha Trang.
Mấy năm sau, anh em và gia đình không quân họp mặt nên mẹ con cô Di có dịp về Cali găp gỡ mọi người. Sau cùng cô định cư tại quận Cam. Phải bắt đầu từ thập niên 80 trở đi mới có tin tức về cuộc trốn trại hào hùng và chuyện hy sinh của anh Lộc. Mẹ con bắt đầu nghĩ đến chuyện đi tìm dấu vết của người xưa. Tuy nhiên tất cả đều vô vọng. Không ai còn nhớ những ngôi mộ ở đâu, Cuộc sống vẫn bình thản diễn tiến. Anh chị em đoàn tụ. Me già gặp lại con gái. Cháu Đan Vi tốt nghiệp bác sĩ nhãn khoa rồi lập gia đình. Vợ vẫn không thấy xác chồng. Con vẫn chưa thấy xác cha.
Một lần, hết sức vô tình, Ngọc Di gặp người trong gia đình HO. Anh ở Bắc Cali nói rằng trước có ở Long Giao. Cô Di hỏi rằng anh có biết trung úy Lộc không. Anh HO nói ngay rằng cô có phải là Ngọc Di không. Ngạc nhiên đến sững xờ, cô nói tôi là Nguyễn thị Ngọc Di, sao anh biết. Anh bạn trả lời: « Tôi ở gần anh Lộc trong trại. Anh ấy nói về đôi mắt của cô suốt ngày. Khi cô mới bước vào nhà tôi đã cảm thấy. Khi cô hỏi anh Lộc, tôi biết ngay cô là vợ anh. »Và câu chuyện 20 năm xưa tuôn chảy, nhưng sau cùng cũng không biết mộ anh ở đâu.
Một thời ngoại cảm
Câu chuyện đi tìm mộ của anh Lộc đã trải qua 1 thời gian hết sức đặc biệt dựa trên các câu chuyện linh thiêng về lãnh vực ngoại cảm. Sau cùng, người bạn tù, người chiến hữu tận tụy của anh Lộc đã tìm được 2 ngôi mộ của những người phi công trốn trại năm 1976.
Các ngôi mộ được khai quật năm 2008 có cả sự tiếp sức của thầy Mạc Đìa ngồi tại San Jose mà chỉ dẫn qua điện thoại. Mặc Đìa ngày xưa cũng là sĩ quan của không lực Việt Nam Cộng Hòa. Sau cùng cô Ngọc Di đưa con gái là Nguyễn Lộc Đan Vi về nhận xác người thân.
Ngày 3 tháng 11-2008 mẹ con ngồi trên phi cơ Eva ôm mỗi người một bình tro về Hoa Kỳ. Mẹ ôm tro của chồng, con ôm bình tro chiến hữu. Gia đình anh phi công Lê văn Bé nói rằng chiến hữu đã chết bên nhau thì cho đi Mỹ với nhau. Tuy nhiên bình tro của anh Bé chỉ có 1 nửa. Phân nửa gia đình lưu lại quê hương.
Ngày 8 tháng 11-2008 không quân Nam Cali làm lễ truy điệu cho 2 người anh hùng của họ. Có lễ trao cờ lại cho cô Ngọc Di cùng con gái.
Ngọc Di làm vợ lính có hơn 1 năm và làm quả phụ 33 năm mới nhận được xác chồng bằng tro tàn. Bác sĩ Đan Vi không bao giờ thấy được người cha dù ở trên trời hay ở dưới đất.
Khi khai giấy tờ người ta hỏi rằng con đến Mỹ năm nào. Con khai là đi năm 1975. Con đi bằng phương tiện gì. Con nói là con đi trong bụng mẹ. Cha con bây giờ ở đâu. Con không biết. Có thể còn đang bay ở trên trời. Con không có cha làm sao ai nuôi con học thành bác sĩ. Trả lời: Mẹ con.
Đan Vi là loài hoa tường vi đan vào nhau mọc ngoài cổng nhà anh phi công Nguyễn Văn Lộc.
Tuổi của cô là tuổi của cộng đồng. Cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại năm nay 35 tuổi, cũng là tuổi của Đan Vi, một cô gái khác ngày xưa sinh ra trên tàu Trường Xuân, trên biển Nam Hải, tên cô là Chiêu Anh, cũng 35 tuổi.
Chiều văn nghệ 35 năm nhìn lại tại San Jose vào ngày 23 tháng 5/2010 chúng tôi sẽ mời cả 2 cô lên sân khấu CPA. Một cô đi tàu biển vào Mỹ. Một cô đi tàu bay vào Mỹ. Lúc ra đi cả 2 đều trong bụng mẹ.
Cả 2 cô đều không phải là ca sĩ, nhưng vẫn được mời lên sân khấu trình diễn. Hai cô đều không biết hát, chỉ đứng đó cho khán giả vỗ tay. Bởi vì cuộc đời của các cô chính là những bài ca của nửa thế kỷ trầm luân. Đó là những hài nhi của cộng đồng di tản, những công dân của thế hệ mới trưởng thành sau những đau thương của đất nước.
Các bạn hỏi rằng văn nghệ của chúng tôi sẽ có những danh ca nào trình diễn.
Chúng tôi có các nữ danh ca có tên có tuổi nhưng không biết hát.
Vậy ai là những người biết hát thì xin đến giúp một tay.
Và trời đất sẽ trả công cho quý vị.
Tất cả chỉ cần hát có 1 bài: Bài “Cô Gái Việt” của Nhạc sĩ Hùng Lân.
GIAO CHI, SANJOSE

GDP HOA KỲ TĂNG TRƯỞNG 2%: BOM NỔ CHẬM, HIỂM HỌA GÌ ĐANG TIỀM ẨN? (GS. TS. KHƯƠNG HỮU LỘC)

 


GDP HOA KỲ TĂNG TRƯỞNG 2%: BOM NỔ CHẬM, HIỂM HỌA GÌ ĐANG TIỀM ẨN?

 

https://www.youtube.com/watch?v=TIBC15zSDyw

 


Thursday, October 1, 2026

CON CHÓ VÀ NGƯỜI ĂN XIN (LÊ VĂN THÔNG)

 


CON CHÓ VÀ NGƯỜI ĂN XIN
Lê Văn Thông

Có những câu chuyện đọc xong rồi quên.
Cũng có những câu chuyện chẳng hiểu vì sao cứ ở lại trong lòng. Không ồn ào, không dữ dội, nhưng thỉnh thoảng nhớ tới, lại thấy bâng khuâng.
Tôi đọc câu chuyện về một ông lão ăn xin và con chó của ông vào một buổi sáng như thế.
Ở một góc chợ nhỏ, ngày nào người ta cũng thấy một ông lão quần áo rách rưới ngồi bên một con chó gầy gò.
Hai kẻ nương vào nhau mà sống.
Ông lão sống nhờ những đồng tiền lẻ của khách qua đường. Con chó kiếm được gì ăn nấy. Có hôm người ta cho một miếng bánh, có hôm là chút cơm nguội, có hôm cả hai chẳng có gì.
Con chó thường chạy đi nhặt những thứ người ta bỏ lại rồi mang về. Nó đặt thức ăn xuống trước mặt ông, ngồi chờ.
Ông lão nhận lấy, chậm rãi bẻ đôi.
Một nửa cho mình.
Một nửa cho nó.
Ngày nào cũng vậy.
Không ai nhớ việc ấy bắt đầu từ bao giờ. Có lẽ ông cũng chẳng nhớ. Chỉ biết mỗi khi có được thứ gì để ăn, ông vẫn chia đôi như một thói quen.
Người ta từng hỏi:
“Thân mình còn chẳng lo nổi, sao không đem nó cho người khác nuôi?”
Ông chỉ cười:
“Nó theo tôi lâu rồi.”
Chỉ vậy thôi.
Hai kẻ đã quen với nhau qua những ngày nắng gắt, những buổi mưa dầm, những đêm lạnh không có chỗ trú. Có miếng ăn thì cùng ăn. Có chỗ nằm thì cùng nằm.
Những hôm trời mưa, con chó nép sát vào người ông dưới mái hiên chật hẹp. Ông kéo vạt áo cũ che cho nó, dù chính mình cũng đang run vì lạnh.
Cứ thế, họ sống qua ngày.
Một hôm, một người đàn ông giàu có thường đi ngang qua khu chợ đứng lại lâu hơn mọi ngày.
Ông đã nhiều lần nhìn thấy ông lão và con chó. Ông biết con chó thường chạy đi kiếm thức ăn rồi mang về cho chủ. Ông cũng thấy có những hôm ông lão chỉ có một miếng bánh nhỏ, vẫn ngồi xuống bẻ đôi.
Ông để ý con chó rất khôn và quấn chủ.
Hôm ấy, thấy ông lão có vẻ yếu hơn trước, người đàn ông ngồi xuống hỏi chuyện. Rồi ông nói:
“Ông để tôi đưa nó về nhà nuôi. Nhà tôi có chỗ, có người chăm sóc. Nó sẽ không phải chịu đói, chịu rét nữa.”
Ông lão im lặng.
Con chó vẫn nằm bên chân ông.
Một lúc sau, ông cúi xuống vuốt đầu nó. Bàn tay gầy guộc lần trên bộ lông đã xơ xác.
“Tôi già rồi, chẳng biết còn sống được bao lâu. Nó theo tôi cũng khổ. Được ông thương mà đem về nuôi thì tốt cho nó.”
Ông tháo sợi dây cũ, trao con chó cho người khách.
Rồi ông vỗ nhẹ lên lưng nó:
“Đi đi… theo người ta đi. Ở đó mày sẽ được ăn no.”
Con chó đứng dậy.
Nó đi được vài bước rồi quay đầu lại.
Người khách nhẹ nhàng dắt nó đi.
Ông lão ngồi yên, nhìn theo cho đến khi cả hai khuất sau dãy hàng quán.
Chiều xuống, bên cạnh ông có một khoảng trống.
Ông vẫn ngồi ở chỗ cũ. Thỉnh thoảng, theo thói quen, ông lại nhìn về phía con đường dẫn vào chợ.
Ở ngôi nhà mới, con chó được cho ăn uống đầy đủ, có chỗ nằm sạch sẽ. Nhưng nó cứ quanh quẩn bên cổng.
Nó ăn rất ít.
Rồi bỏ ăn.
Người khách tìm đủ cách dỗ dành mà không được.
Hai ngày sau, ông đưa nó trở lại.
Vừa nhìn thấy ông lão từ xa, con chó đã giằng khỏi sợi dây, chạy thẳng về phía ông.
Cái đuôi quẫy liên hồi.
Nó dụi đầu vào người ông, liếm đôi bàn tay gầy guộc.
Ông lão ôm lấy nó.
Người khách đứng nhìn một lúc rồi đặt sợi dây cũ xuống bên cạnh.
“Thôi, để nó ở lại với ông vậy.”
Ông lão ngước lên.
Người khách chỉ mỉm cười, rồi lặng lẽ quay đi.
Con chó nằm xuống bên chân chủ, đúng chỗ nó vẫn thường nằm.
Ông lão đưa tay vuốt lưng nó.
Rồi hai kẻ lại ngồi bên nhau ở góc chợ cũ.
---
Mùa đông năm ấy đến sớm.
Những cơn gió lạnh tràn qua khu chợ. Người bán hàng kéo kín những tấm bạt. Khách qua đường vội vã trở về nhà trước khi trời tối.
Ông lão vẫn ngồi ở góc chợ quen thuộc.
Con chó vẫn nằm bên cạnh.
Nhưng sức khỏe ông ngày một yếu. Có những hôm ông chẳng còn đủ sức đi xin ăn, chỉ ngồi tựa lưng vào bức tường cũ.
Con chó chạy quanh khu chợ, nhặt nhạnh những thứ còn ăn được rồi mang về.
Ông vẫn chia đôi.
Một nửa cho mình.
Một nửa cho nó.
Một buổi sáng, người ta đi ngang qua góc chợ nhưng không còn thấy ông lão.
Ông đã qua đời trong đêm lạnh.
Con chó nằm sát bên ông. Thỉnh thoảng, nó lấy mõm đẩy nhẹ vào bàn tay chủ rồi tru lên từng hồi.
Người ta đến gần.
Nó không bỏ chạy.
Đám tang nghèo nàn.
Một chiếc quan tài gỗ thô sơ. Vài người buôn bán trong chợ góp tiền lo liệu. Những người từng quen mặt ông lão cũng đến tiễn đưa.
Con chó lặng lẽ đi phía sau.
Đến nơi chôn cất, khi mọi người bắt đầu lấp đất, nó đứng nhìn.
Chẳng ai nỡ xua nó đi.
Mọi người lần lượt ra về.
Nó vẫn ở lại.
Ngày hôm sau, người ta lại thấy nó nằm trên nấm mộ mới đắp.
Có người mang cơm đến.
Nó không ăn.
Có người muốn đem nó về nuôi.
Nó lại tìm đường trở về.
Ngày này qua ngày khác.
Cho đến một buổi sáng, người ta thấy nó nằm im bên mộ chủ.
Nó đã chết.
Người dân trong vùng thương cảm, quyết định chôn nó ngay bên cạnh ông lão.
Một nắm đất.
Một viên gạch.
Một hòn đá.
Mỗi người góp một chút.
Dần dần, một nấm mộ nhỏ được đắp lên bên cạnh nấm mộ cũ.
Người ta gọi nơi ấy là Đất Nghĩa.
---
Tôi từng nghe câu:
“Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nhà nghèo.”
Ngày trước nghe chỉ thấy đó là một câu nói dân gian.
Đọc câu chuyện này rồi, tôi lại nghĩ đến một nửa miếng bánh.
Một nửa ông lão ăn.
Một nửa để dành cho nó.
Tôi không biết câu chuyện ấy xảy ra từ bao giờ, ở một khu chợ nào.
Chỉ nhớ mỗi khi nghĩ đến, tôi lại thấy một ông lão ngồi bên góc chợ, chậm rãi bẻ đôi miếng bánh.
Một nửa cho mình.
Một nửa cho con chó.
Lê Văn Thông

EM ĐỪNG HỎI...(THƠ- NGUYỄN VẠN THẮNG)

 


EM ĐỪNG HỎI...


Em đừng hỏi ... bao giờ Thu lại đến ?
Mây dỗi hờn giăng kín nẻo mù sương
Để Thu sang trụi lá, gợi thêm buồn
Mang giá lạnh lại về bên ta mãi

Em đừng hỏi ...bao giờ ta lại thấy?
Mùa Thu về nhớ quá chiều mưa bay
Nắng vàng rơi trên suối tóc vai gầy
Hồn băng giá cho lòng mình hiu quạnh

Em đừng hỏi ... bao giờ mưa Thu tạnh ?
Để giọt buồn thôi đẫm ướt bờ mi
Đi bên em ngày ấy mối tình si
Niềm hạnh phúc chuỗi ngày dài vô tận

Em đừng hỏi ... Thu về sao giá lạnh ?
Để thơ tình anh viết gợi niềm đau
Để tình ta hụt hẫng chuỗi ngày sầu
Rồi tự trách sao Thu buồn, lệ đắng

Em đừng hỏi ... sao tình ta vơi cạn?
Vòng tay nào ấp ủ vội chia xa
Trái tim yêu, đau xót mắt lệ nhòa
Xin đừng hỏi ... để lòng thêm tiếc nhớ ...

Em đừng hỏi ...kỷ niệm nào trên phố?
Lá vàng bay trong gió lời thì thầm
Buổi tan trường, mộng đẹp đã vội tan
Giờ ôm mối tương tư nhìn Thu đến...

Em đừng hỏi ... sao tình ta lỗi hẹn?
Buổi hẹn hò xa vắng người mỗi nơi
Còn không em hay tình đã xa rồi
Con phố cũ lá vàng bay tơi tả ...

Nguyễn Vạn Thắng

HOA HỒNG THÁNG MƯỜI. (THƠ- NGUYỄN THỊ THANH DƯƠNG)

 


  HOA HỒNG THÁNG MƯỜI.

( Lễ hội mùa hoa hồng tháng mười tai thành phố Tyler, TX).

 

Em gởi tặng anh lễ hội tháng mười,

Mùi hoa hồng vừa thoảng bay trong gió,

Mùa thu không chỉ lá vàng, lá đỏ,

Có tình em và hoa mới vào mùa.

 

Như nét son môi làm đẹp mùa Thu,

Hoa hồng sau vườn thắm tươi rực rỡ,

Hoa hồng leo trên bờ tường rêu cũ,

Căn nhà khép cổng mà hồn ở đây.

 

Đi với mùa thu có gió heo may,

Những chiếc lá khô cuối mùa lãng mạn,

Hoa hồng tháng mười vẫn còn trẻ lắm,

Lóng lánh giọt tình một chút mưa mau.

 

Hoa hồng mùa xuân giấc mộng về đâu ?

Vẫn còn nồng nàn hoa trong nắng hạ,

Hoa hồng mùa thu những lời tình tự,

Cánh hoa tàn khắc khoải một câu thơ.

 

Hồng vàng, hồng trắng, hồng cam san hô,

Hồng đỏ xác pháo, hồng nhung đỏ thẫm…

Hoa không là rượu mà em say đắm,

Sắc màu, mùi hương quyến rũ ngọt ngào.

 

Hoa hồng bụi, phủ mặt đất chờ nhau,

Hoa hồng đầy cành, trăm thương ngàn nhớ,

Hoa hồng leo, tìm nhau dù cách trở,

Chẳng biết lòng anh thích đóa hoa nào?

 

Em gởi tặng anh mùa hoa tháng mười,

Nhiều loài hoa hồng với hình dáng đẹp,

Hoa đơn lẻ, hoa từng chùm, hoa kép,

Hoa nào cũng nói rằng em yêu anh. 

HÌNH TÁC GIẢ

Nguyễn Thị Thanh Dương.


HỒN SẦU CHIÊU NIỆM (THƠ- HÀN THIÊN LƯƠNG)

 


Hồn Sầu Chiêu Niệm


Nắng hoàng hôn vương nỗi buồn lữ thứ

Bước gập ghềnh qua mấy dặm thời gian

Nỗi cô đơn ẩn sầu trong đáy mắt

Dấu vết xưa chìm khuất cõi điêu tàn.


Bờ tóc cũ giờ đang phai úa nắng

Đâu còn gì giấc mộng đã hoang vu

Đôi mắt nhỏ khép khung trời viễn tượng

Bóng ngày xanh đã biền biệt xa mù.


Thyền ai đó trên sông đời xa mãi

Ta một mình đang ứa lệ nhìn theo

Từng cánh hoa gợi nỗi tình quá khứ

Hoa vội tàn trên bờ đá cheo leo.


Chiều lặng lẽ nghe hồn sầu chiêu niệm

Cớ sao đời lại đá nát vàng phai

Xuân vội tàn để hoa lòng hận tủi

Mây trời buồn như khăn trắng sầu ai!


Gót phiêu lãng giữa trời chiều xế bóng

Về nơi đâu?- chẳng biết về nơi đâu!

Ta muốn níu thời gian chầm chậm lại

Để chút gì: dư ảnh đến ngàn sau!


Giờ nơi nầy chỉ trời cao gió lộng

Mảnh trăng treo đầu núi ánh nhạt màu

Chừng như đợi cuộc đời dâu hóa biển!

Một kiếp người rồi chắc cũng qua mau!

Hàn Thiên Lương