Friday, December 2, 2016

CHUYẾN ĐI KỶ NIỆM (Châu Hạ Linh)

CHUYẾN ĐI KỶ NIỆM
Châu Hạ Linh
 (cựu học sinh trường Đức Trí Tuy Hòa)

















Ngườ đẹp Châu Hạ Linh.

Mặc dù it́ khi tham gia các sinh hoạt cuả liên trường Phú Yên, nhưng mấy năm gần đây, Ha Linh cũng có kết bạn với mấy anh chị em Nguyễn Huệ̣, Bồ Đề Tuy Hoà… trên Facebook ngày nào cũng quậy phá vui vẻ nhau rất thân tình, nhưng chưa bao giờ được gặp mặt.

Khi nhận được tin cựu HS Phú Yên sẽ tổ chức chuyến du thuyền đại hội 6 “Chim Về Núi Nhạn 2” Hạ Linh rất vui mừng liền rủ hết tất cả bạn bè của mình ở San Jose cùng học trường Đức Trí Tuy Hòa đi tham dự ĐH 6.


Cùng bạn bè của Hạ Linh.


Người đẹp từ Úc Châu sang.

Thật là một chuyến đi mang nhiều kỷ niệm, rất cảm động vì nhờ BTC quá nhiệt tình đã bỏ quá nhiều công sức đã làm cho ĐH 6 được đánh giá là ĐH tình thân và thành công rực rỡ.  Nhờ được tham gia ĐH này mà Hạ Linh có dịp gặp tận mặt bạn bè trên facebook.

Ngày đầu tiên vừa đến khách sạn Hilton, một khách sạn quá đẹp nên thơ từ cảnh trí trong và ngoài, sau khi check in xong Hạ Linh xuống lobby của hotel và vui ơi là vui vì bạn bè cũng tụ họp nhau ở đấy, và chẳng có gì khó khăn để nhận ra nhau…Vui ơi là vui, tay bắt mặt mừng chúng tôi cùng nhau chụp hình lia lịa
 Bao nhiêu câu hỏi chào nhau như đàn ong vỡ tổ, không những đám chúng tôi mà còn bao nhiêu nhóm khác cũng cùng tâm trạng, ai ai cũng nở nụ cười rạng rỡ trên môi.














Sáng hôm sau là ngày đi du ngoạn thành phố Miami, những chiếc áo đồng phục cùng nón hải quân rực cả bầu trời đẹp ơi là đẹp, với hơn 350 người cựu HSPY tung tăng cười nói thật dễ thương như những ngày còn ở sân trường quê cũ.  Thật là một kỷ niệm quá đáng yêu và khó quên.

Những chuyến xe bus sang trọng đã đưa chúng ta đi ngoạn cảnh Miami quá nên thơ và sang trọng, sau đó được lên một yatch lớn để đi ngoạn cảnh vùng vịnh, từ trên bờ dưới nước Miami đã để lại trong lòng bao nhiêu luyến thương.





Ngày kế tiếp lại xuống tàu đi cruise qua nhiều hải đảo, Bahamas là hòn đảo nổi tiếng khá lâu, cũng nhờ đại hội 6 này mà Hạ Linh cùng các bạn được đặt chân đến thật là may mắn và hạnh phúc biết bao, bờ biển trong xanh đẹp và thơ mộng Hạ Linh cùng bạn bè đùa giỡn với nước vô tư, đã sống lại trong lòng Hạ Linh bao nhiêu kỷ niệm đẹp ngày xưa nơi bờ biển Tuy Hòa yêu dấu…




Hình ảnh trên du thuyền.

Căn phòng trên tàu của Hạ Linh thì hết chỗ chê, thật rộng, to lớn đẹp đẽ và vô cùng thoải mái, đã làm cho những ngày trên du thuyền thêm thú vị, ngoài những món ăn tuyệt hảo và quá nhiều chắc kỳ này bạn bè và cả Hạ Linh ai cũng lên cân!







Khi tàu vào Key West đi shopping thật rẻ, món nào cũng chỉ có 5 đô la làm đám bạn Hạ Linh mua gần hết shopping.






Florida cũng quá nhiều trái cây như vùng nhiệt đới ở quê nhà, sẵn dịp này nên sau khi tàu cặp bến bọn Hạ Linh đã thuê xe đi thăm nhiều vườn cây trái tại đây.

Nói chung là chuyến đi quá nhiều kỷ niệm đẹp, tất cả bạn bè của Hạ Linh ai cũng hết lời khen ngợi, quá thích thú và quá thân tình.  Châu Hạ Linh cùng các bạn rất cám ơn BTC đã quá tận tâm chu đáo để đem lại cho tất cả một chuyến đi vui vẻ, thú vị.



NẾM GỞI ĐẾN BAN TỔ CHỨC ĐH 6 VÀ TẤT CẢ CÁC BẠN TRÊN CHUYẾN DU THUYỀN VỚI HẾT LÒNG THÂN THƯƠNG, MẾN NHỚ.

Châu Hạ Linh.





HOÀI NIỆM BÙI GIÁNG (Nguyễn Công Lượng)


Chú Bùi Giáng đã chết?! Báo chí, đài phát thanh ở quận Cam, California đã loan tin như thế. Phân ưu, chia buồn của các văn nhân, thi sĩ gọi là bầu bạn quen biết với chú đã bày tỏ nỗi buồn đau thương tiếc như thế. Cáo phó của Bùi tộc Vĩnh Trinh, Quảng Nam đọc trên đài, đăng trên báo rõ ràng như thế thì còn gì phải hoài nghi về sự ra đi của chú Bùi Giáng nữa?
Vì:
Trùng sinh bất chợt đâu dè
Rằng thiên thu tuyết tê mê ngậm buồn
Thì:
Tặng nhau từ ngữ lạc lầm
Cũng xin hồng lệ hãy đầm đìa tuôn
Thì cũng là lẽ thường tình mà thôi.
Tuy nhiên:
Mất rồi toàn thể dấu bèo    
Ðài gương đi mất mốc meo một mình
Cho nên mặc dù không phải văn nhân, không là thi sĩ, cũng không phải là độc giả trung thành say mê thơ văn hội họa, nhưng chỉ vì một chút duyên sơ ngộ nên thấy cần bày tỏ nỗi niềm để gọi là “cảm phiền khúc nghiệt bấy lâu, tầm sưu túy điệu thành thân một bầu,” mà tạ lòng sơ giao để nhớ về Bùi Giáng, một người chú, một người thầy của tôi đã từ lâu lâu lắm nhưng cũng rất mới, mới hôm nay.
Nỗi niềm của tôi là ghi lại vài kỷ niệm với chú Bùi Giáng và mong nói lên được chút gì về một Bùi Giáng không những ở cái chất ngất một trời chữ nghĩa, trùng trùng một biển văn chương của một đấng tài hoa có ma lực tự nhiên, của một cuồng sĩ có nhiều dưỡng chất cho cuộc sống mà còn là một Bùi Giáng thi sĩ, thực sự đúng nghĩa của nó. Có nghĩa là Bùi Giáng không chỉ làm thơ chuồn chuồn châu chấu, thơ liên tồn, thơ lá cồn, thơ dồn làn gió lúa, rừng Maryilyn, biển Brigitte Bardot… mà Bùi Giáng làm thơ với cung cách bình dị, một cung cách Bùi Giáng, không theo lối mòn nào cả, mà vẫn tải đạo, tải tình, tải nhiều thứ linh tinh gắn liền với cuộc sống của con người, với xã hội, với nước, với non, với thăng trầm của lịch sử Việt Nam rất cập nhật, rất phổ quát, và cũng rất hiện tiền…
Tôi được quen biết chú Bùi Giáng thật tình cờ, thời gian gần gũi cũng không lâu, nhưng có biết bao dấu ấn kỷ niệm mà tôi không thể nào quên được. Lúc đó là thời kỳ toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp nổi dậy (1945-1954) thường gọi là chín năm kháng chiến. Quê tôi thuộc vùng thung lũng sông Lại Giang phía Bắc tỉnh Bình Ðịnh, nằm giữa Liên Khu 5 gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Ðịnh và Phú Yên, dưới sự kiểm soát của Việt Minh tiền thân của Cộng Sản Hà Nội. Với chủ trương tiêu thổ kháng chiến, Việt Minh tiến hành phá hủy các thành phố, các thị trấn lớn trong toàn vùng. Nhà Chúa, nhà chùa, đình thờ, thánh thất và các nhà lợp ngói đều bị dỡ bỏ. Về phía quân Pháp luôn luôn cho máy bay chiến đấu đến khủng bố, giội bom, tạo ra cảnh nhà cháy người chết thật kinh hoàng… Ðó là chưa kể Việt Minh ban hành chánh sách thuế nông nghiệp, phân chia giai cấp trong giới nông dân gồm địa chủ, phú nông, trung nông, bần cố nông, nhằm gây sự mâu thuẫn và hô hào đấu tranh giai cấp giữa các giai tầng xã hội để phát động phong trào đấu tố nhằm tiêu diệt giai cấp địa chủ thường cũng là thành phần trí thức và tịch thu đất đai tài sản của những người giàu có. Nhân dân Liên Khu 5 sống trong cảnh một cổ hai tròng nên thật điêu đứng hãi hùng. Còn quang cảnh thì trông thật tiêu điều xơ xác. Các cửa biển như Ðà Nẵng, Sa Huỳnh, Quy Nhơn là những mũi nhọn mà Pháp thường mở những cuộc tấn công nên dân chúng các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và phía Nam tỉnh Bình Ðịnh thường tản cư về vùng Bắc Bình Ðịnh, thung lũng sông Lại Giang để tạm cư vì nhờ vào cái địa thế hậu phương phòng thủ trời phú của nó. Làn sóng người tản cư này thường là những trí phú địa hào, và trong đó có Bùi Giáng.
Người ta thường nói “đồng bệnh tương lân” cho nên những người cùng chung một hoàn cảnh bị chế độ cô lập, bủa vây và đàn áp tiêu diệt, bị gán ghép là thành phần trí, phú, địa, hào, bị chế độ đào tận gốc trốc tận rễ, thì lẽ dương nhiên họ dễ cảm thông nhau, tìm đến với nhau để an ủi và giúp đỡ lẫn nhau, nếu không muốn nói là họ phải tự kết hợp lại thành một “ thế-lực-mới”để phản kháng lại chế độ. Ông Bùi Giáng và những người thường lui tới với gia đình tôi, thường trò chuyện thân mật với cha tôi, chú bác tôi, lúc thì họ vui vẻ nói cười, lúc thì họ thì thầm to nhỏ trong căng thẳng, chắc chắn là họ đã cảm thông nhau và đang trù tính một công việc gì? Tôi được gặp chú Bùi Giáng trong một hoàn cảnh như vậy.
Nhân đây thiết tưởng cũng nên mở một dấu ngoặc cần làm sáng tỏ vấn đề lịch sử trong giai đoạn nầy mà lâu nay các sử gia phía Cộng Sản cố tình giấu giếm, còn các sử gia phía Quốc Gia thì hời hợt bỏ qua. Ðó là tại sao năm 1954 Cộng Sản rêu rao là chiến thắng trên chiến trường Ðiện Biên Phủ, chiến thắng trên bàn hội nghị với Hiệp Ðịnh Genève phải chia đôi đất nước, nhưng Cộng Sản lại bỏ lại phần đất Liên Khu 5 mà họ vốn nắm giữ, kiểm soát rất chặt? Ðó có phải là vì cái “thế-lực-mới” phản kháng lại chế độ của tầng lớp trí phú địa hào tại Liên Khu 5 hay không? Bằng chứng còn sờ sờ với vụ án lúc đó Cộng Sản gọi là “Vụ gián điệp Bình Ðịnh, vụ Việt gian, hay vụ án Kim Châu” với gương hy sinh của những người lãnh đạo trong tổ chức như Ðoàn Ðức Thoan, Nguyễn Hữu Lộc, Võ Minh Vinh, Ðoàn Thế Khuyến… Linh Mục Trịnh Hoài Ân, Thượng Tọa Thích Huyền Quang… vẫn còn đó và biết bao chiến sĩ can trường khác của Liên Khu 5 còn lại hay tiếp bước ngày nay, dù ở trong nước hay đang tại hải ngoại vẫn luôn luôn chống đối.
Hồi đó tôi chỉ là một đứa trẻ mới lên bảy lên tám tuổi, hằng ngày thường bị cha tôi“quản thúc” bằng cách bắt phải ngồi vào bàn học, viết cho xong mấy trang tập viết chữ Việt và chữ Nho, làm cho xong năm mười bài toán rồi mới cho “tự do.” Những bài tập viết mà cha tôi phóng ra thường là những câu thơ cổ của nhiều tác giả từ Hồ Xuân Hương tới Nguyễn Du, từ Thôi Hiệu tới Lý Bạch nhưng chính yếu là trích từ Truyện Kiều và quyển Tam Thiên Tự… Một hôm, trong khi cha tôi đang tiếp chuyện với những người bạn tản cư từ phương xa đó thì chú Bùi Giáng đến chỗ tôi ngồi học, chú bảo: “Ðể tao phóng cho mi một bài “và cũng từ đó mỗi khi đến chơi nhà tôi, chú thường phóng cho tôi những bài thơ mới. Những bài của chú Bùi Giáng phóng cho tôi viết so với những bài của cha tôi là hai thế giới khác biệt. Thơ của chú thật trẻ trung, gần gũi với tuổi thơ chúng tôi, nào chuồn chuồn châu chấu trên đồng, nào mía mưng quanh nhà, nào con cá trong mùa nước lụt mưa dầm, nào con voi gầm trên núi trong rừng sâu thẳm, nào lá hoa trên ngàn, nào sương xuống trên đồng, cô gái lội qua khe… nhưng cũng rất kỳ lạ, cao siêu và sâu thẳm đối với tâm hồn non nớt của tôi.
Tôi nhớ mãi có một lần chú Bùi Giáng phóng cho tôi bài “Lá Hoa Cồn,” chỉ có bốn câu:

Kìa kìa gió lúa dồn làn
Ruộng em như thể sương Hoàng Hậu hoa
Ðòng đòng lúa mọc Tháng Ba
Trước cồn lá đổ về hoa lá cồn
Tôi nói với chú, hồi giờ chỉ nghe nói gió nam, gió nồm, gió bấc chứ làm gì có gió lúa? Còn sương thì có sương mù, sương muối, sương gió, sương phụ chứ làm gì có sương Hoàng Hậu hoa? Còn những chữ dồn làn, lá hoa cồn, liên tồn… của chú mà nói lái lại thì nghe thật tục tĩu? Chú mỉm cười thật hiền hậu rồi dắt tôi ra phía trước nhà. Hai chúng tôi đứng giữ một biển lúa đang kỳ đòng đòng trổ bông. Nhìn cánh đồng xanh phủ đầy bông trắng của mùa Tháng Ba, tôi mới cảm nhận được cái “nghị thị địa thượng sương” cũng là cái “ruộng em như thể sương” để so sánh với hoa trong vườn của Hoàng Hậu. Một cơn gió thổi qua, chú Bùi Giáng chỉ tay về phía trước mặt, những làn sóng lúa nổi lên trên mặt đồng, xô nhau chạy dồn về mãi tận chân đồi núi. Thì ra thế! Và tôi “tức khắc được khai ngộ,” cảm nhận gió lúa là gì và tại sao lại là dồn làn. Chú lại chỉ tay về phía cồn đất Phú Văn nơi giao nhau của ngã ba sông Kim Sơn, An Lão và Lại Giang. Không biết bị thôi miên, ảo tưởng hay là thực tại nó như vậy, trước mắt tôi nơi cồn đất những chiếc lá vàng đang lác đác rơi từ trên những cây cao xuống, bên dưới là ruộng bắp cũng đang độ trổ cờ, có cả hoa đồng cỏ nội mọc đầy bên sông. Như vậy không phải cái cảnh lá từ trên cao rơi xuống để trở về với lá hoa của cồn nọ của dặm kia thì là cái gì!
Chú Giáng bảo: “Thơ văn hay là ở chỗ ẩn ngữ của nó, ẩn ngữ của ngôn, vô ngôn mà ẩn ngữ, cảm thông được cái ẩn ngữ vô ngôn thì hiểu thơ văn không khó!”
Tôi thích nhất những bài thơ của Bùi Giáng có dính dáng đến quê tôi, những bài thơ nầy tôi thuộc nằm lòng đến nay vẫn còn nhớ, như bài:

Nhớ Sương Hồng Hạnh
Nhớ sương hồng hạnh trên gò
Tháng Năm nằm nghĩ tối mò căm căm
Hồn mang mang hận mười năm
Ðể cho thu nhớ hạnh năm xưa hồng
Hoa từ cây tản cư trồng
Cây vun Gia Cát đá chồng khe Rinh
Kể hoa thay gió phượng đình
Từ thơ ấu lại bên mình Trung Lương
Con voi gầm núi An Thường
Bỏ xa bảy cõi trên đường chia tay
Tỉnh, Hà nguyệt xuống canh lay
Một giờ nguyên mộng về hây hây chìm.
Lẫn Lộn Lung Tung
Tôi gọi Mỹ Tho là Mỹ Thỏ
Mỹ Thọ muôn đời là Lục Tỉnh hôm nay
Tôi gọi Sóc Trăng là Sóc Trắng
Gọi nàng sương phụ gái thơ ngây
Tôi sẽ ra đi bỏ lại đời
Mỹ Tho, Mỹ Thọ, Sóc Trăng ơi!
Mỹ Thỏ muôn đời là Sóc Trắng
Gái mặc quần ra đứng ngó trời
Những từ Gia Cát, Khe Rinh, Trung Lương, An Thường, Hội Tỉnh, Hà Tây, Mỹ Thọ, Sóc Trắng… là tên những thôn làng, buôn sóc ở quê tôi, để lẫn lộn với Mỹ Tho, Sóc Trăng của Lục Tỉnh Miền Nam. Nhưng nó lại nói lên cái gắn bó của Bùi Giáng với “quê hương tản cư” của ông…
Rồi bỗng nhiên không thấy chú Bùi Giáng cũng như những người bạn tản cư từ phương xa của cha tôi đến nữa. Một đêm công an đến bắt cha tôi dẫn đi. Lòng tôi nghi hoặc buồn bã, không biết chú Bùi Giáng và những người bạn của cha tôi có cùng chung số phận tù đày như cha tôi không? Sau đó nhiều sự kiện dồn dập xảy ra, những đứa trẻ còn non nớt như tôi tiếp thu thêm được nhiều điều mới lạ của cuộc đời như tố khổ, đấu tố, địa chủ, bần cố nông, đình chiến, Hiệp Ðịnh Genève, hồi cư, tập kết, cửa Tùng, Bến Hải, cách mạng, anh hùng, phản động, Việt gian, gián điệp… nhưng cái sự kiện lớn nhất là đất nước bị chia đôi. Tháng Năm 1955, Việt Minh tập kết ra Bắc theo chế độ Cộng Sản, chính quyền Quốc Gia tiếp thu Liên Khu 5 với chính thể Cộng Hòa… Mãi đến những năm đầu của thập niên 60 ra thị trấn Bồng Sơn, học lên bậc trung học, tôi thấy nhiều tập thơ của tácgiả Bùi Giáng bày bán ở nhà sách Văn Ðàn của thầy dạy nhạc Trần Ðình Cang, tôi mới biết rằng chú Bùi Giáng hãy còn sống. Những năm sau của 60 vào Sài Gòn tiếp tục bậc đại học, tôi có gặp lại chú Bùi Giáng và thỉnh thoảng có đến thăm chú, nhưng lúc nầy tôi phải quyết trả cho xong “cái nợ cầm thư” để chạy theo con đường công danh trước mắt nên ít khi cùng chú nói những chuyện lãng đãng như gần như xa… Sau biến cố 30 tháng 4, 1975, nhiều người đã thấy Bùi Giáng trên đường phố Sài Gòn, nhiều người đã viết về Bùi Giáng, tất cả đều cho rằng Bùi Giáng đã điên. Chính Bùi Giáng đã là tác giả những bài thơ Người Ðiên, Lời Người Ðiên, Người Ðiên Say Rượu, và nhất là bài Giọng Quảng Nam Nói Ngọng ông đã viết:

Doáng bao diêu tuổi Doáng già
(Giáng bao nhiêu tuổi Giáng già)
Ðiêng bao nhiêu tuổi gọi là điêng non
Người còn thì của hãy còn
Còn thèng Bùi Doáng hãy còn cái điêng
Vậy thì một Bùi Giáng đương đại mà chúng ta bắt gặp phải là một người điên? Thậm chí tại Hoa Kỳ trong thập niên 90, một vị bác sĩ tại Florida đã viết một bài về Bùi Giáng và cho rằng Bùi Giáng là người điên và thơ Bùi Giáng có tác hại xấu cho văn hóa Việt Nam. Hãy bỏ qua cái phần thể phách, điên hay không điên, vì nó thuộc về lãnh vực y học phải căn cứ vào y chứng và thử nghiệm về bệnh lý thì mới biết được, còn nói về thơ Bùi Giáng có tác hại xấu cho văn hóa Việt Nam thì cần phải bàn cãi. Có điều tôi biết chắc rằng nếu Bùi Giáng có đọc được, có nghe được tất cả những gì mà người đời nói về ông, về thơ ông, chắc chắn ông chỉ mỉm cười mà thôi. Bởi vì ông đã từng khai tâm cho tôi: “Biển học không có bến bờ, còn sự hiểu biết của con người cũng ví như khi ta đứng trước sân nhà, ta chỉ thấy cái mảnh vườn của nhà ta;khi ta đứng trên nóc nhà, ta có thể nhìn được những mảnh vườn của nhà người hàng xóm; nếu ta đứng trên một ngọn đồi, ta có thể nhìn thấy khắp cả thôn làng; còn nếu ta leo được lên đỉnh núi cao kia ta có thể nhìn ra tận biển…!” Người đời nhìn Bùi Giáng ở một thằng điên. Người ta tổ chức những đêm Bùi Giáng, lễ tưởng niệm Bùi Giáng, bình thơ Bùi Giáng, nhìn Bùi Giáng hời hợt với lớp vỏ ngoài, lớp áo lòe loẹt được ngụy trang xa lạ với đời thường, hoặc đánh giá quá cao xa huyền hoặc về một Bùi Giáng bình thường đang sống trong một xã hội hiện thực. Cũng có thể như vậy nhưng không thể bỏ qua cái Bùi Giáng là một con người, một con người cũng nổi trôi theo vận nước, một con người biết làm thơ và thơ ông cũng phô diễn tất cả cái nhìn của mình về cuộc đời hiện thực dưới mọi khía cạnh của nó. Có người nói Bùi Giáng của những năm 90 đã xa lắc với bến bờ của thủa Mưa Nguồn. Ðiều nầy đúng bởi vì thời cuộc đã đổi thay trên đất nước thì một thi hào như Bùi Giáng làm sao lại không có cái rung động tự tâm hồn trước những phong ba bão táp tàn khốc đến với một dân tộc. Nếu không thế thì tại sao Bùi Giáng lại có được những vần thơ đi sát với những biến động thời cuộc của lịch sử trong thời gian qua.

Thượng thừa trời mọc cỏ hoa
Ðất riêng đùa rỡn khói và đạn bom
Cõi đời bước tới Hoàng Hôn
Ði về Thế Dạ bồn chồn lửa thiêng

(Thơ BG, Thế Kỷ 1994, trang 70)
Chỉ bốn câu nầy cũng không đủ nói lên được cái chiến tranh khốc liệt của đạn bom giữa Quốc-Cộng vừa qua hay sao?

Bình sinh cuộc sướng cơn vui
Trận điêu tàn tới chôn vùi tử sinh

(Thơ BG, TK 94, trang 36)

Từ bốn bể tới cong queo riêng một
Nước Việt Nam hình chữ S u sầu
(Thơ BG, TK 94, Trang 38)

Ðây không phải ám chỉ một nước Việt Nam đang sống trong hạnh phúc, thanh bình, thì ai đã tràn vào gây nên cảnh điêu tàn chết chóc và biến Việt Nam thành thảm cảnh u sầu hay sao?
Ông Vua kỳ bí thập thành
Vì điên quá độ nên thành Vua điên
Ông Vua kỳ quỷ thập thành
Vì say quá độ nên thành Vua say
Ông Vua quái dị thập thành
Rong chơi quá độ nên thành Vua chơi
Ông Vua dị dạng thập thành
Bình sinh quậy phá tử sinh láng giềng
Ông Vua gian khổ trường kỳ
Thành thân chủ tịch nhu mì năm châu

(Thơ BG, TK 94, Trang 84)
Thì còn bài thơ trào phúng nào hay hơn để mỉa mai những tên lãnh đạo… bên ngoài khéo léo khoác chiếc áo mị dân, miệng họ luôn nói: vui sau cái vui của dân, khổ trước cái khổ trường kỳ của dân. Ðến nỗi năm châu đều lầm tưởng họ là những vị lãnh đạo nhu mì nhưng thật sự họ là những tên bạo chúa hơn cả thời phong kiến, với cái bản chất quỷ quyệt, quái dị, đàng điếm chỉ biết phá hoại gây chết chóc tang thương cho các nước láng giềng, cho nhân loại mà thôi.
Yêu cầu cô bán cho tôi
Một bó rau muống chịu chơi quê nhà
Thượng thừa nước Việt Nam ta
Rau nầy sẽ xuất khẩu ra muôn trùng

(Thơ BG, TK 94, Trang 61)
Ðây có phải cái mỉm cười của tác giả khi nhìn bức tranh kinh tế của Việt Nam sau 1975 không? Khi mà nhu cầu nhỏ nhoi thiết thực của dân chúng như mua một bó rau muống, một cây đinh cũng phải xếp hàng chờ đợi hàng giờ nhưng chưa chắc đã mua được. Còn gạo là nhu cầu thiết thân của người Việt Nam cũng chỉ mua được một số lượng nhỏ đúng với sự bình bầu đã quy định. Nhưng để giải thích cho việc bắt dân phải ăn đói và cái bất lực của Nhà Nước Cộng Sản trong việc phát triển kinh tế và quản lý đất nước thì người ta được nghe những lời ngụy biện là mọi thứ đều cần cho nhu cầu xuất khẩu.

Ngày bỏ bớt đêm bù thêm
Thêm thêm bớt bớt đáp đêm đền ngày
Bốn mùa lần lượt cho hay
Rằng Xuân chớm đến trầy trầy chợt đi

(Thơ BG, TK 94, Trang 61)
Cũng là cái cười mỉa mai cho cái thành quả lao động đã đạt được trong bốn quý-là sự thất bại ê chề; mặc dù Ðảng và Nhà Nước luôn động viên nhân dân từ nhà máy đến công trường, từ nông trường tới nhà tù cải tạo và luôn kêu gào “làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm, nếu làm không xong làm thêm ngày nghỉ. ”

Và cũng bắt nguồn từ cái cảnh:
Người cà chớn kẻ uy nghi
Người trang trọng kẻ lâm li khóc hoài
Khóc hoài khóc mãi không thôi
Khéo dư nước mắt khóc người đâu đâu.

(Thơ BG, TK 94, Trang 92)

Do đó, đồng bào trong cả nước, nhất là Miền Nam Việt Nam không thể ngồi nhìn những tên cà chớn làm kẻ uy nghi, ăn trên ngồi trước còn người trang trọng, người lương thiện phải chịu cảnh áp bức lầm than nên họ đã phải đi tìm những cái gì tốt đẹp: Tự Do, Dân chủ, Hạnh phúc.
Ở bên non nước Hoa Kỳ
Thiếu gì du lịch thiếu gì cuộc vui

(Thơ BG, TK 94, Trang 107)
Cho nên mới có cảnh hàng trăm ngàn người bỏ nước ra đi dưới mọi hình thức vượt biên, vượt biển chấp nhận mọi gian khổ hiểm nguy.
Láng giềng gần cõi miền xa
Tiêu tao xứ sở từ ta tặng người
Ði về bếp lửa chia phôi
Lắng nghe tâm sự bồi hồi năm xưa
Người đi ta ở lại nhà
Mây trời phảng phất đầu hoa cuối cùng
(Thơ BG, TK 94, Trang 99)

Mưa nguồn lạc xóm lầm thôn
Lọ là thâm tạ bồn chồn tri âm
Xót người còn chút thích thân
Bấy lâu kẻ Việt người gần người xa
Bấy lâu kẻ Mỹ người Nga
Lầm sương lạc tuyết từ ta tặng người

(Thơ BG, TK 94, Trang 97)
Cảnh người đi kẻ ở cũng làm cho tác giả bồi hồi và cũng mong một ngày mai đoàn tụ.
Nay mai người sẽ ra đi
Tôi ngồi tưởng niệm người về mai sau

(Thơ BG, TK 94, Trang 79)
……….
Thơ Bùi Giáng lại có những lời thơ như tiên tri:

Chép tờ thạch lựu từ bi
Hồn ca vũ địa lối về long quân
Xuân Kỷ Tỵ hội từng bừng
Hồi sinh non nước lẫy lừng Việt Nam
Tới nay từ bấy giang sơn
Lưu ly đất khách hội đàm vu vơ
Tưởng bây giờ là bao giờ
Tài hoa tuyệt đỉnh bao ngờ cô nương
Chép tờ địa lý còn vương
Hùng tâm thục nữ thuyền quyên thiên tài
Có phải Bùi Giáng muốn nói đến năm Kỷ Tỵ (2049), 34 năm nữa hay 60 năm thêm! sẽ xuất hiện một phụ nữ Việt Nam với tài hoa tuyệt đỉnh sẽ làm cho đất nước hồi sinh, sẽ làm cho Việt Nam lẫy lừng ? Thế hệ của chúng ta, những “ngụy quân, ngụy quyền” chắc không chứng kiến được. Nhưng Việt Nam phải trường tồn và con cháu chúng ta phải hãnh diện mình là người Việt Nam.
Tóm lại, dù Bùi Giáng được nhìn dưới những nhãn quan khác nhau nhưng tất cả đều phải nhận rằng Bùi Giáng là một thi sĩ, và trong cõi thơ văn ấy ông đã biểu lộ một cung cách rất khác thường từ ngôn ngữ tới bút pháp, từ diễn đạt tới suy tư và tất cả được phát tiết trong một cung cách rất Bùi Giáng, nghĩa là rất tài hoa, rất bình dị, rất táo bạo, và rất bất ngờ. Chính vì thế mà kể từ Bùi Giáng, thi ca Việt Nam có được cái kỳ ảo, lạ lùng. Những cái cao siêu sâu thẳm trong thơ Bùi Giáng nếu chưa khám phá tới thì chưa phải là cái tác hại đối với nền văn hóa nước nhà. Nói đến Bùi Giáng thì nói khôn cùng!
Bùi Giáng đã vĩnh viễn ra đi! Xin mượn bốn câu thơ sau đây thay lời kết để bày tỏ nỗi niềm “Hoài Niệm Bùi Giáng”:
Hôm nay ly biệt vân mồng
Ðầm đìa hồng lệ sầu đong vơi đầy
Xuân xanh về khóc giữa ngày
Giữa đêm dưới nguyệt trầy trầy tuyết sương.
(Little Saigon, tháng 10 năm 2015)

SIÊU TRĂNG (Đoàn Minh Hùng) & CHỜ (Vĩnh Phố)



SIÊU TRĂNG
Đoàn Minh Hùng

Sáu, bảy mươi năm đón siêu trăng.
Thiên hạ chờ mong thấy một lần.
Ô kìa, vừa nhú to to thế!
A há, lên cao nhỏ nhỏ dần!
Nguyệt rằm mấy thuở phô dáng ngọc.
Gái xuân đôi lúc lộ ngà thân.
Cảnh đêm nhộn nhịp người chiêm ngắm.
Canh khuya mộng đẹp...thắm tình trần.
Rằm tháng Mười-Bính Thân
*Ảnh sưu tầm










 CHỜ.... 

Chim về Núi Nhạn bao giờ 
Ngẩn ngơ ta hỏi ta chờ ta mong 
Dòng Ba cũng muốn cạn dòng 
Hèn chi lũ Nhạn đã vòng biển xa 
Hèn chi em lỗi hẹn ta 
Mười năm tình cũ 
Là nghìn chia xa.... 
Chim về Nhạn Tháp hôm qua 
Còn em lẳng lặng biệt ta.....kiệm lời....

Vĩnh Phố
TUYHOA 2/10/2016



ĐỨA CON DỊ CHỦNG (Minh Đạo & Nguyễn Thạch Hãn)



                     Đứa Con Dị Chủng
Tác giả:
Minh-Đạo & Nguyễn Thạch-Hãn
Tác giả đã góp một số bài viết đặc biệt về chuyện đời tị nạn, và được đề cử vào danh sách chung kết Viết Về Nước Mỹ 2011. Bút hiệu gồm 2 người: Minh-Đạo là một vị cao niên 86 tuối, viết lách cho... vui, trong khi Nguyễn Thạch Hãn, cư dân Houston, Texas sinh năm 1945, là một cựu sĩ quan Pháo Binh VNCH, hiện làm việc trong một công ty Energy tại thành phố Houston. Sau đây là bài viết mới nhất của ông.
***

Dr. Michael Salvatore
Lúc gần đây báo chí và các đài TV Việt ngữ bán tán xôn xao về ông Phó Thủ Tướng Đức gốc Việt. Tôi thật sự cảm động muốn khóc, không phải vì ông là người có tài, đẹp trai, ăn nói khôn ngoan hay làm lớn mà vì nếu cha mẹ nuôi không mang ông về Đức, chắc hôm nay ông cũng đã là kẻ lang thang đầu đường xó chợ ở một nơi nào đó trên đất nước Việt Nam.
Bạn tôi muốn kể cho quý vị nghe về một đứa trẻ bụi đời, lang thang đầu đường xó chợ trên đất Hoa Kỳ, nhờ mẹ nuôi Việt Nam mang về chăm sóc, dậy dỗ đã trở nên người hữu dụng.
Tôi lượm được thằng Michael ở bên xa lộ 45 South Trên đường từ Houston đi Clear Lake. Dạo đó vào khoảng năm 1982, tôi mới ra trường và bắt được một job thơm phức làm cho cơ quan NASA ở Houston trong Mision Control Center, do một ông bạn học cùng lớp giới thiệu. Cuộc đời tôi gặp bao nhiêu là may mắn bất ngờ, đúng là trời cho. Cho nên tôi vẫn nhớ ơn ông Trời, cố gắng học làm người tử tế, dù có chịu thiệt thòi một chút cũng cam lòng.
Số là hôm đó tôi đi làm trễ, vừa từ xa lộ rẽ vô NASA road 1, thấy một thằng nhóc đi bộ lang thang bên lề đường, vai mang túi sắc to tướng, kiểu túi sắc quân đội, như ngày xưa tôi nhận được khi mới vào trường Võ Bị. Nhóc đưa ngón tay cái lên ngoắc ngoắc xin quá giang. Tôi vội dừng xe lại hỏi:
-Mầy muốn quá giang hả?
-Yes, Sir!
Hắn vội vã quăng cái “sắc” quần áo ra sau xe truck, với tay mở cửa và nhảy phóc lên ngồi cạnh tôi. Mùi mồ hôi bốc lên nồng nặc. Không chịu nổi, tôi phải quay vội cửa kiếng xe xuống. Tôi hỏi chàng “Trẻ Tuổi Bụi Đời”:
-Mày muốn đi đâu?
-Đi đâu cũng được!
-Nhà mày ở đâu?
-Tôi không có nhà, mới từ OMAHA quá giang xe xuống đây.
Tôi nghĩ trong bụng:’Gặp thứ thiệt rồi”.
-Tao phải đi làm bây giờ, thôi tao thả mày xuống Clear Lake Park, ở đó có đủ cả phòng vệ sinh và chỗ che mưa nắng đến trưa tao kiếm cái gì cho mày ăn.
Bà xã tôi hay cằn nhằn về vụ cho mấy tay “bụi đời” quá giang xe. Kể ra thì cũng nguy hiểm, chẳng may gặp anh chàng khùng nào đó coi mạng người như cỏ rác, vậy là giống như trứng giao cho ác! Nhưng tôi quan niệm khác, sống chết có số, ngày xưa lúc còn xông pha trận mạc, mình đâu có tránh đạn được, toàn là đạn tránh mình thôi. Cho nên mỗi khi lái xe một mình, gặp người xin quá giang, nếu thuận tiện tôi vẫn “dzớt” như thường. Kể như đền ơn những người từng cho tôi quá giang hồi mới chân ướt chân ráo bước chân đến đất Mỹ này. Hồi đó, mỗi ngày đi làm phải lội bộ hàng mấy cây số trên đường đầy tuyết. Nếu gặp xe nào cho quá giang thôi mừng hết lớn.
Từ sở làm đến hồ Clear Lake chỉ mất vài phút lái xe, tôi vẫn hay ra đó ăn trưa, dỡn với mấy con chim hải âu bằng cách liệng lên cao một miếng bánh mì sandwitch thế là cả đám nhào xuống kiếm mồi, bu lại chung quanh, tôi chỉ vung tay ra cũng túm được một chú. Đôi khi buồn ngủ quá bèn đánh một giấc như “Những Ngày Xưa Thân Ái”.
Buổi trưa tôi mua 2 phần ăn rồi lái xe đi kiếm “Chàng Bụi Đời”. Đậu xe vào parking, nhìn ra mấy bàn picnic sát bờ hồ, thằng nhóc ngồi đó đang chăm chú xem cuốn album cũ nát. Thấy tôi đến, nhóc vội đứng lên chào và rất mừng rỡ, có lẽ vì túi đồ ăn khá lớn tôi mang đến. Hắn đưa cho tôi cuốn album và giải thích:
-Tôi thấy sau kiếng xe của ông có gián cái huy hiệu nhảy dù, chắc ông là người Việt Nam?
-Sao mày biết?
-Ba tôi cũng từng chiến đấu ở ViệtNam, trên mũ cũng có cái huy hiệu giống như cái ông gián sau xe. Đây ông xem có đúng không?
Hắn vừa nói vừa chỉ vào tấm hình chụp một chàng lính Mỹ mặt non choẹt, trên dưới 25 tuổi, đầu đội mũ đỏ của lính nhảy dù ViêtNam thời xưa, cổ áo mang hai bông mai vàng đàng hoàng. Nếu không có cái mặt Mỹ ai dám bảo không phải là lính nhảy dù VN?
Tôi nhìn tấm hình thấy quen quen, đúng là thằng Doug Salvatore, Trung Úy trong ban Cố Vấn của tiểu đoàn tôi. Sở dĩ tôi nhớ tên anh ta vì hắn hiền khô ít nói, rất thích đội chiếc mũ đỏ nhẩy dù lệch hẳn qua một bên, gặp ai trong tiểu đoàn bất kể cấp bậc, cũng dơ tay chào miệng lẩm nhẩm “hảy đù kú gắn” . Ai cũng cười hiểu rằng hắn muốn nói “Nhảy Dù cố gắng”, Doug cũng cười theo. Hắn hiền khô ít nói, nhưng mỗi khi nhờ gì hắn đều giúp đỡ tận tình, từ việc gọi hải pháo, phi vụ oanh kích, máy bay tải thương đến xin vật liệu xây cất doanh trại. Mấy chiếc xe của tiểu đoàn hết bình điện muốn nổ máy, kêu hắn đến là xong ngay, đẩy xe chạy băng băng một chút xíu, thả chân số là nổ máy liền. Hắn có thêm một biệt danh khác là “cargo 5 tấn”, ý nói mạnh như xe vận tải 5 tấn. Thỉnh thoảng hắn còn mua tặng tôi cả đồ trong PX nữa. Lính trong tiểu đoàn gọi hắn là “Đất”. Biệt danh đó cũng gần giống với tên thiệt. Mỗi lần gọi “Đất” hắn chỉ nhe răng ra cười. Sau này biết được ý nghĩa của chữ “Đất” hắn càng thích thú hơn, Một lần tôi hỏi hắn, sao tên của bạn là Salvatore, hơi giống như Salvadore vậy, thế bạn có phải gốc Nam Mỹ không? Hắn nói chẳng có liên quan gì cả, tổ tiên hắn đến từ Tây Ban Nha.
Hắn đã cứu tiểu đoàn tôi nhiều lần trong các cuộc hành quân thời “Mùa Hè Đỏ Lửa” nhờ xin được kịp thời những phi vụ yểm trợ vũ bão từ đệ thất hạm đội hay từ căn cứ Utapao bên Thái Lan.
Trong trận giải cứu An-Lộc, tuyến phòng thủ của đại đội bị chọc thủng. Tôi bị một mảnh cối vào bụng, cắt hết nửa lá gan, máu ra lênh láng. Thằng Đất một tay bắn M16, một tay kéo tôi vào gốc cây cao xu. Hắn xin trực thăng tải thương vào bênh viện dã chiến Mỹ, nếu không tôi chắc đã đi luôn rồi. Tôi mang ơn cứu tử của Đất từ ngày ấy. Sau trận An Lộc, hắn về Mỹ. Tôi mất liên lạc với hắn từ ngày tan hàng. Bây giờ lại gặp con hắn ở đây, đúng là số Trời. Tôi mừng rỡ ôm lấy thằng bé, hỏi cuống quýt:
Tao là bạn của Doug, ba mày bây giờ ở đâu?
Hắn rớm nước mắt:
-Ba tôi chết cách nay 5, 6 năm rồi.
-Kể tao nghe đi, sao vậy?
-Ổng bị đụng xe trên xa lộ bởi một người say rượu, chết ngay tại chỗ.
-Má mày đâu mà để mày đi lang thang như vầy?
-Má tôi có chồng khác, tôi không thể sống với cha ghẻ nên bỏ nhà ra đi.
-Mầy đi má mầy có biết không?
-Cả nhà còn ngủ, nào ai biết.
-Mầy còn nhớ số phone nhà không.
-Tôi có đây, nhưng giá nào tôi cũng không về đâu.
-Tao đâu có nói là bắt mầy về nhà, chỉ là gọi cho má mày yên tâm thôi, để bả khỏi báo cảnh sát, mầy hiểu không?
-Dạ hiểu.
-Thôi được rồi, quăng đồ đạc lên xe rồi đi theo tao.
Tôi dẫn thằng bé lại Motel 6 và book cho nó một đêm, thủng thẳng tính kế giúp đỡ. Dù sao nó cũng là con của người bạn đã có ơn cứu mạng với tôi, tôi quyết tâm cứu lại con bạn.
Có câu của Phật dạy “xây 7 cái gì gì đó, cũng không bằng cứu cho một người” * Biết đâu cha nó đã dẫn nó lại cho tôi? Tôi dặn thằng bé, tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo đàng hoàng, chờ tôi sẽ tới đón nó trong vòng 2 tiếng đồng hồ nữa.Tôi lái xe về sở, nói chuyện hoàn cảnh của thằng nhóc với xếp và mấy người bạn làm cùng nhóm, xin xếp cho nghỉ vài ngày để giúp đỡ nó. Mỗi người khuyên một câu, đại khái nói tôi phải cẩn thận với mấy đứa trẻ bụi đời. Chúng nó có cả ngàn chuyện rắc rối, hút sách, đánh lộn, cướp giựt, có khi nó còn thưa ngược lại là mình lới dụng làm chuyện bậy bạ v…v…Tôi đã quyết tâm cứu nó nên bỏ ngoài tai tất cả những lời khuyên chân thành đó. Tôi chở thằng nhóc vào sở và giới thiệu với mọi người, đồng thời gọi điên thoại cho mẹ nó, cho biết nó đang đứng cạnh tôi và muốn nói chuyện với bà.
Tôi tránh ra một nơi để hai mẹ con nói chuyện được tự nhiên. Một lúc sau trở lại, nhóc nói mẹ nó muốn đươc tiếp chuyện tôi. Bả ngỏ ý trao toàn quyền cho tôi và cầu xin tôi giúp cháu, bởi vì đời sống trong nhà bà như ở địa ngục, cha ghẻ con ghẻ không ngày nào là không gây gỗ nhau. Tôi chấp nhận lời khẩn cầu của bà, yêu cầu bà viết cho tôi tờ giấy, giao thằng Mike cho tôi, hứa không kiện tung gì cả và phải có thị thực chữ ký đàng hoàng. Tôi cho bà địa chỉ nhà tôi, số điện thoại sở và phone nhà, cần gì cứ gọi cho tôi biết. Tôi nghĩ, có thể sẽ gặp rất nhiều rắc rối sau này, nhưng chấp nhận vậy. Xưa kia tôi đã từng chấp nhận biết bao rủi ro nguy hiểm khi ra trận, bây giờ có chút đỉnh nhằm nhò gì?
Tôi phân vân không biết có nên nói thiệt với bà xã không? Chắc phải nói rồi, nhưng dẫn nó về nhà chắc là bả không thể nào chấp nhận được.Đành phải gởi thằng nhỏ lại bà chị. Chị có một quán ăn VN. Khi còn ở quê nhà, chị cũng mở nhà hàng nho nhỏ, từng nuôi nhiều tay anh chị trong quán cho nên du đãng không đứa nào dám phá phách hay đòi đóng hụi chết!. Tính tình chị phóng khoáng cởi mở, mấy đứa du thủ du thực đều nể mặt.
Buổi chiều, tôi dẫn thằng nhóc lại nhà hàng, kêu cho nó một dĩa cơm đồ biển thật to, thằng nhóc chỉ ăn một loáng là hết sạch, như thể đã nhịn ăn cả tháng rồi. Dặn nó ăn xong cứ ngồi đó. Đợi vãn khách, tôi gặp chị, nói rõ hoàn cảnh của nó xin chị mở rộng tay cứu giúp nó, chỉ có chị mới giúp được nó thôi. Xin chị cho nó một chỗ ở tạm, còn mọi thứ khác tôi sẽ lo. Chị hơi lưỡng lự một chút, thở dài:
-Thôi được, sau khi đóng cửa tiệm, cậu chở nó về nhà, chúng ta sẽ nói chuyện với nó.
Tôi mừng rỡ quá xá, cám ơn chị rối rít, tôi quay đi để che giòng lệ tuôn trào, chị lúc nào cũng quan tâm và che chở bao bọc tôi. Cha mẹ mất sớm, chị săn sóc và nuôi nấng tôi như mẹ, lúc nhỏ tôi vẫn sống với chị cho đến khi nhập quân ngũ. Những lần bị thương thập tử nhất sinh chị vẫn là người bên cạnh tôi. Lớn lên mỗi khi gặp rắc rối trong cuộc đời, tôi đều chạy đến chị. Thật là Ông Trời đã cho tôi một bà chị để thay thế mẹ. Chị góa chồng từ năm 1970, ở vậy nuôi ba đứa con trai. Tôi và gia đình chị đã may mắn thoát được trong những giờ phút cuối cùng của miền nam, nhưng đứa con thứ nhì của chị đã ra đi vĩnh viễn trên đường vượt biên, trong lúc con tàu còn lênh đênh trên đại dương. Qua Mỹ, hai chị em xin được việc làm trong một nhà hàng tàu. Chị phụ nấu bếp, còn tôi làm chân “chạy bàn”. Chị bắt tôi phải đi học, chỉ cho làm cuối tuần thôi. Nhiều khi thấy chị vất vả quá, tôi xin chị cho tôi nghỉ học để phụ giúp gia đình nhưng chị cương quyết từ chối. Chị nhắc nhở tôi đó là bổn phận của chị đã được cha mẹ giao phó trước khi nhắm mắt, phải lo cho tôi ăn học đến nơi đến chốn, thành gia thất đàng hoàng, nếu không sau này làm sao nhìn mặt các người nơi suối vàng. Mỗi năm, vào ngày giỗ cha mẹ, chị bắt tôi phải thề trước vong linh các Người là không được bỏ học dù bất cứ hòan cảnh nào, cho nên tôi cố gắng học, vật lộn với tiếng anh tiếng u, những phương trình đại số và toán giải tích. Những thứ đó chỉ còn lờ mờ trong trí óc cằn cỗi của tôi sau bao nhiêu năm lăn lộn ngoài chiến trường. Nhiều khi làm bài không kịp phải ngủ đêm ngay tại trường trong các phòng học. Có lần mệt mỏi quá, tôi đã ngủ gục khi lái xe về nhà, rõ ràng tôi đã thắng xe lại khi đến đèn đỏ, thế mà vẫn tông vào đít xe trước mặt. Báo hại phải năn nỉ chủ xe rồi bỏ tiền túi ra thường. Đã bao lần tôi muốn bỏ cuộc nhưng tôi tự nhủ “Nhảy dù cố gắng!” nhưng phần lớn vẫn là không muốn phụ lòng mong ước của chị. Ngày tôi ra trường, khi nhìn thấy tôi được gọi tên lên lãnh bằng, chị là người la to nhất hơn cả mấy đứa nhóc. Chị sung sướng hơn cả tôi, tôi ra trường, nhưng mảnh bằng là của chị, công lao là của chị. Hai chị em ôm nhau chụp hình kỷ niệm mà nước mắt chị ướt trên ngực áo tôi. “Thế là tâm nguyện của chị đã thành, chỉ còn việc cưới vợ cho cậu nữa là xong” chị nói với tôi như thế trong buổi tiệc ăn mừng. Tôi đã già đầu rồi, bao nhiêu năm chiến trận, đã từng chỉ huy hơn một đại đội nhảy dù, thế mà chị vẫn nghĩ tôi còn con nít.
Trở lại chuyện thằng nhóc, 10 giờ tối, tiệm bắt đầu dọn dẹp đóng cửa. Tôi dẫn nhóc lại giới thiệu với chị và xin phép chị chở thằng nhóc về nhà trước.
Tôi cắt nghĩa qua loa về phong tục tập quán của người Việt, kính trọng người lớn tuổi hơn mình, nhất là người già cả, thế nào là tiên học lễ hậu học văn, kính trên nhường dưới.
Những điều căn bản đạo đức của người Việt không tìm thấy trong sách giáo khoa ở trên đất Mỹ này. Nhóc hứa với tôi từ nay sẽ chăm chỉ học hành không la cà hút sách nữa. Nghe vậy tôi cũng yên lòng. Tôi thấy thương nó như chính con tôi vậy.
Buổi tối, cả nhà quây quần trong phòng family room. Thằng nhỏ được mang ra trình diện:
-Đây là Mike, còn đây là bà Ánh, hai người con của Bà là Dũng và Trí.
Cả nhà bắt tay nhau và nói lời chúc tụng xã giao. Bà chị tôi dặn thằng Mike:
-Từ nay con gọi ta là Má Ba, mặc dù tên của ta là Ánh, ta đã nhận con là con, ta sẽ đối sử với con như hai đứa con của ta, con có chịu không?
Thằng nhóc nói lý nhí:
- Yes Má Ba.
-Con bao nhiêu tuổi?
-Dạ 13.
-Thằng Trí 16 là anh Hai, Thằng Mike ta đặt tên VN là Mai là anh Ba, thằng Dũng trẻ nhất 12 tuổi là Út cũng gọi là thằng Tư nghe chưa. Tất cả đều dạ ran, Thằng Mike chẳng hiểu đầu đuôi ra sao tôi phải cắt nghĩa cho nó hiểu.
- Con lớn nhất của Má Ba nick name goi là Number two, nó được gọi là number three, trên thằng Tư một bực. Nó thắc mắc sao không có number one. Má Ba trả lời đó là luật lệ. Còn luật nữa là ở nhà chỉ nói tiêng Việt thôi. Bắt Đầu từ ngày mai, thằng Mai cũng phải nói tiếng Việt. Má Ba cho một đặc ân, trong mấy tháng đầu, nếu thằng Mai không biết tiếng Việt cho phép thằng Hai và thằng út nhắc nhở.
Chị tôi nói tiếp:
-Ngày mai cậu Út dẫn thằng Mai đi xin học, về nhà phải học và làm bài tới 9 giờ tối, sau đó muốn coi TV hay làm gì khác tùy ý, 10 giờ tối phải đi ngủ. Chủ nhật phải đi lễ sớm, thằng Mai phải ghi danh học Việt Ngữ ở trường Nhà Thờ như hai đứa kia. Thằng Út lên dọn phòng cho thằng Mai ngủ.
Tôi cười nói với chị:
- Toàn là “phải” này “phải” kia y như bà “xếp” của em vậy. Thằng Mai “phải” nghe lời Má Ba nghe chưa!
Nhóc vội vàng trả lời: “Yes, Sir!”
Chị lườm tôi:
-Mấy đứa này phải dặn kỹ càng như vậy mới được, còn không vào lỗ tai này ra lỗ tai kia mất cậu ơi!
Hướng về thằng Mai chị tôi hỏi:
-Sao mày bụi đời.
Thằng Mai rớm nước mắt, ngập ngừng một lúc mới thốt nên lời:
-Má Ba ơi, con rất cô đơn và buồn khổ, lớn lên không cha. Cha ghẻ của con là một người cọc cằn, khó tánh và nghiện rượu, trong nhà cãi lộn xảy ra hàng ngày. Tất cả giận dữ của mẹ và cha ghẻ đều đổ lên đầu con. Cuối cùng con phải bỏ nhà ra đi.
-Rồi mày ở đâu, làm sao mà sống?
-Con phải ngủ dưới gầm cầu hay trốn vào mấy căn nhà bỏ trống. Ăn cắp đồ, lục thùng rác hay bán cần xa ma túy để kiếm sống.
Chị xoa đầu thằng nhóc và khuyến khích nó rồi dẫn tôi đến thắp nhang bàn thờ cha mẹ, hứa sẽ chăm nuôi thằng Mai như con chị. Chị nói với tôi có lẽ Chúa mang thằng Mai cho chị, để an ủi chị những lúc thương nhớ thằng con đã bỏ chị ra đi. Thế là chị lại có ba đứa con như xưa. Tôi thấy chị lau vội hai giọt nước mắt vừa lăn trên má.
*
Bà chị tôi áp dụng luật lệ giang hồ và rất nghiêm khắc với mấy đứa con. Anh rể tôi qua đời từ khi mấy đứa còn rất nhỏ. Anh là một Phật tử thuần thành, vẫn hay đi Chùa vào những dịp lễ lớn. Chị là con chiên của Chúa, hai người khác đạo nhưng vẫn sống với nhau hòa thuận, đạo ai nấy giữ, mấy đứa con thì vừa cho đi nhà thờ vừa cho đi chùa. Sau khi anh mất chị ở vậy, làm ăn vất vả để nuôi con ăn học. Qua Mỹ, Tôi và chị đi làm công một thời gian, hai chị em để giành được một số vốn nhỏ rồi mở tiệm ăn VietNam. Bạn bè Mỹ của mấy đứa cháu đến nhà chơi phải nói tiếng Việt và ăn đồ ăn ViêtNam. Có lần chị giải thích với mấy đứa con:
-Chúng mày tới nhà bạn phải nói tiếng Mỹ, tiếng của cha mẹ chúng nó phải không? Ăn đồ ăn của cha mẹ chúng nó phải không? Vậy thì chúng nó cũng phải nói tiếng Việt và ăn đồ ăn của tao, thế mới công bình chứ.
Mấy đứa con hết ý luôn.
Mấy đứa nhóc Mỹ ăn đồ ăn VN riết rồi đâm ghiền, món gì cũng không từ, nước mắm, mắm tôm cũng mê luôn. Chúng gọi mắm tôm là mắm “con chuột”.
Chỉ một thời gian ngắn, thằng Mai đã có thể nói chuyện thông thường hằng ngày bằng tiếng Việt. Nó lớn lên trong tình thương gia đình của chị tôi, nó rất hãnh diện có một mái nhà ấm cúng và một người mẹ thương yêu chăm sóc cho nó . Ngày thường cả ba đứa nhỏ đều đi học. Ngày Chủ Nhật, sáng đi lễ nhà thờ rồi theo học lớp Việt ngữ tại đó, chiều đi lên chùa học võ VOVINAM và họp Hướng Đạo. Ngày này qua tháng nọ, thằng Mai đã thành một đứa nhỏ Việt Nam từ cách ăn nói lễ phép, đi thưa về trình hẳn hoi, biết khoanh tay chào người lớn tuổi, biết cầm hai tay dâng đồ ăn cho Má Ba, biết quỳ lạy trước bàn thờ cha mẹ tôi. Ngày Tết cũng biết mừng tuổi chị tôi, biết cầm cờ vàng đi biểu tình ngày quốc hận. Nó hòa đồng với tụi nhóc VN chẳng khó khăn gì. Gặp người Việt họ vẫn tưởng Mai là đứa con lai, ai cũng khen ngoan và lễ phép, có đâu ngờ rằng nó là thằng Mỹ con chính hiệu con nai vàng! Nếu mấy đứa con nít Việt Nam lớn lên trên đất Hoa Kỳ bị gọi là “Chuối” , ngoài da vàng, nhưng trong đầu óc đã Mỹ hóa hoàn toàn! Thì phải gọi thằng Mai là bánh bao, ngoài thì trắng trong thì hầm bà lằng đủ thứ.
Mai và thằng út học chung một lớp, đi đâu cũng có nhau, anh em rất thân thiết. Nó hay săn sóc hỏi thăm sức khỏe chị tôi, bắt chước thằng Út rót nước mời chị mỗi khi chị đi làm về, đôi khi còn nấu những món ăn nhà quê của người bản xứ mời chị ăn. Má con càng ngày càng thắm thiết. Chị cũng rất thương nó, có khi còn hơn cả mấy đứa con ruột của chị. Chị vẫn hay than thở với tôi “Tội nghiệp thằng Mai, có mẹ cũng như không.”
*
Một hôm chị nhờ tôi vô trường xem có chuyện gì sảy ra cho thằng Mai và thằng Út, vì nhà trường yêu cầu chị đón chúng nó về nhà. Hai đứa đã đánh lộn với một đám học sinh khác trên xe bus và bị bị đuổi học hai ngày. Chị tôi chửi cho một trận nên thân và phạt đứng úp mặt vào tường 2 giờ và dặn lần sau không được đánh lộn nữa.
-Tại sao hai đứa mày đánh lộn, chị hỏi.
Thằng Mai giành phần:
-Tại mấy đứa học sinh trên xe bus chọc ghẹo thằng Út ăn hiếp nó, gọi nó là “chink choong” hay “Ê Chinese go home”. Con đã nói thằng Út với con là anh em, chúng nó không chịu để yên thằng Út. Thế là đánh nhau.
-Lần sau phải thưa nhà trường, không được đánh lộn nghe không?, tao bảo không nghe, tao không chửi bằng tiếng Việt nữa đâu. Tao sẽ ra trước cửa nhà chửi chúng mày bằng tiếng Mỹ cho tất cả hàng xóm nghe cho xấu hổ cả lũ.
Từ đó thằng Mai không giám đánh lộn nữa.
*
Mai và Út ra High School cùng một lượt, rồi ghi danh vào UT (University of Teaxas at Austin) cùng với anh Hai của chúng. Tôi mua cho hai đứa một chiếc xe Toyota nhỏ để thỉnh thoảng về thăm nhà. Tôi nhận phần trợ cấp tài chánh cho ba đứa nhỏ thêm vào số tiền trợ cấp của chính phủ, để tiếp tục chương trình đại học. Chị tôi cuối tuần nào cũng lái xe lên Austin để tiếp tế đồ ăn cho mấy nhóc. Chị một đời làm thân cò lặn lội bờ ao, nay tóc đã bạc quá nửa, con cái đã đi hết, nhà cửa thật trống vắng. Tôi mời chị qua ở chung với tôi, nhưng chị một mực từ chối, tôi phải biểu mấy đứa nhỏ nhà tôi qua thăm hỏi chị luôn. Đôi khi chúng ngủ luôn lại nhà chị và coi chị như mẹ chúng.
Một hôm tôi nhận được cú điện thoại của thằng Mai gọi về:
-Cậu Út ơi, cứu con với.
-Mày làm sao vậy?
-Con đang ở City Jail! Cậu đừng cho Má Ba hay nghe, bả biết được, chửi con thì cả hàng xóm đều biết, con xấu hổ lắm không dám về nhà đâu.
-Mày biết xấu hổ sao còn làm bậy.
-Con bị oan Cậu ơi.
-Mấy thằng trong tù, đứa nào mà chẳng kêu oan.
-Cậu không tin con, chứ ai tin con bây giờ?
-Nói tao nghe thử oan nỗi gì.
-Con gọi điên thoại trong nhà tù, chỉ được gọi giới hạn thôi. Cậu lên đây bail con ra rồi con sẽ giải thích cho Cậu nghe, Cậu phải tin con mới được.
Tôi sợ thằng Mai dính vào cần xa ma túy thì tiêu đời, tôi vội hỏi nó:
-Mày buôn bán ma túy phải không?
-Đâu có nào, con bị cánh sát gài bẫy, nói là con solicit prostitutes.
Tôi thở ra nhẹ nhõm, chỉ là tội thường phạm thôi, chắc chỉ bị cảnh cáo hay làm public service vài giờ là cùng.
-Thôi được, mai tao sẽ lên đó lãnh mày về.
Sáng hôm sau lên đến nơi, Mai đã được chuyển về nhà tù của County rồi. Tôi phải nhờ văn phòng “Bail Bond” để lãnh nó ra, trả hết 500 Đô tiền bail và $250 tiền lệ phí cho văn phòng. Sau khi nạp tiền bail, thằng Mai được thả ra chờ ngày ra tòa. Tôi hỏi Mai:
-Mày nói cho Cậu nghe, làm sao mà cảnh sát bắt mày?
-Cậu ơi, oan con thiệt mà. Sáng hôm qua con đi đổ xăng, thấy có con nhỏ bị hư xe, con tới coi giúp nó, cuối cùng là chẳng có hư gì cả chỉ là hết xăng thôi.
-Nó ăn mặc sexy lắm phải không?
-Sao Cậu biết?
-Thì nó muốn làm mờ mắt mày để nó nói gì thì mày cũng OK, tao còn lạ gì chuyện đó.
-Cậu còn chọc quê con nữa! Con nhỏ nói nó đi bụi đời vì không ở nhà được với cha ghẻ, mấy hôm nay sài hết tiền rồi, chẳng còn xu teng nào trong túi. Con nghĩ tới hoàn cảnh của con ngày xưa nên muốn giúp nó, giống như Cậu đã giúp con vậy.
-Thế tao giúp mày tao có bị cảnh sát bắt không?
-Cậu đừng la con nữa mà. Nó nói cái gì nhỏ lắm con nghe không rõ con nghĩ là nó muốn xin tiền để đổ xăng. Dù nó không xin thì con cũng cho mà, thế là con đưa cho nó 20 Đô. Con nhỏ vừa cầm tiền là đám cảnh sát chìm nhào tới còng tay con liền. Con hỏi tại sao họ bắt con, họ nói là con mắc tội mua dâm. Con nói chỉ là cho tiền con nhỏ đổ xăng thôi, không tin cứ hỏi con nhỏ kia thì rõ, đám cảnh sát nói mai mốt ra Tòa mà cãi.
-Con nhỏ đó cũng là cảnh sát chìm để gài bẫy mày thôi, mầy xập bẫy rồi làm sao ra được.
-Con xin con nhỏ nói vài lời công bằng cho con, nó chỉ cười cười thôi. Con muốn đục cho nó mấy cái quá đi.
-May mà mày không đục nó, chỉ nặng tội thêm, thôi được đi kiếm cái gì ăn đã, tội mày cũng nhẹ, để tao nhờ luật sư lo cho. Lần sau muốn giúp ai phải cẩn thận. Mày phải lựa lời nói cho Má Ba biết, kẻo mai mốt bả biết được thì liệu hồn đó.
-Vậy tối nay con sẽ gọi cho Má Ba, Cậu nhớ nói giúp con một tiếng nghe, không thôi bả chửi con sặc máu đó.
-Người ta nói “oánh sặc máu” chứ chửi sặc máu sao được mày!
-Thì con nói vậy Cậu hiểu rồi, Má con chửi cũng sặc máu đó Cậu ơi!
-Biết dzậy sao còn làm bậy.
-Con oan mà Cậu.
Tôi nhờ văn phòng bail bond giới thiệu một luật sư, giá 300 Đô lệ phí.
Vì chưa có tiền án, thằng Mai chỉ bị phạt 2 ngày làm công tác công đồng thôi.
*
Mai và Út ra trường cùng một lượt. Chị Ba và tôi cùng đi dự lễ mãn khóa, Chị rất mừng, ôm hai đứa con mà mắt đỏ hoe nói với chúng:
-Các con ơi, đây là sự thành công lớn nhất trong đời Má, tất cả các con đã thành tài và nên người.
Mẹ ruột của Mai vì bịnh nặng không thể đến được, ba ghẻ của nó cũng không muốn đến. Thằng Út được hãng Boeing ở Seattle nhận vào làm, Út ở chơi với Mẹ hai tuần rồi đi nhận việc. Thằng Mai đã có ý ở nhà với chị tôi, nên ngỏ ý:
-Má à, đã từ lâu con nghĩ, anh hai và thằng Út đều đi làm ở xa, con muốn ở lại nhà để săn sóc Má, cho nên con đã nạp đơn vào trường Baylor College of Medecine ở Houston. Khóa Fall sắp tới sẽ nhập học. Con xin Má cho con về thăm Mẹ con ở OMAHA rồi trở lại ngay. Từ nay con sẽ mãi mãi ở nhà với Má và chăm sóc cho Má suốt đời.
Chị tôi rất cảm động khi nghe những lời chân tình đó, không cầm nổi nước mắt, ôm thằng Mai khóc vùi:
-Má rất cám ơn con đã lo cho Má, con không cần phải làm vậy, Má tự lo được mà.
-Má không sinh ra con nhưng đã cứu vớt con từ bãi xình lầy và ban cho con đời sống mới đầy ắp tình thương, chăm chút cho con từng miếng cơm manh áo. Không kể những ngày đau ốm bênh hoạn, Má luôn luôn ở bên con, cầu nguyện cho con chóng khỏi. Tha thứ cho con bao lỗi lầm.
-Thiên Chúa đã mang con giao cho Má, Má chỉ làm bổn phận của một người mẹ như bao nhiêu người mẹ khác trên thế gian này.
Mẹ ruột thằng Mai bị ung thư phổi, qua đời chẳng bao lâu sau đó. Tôi và thằng nhóc bay về Omaha đưa đám, đó là lần cuối cùng nó gặp lại mẹ và cha ghẻ. Ông nay cũng đã già lắm rồi, những chuyện cũ hầu như không nhắc lại nữa, nhưng khoảng cách thì vẫn còn đó. Khó cho ai mở đầu một cuộc hòa giải, mặc dầu cả hai đều muốn. Tôi phải làm một nhịp cầu để hai người bắt đầu đối thoại và tha thứ cho nhau. Chỉ là những hiểu lầm thôi. Ngày chia tay, Ông Già và thằng Mai ôm nhau khóc vùi, những giận hờn đều trôi theo giòng nước mắt.
*
Mấy năm qua thật mau, Thằng Mai ra trường và nội trú tại Texas Children Hospital trong khu vực Medical Center ở Houston.
Nó muốn trở thành một Bác sĩ con nít để săn sóc cho trẻ em, nhất là những trẻ em bụi đời. Thằng Mai bây giờ đã là một Bác Sĩ, nhưng với tôi nó vẫn chỉ là thằng nhóc bụi đời. Nhóc được rất nhiều trường hoc và Juvenile Probation Center mời đi nói chuyện về đè tài “Run Away From Home”. Trẻ Em Bụi Đời.. Nó trở thành một thần tượng của đám con nít vô gia đình. Nhưng không phải đứa nào cũng may mắn như nó, phải có một cơ duyên và một quyết tâm sắt đá mới vượt qua bao thử thách. Đường đời có bao nhiêu ngã rẽ, được mấy khúc phẳng phiu?


* chú thích: Dù xây chín vạn phù đồ,
Không bằng làm phước cứu cho một người (ca-dao)



HILLARY & TRUMP HÁT NHẠC VIỆT (Dzui giải trí cuối tuần)





   
 Hillary Clinton & Trump  .

Hai Ứng Cử Viện TT Mỹ Hát “Cõi Nhớ” rất hay


Vũ điệu mừng tranh cử Tống thống của



"Cơn Mưa Tình Yêu"  Donald Trump & Hillary Clinton


Gõ Cửa Trái Tim