Wednesday, May 5, 2021

CHIẾN SĨ CỘNG HÒA (NGƯ SĨ)

 

CHIẾN SĨ CỘNG HÒA

 

Vợ dại con thơ tay ẵm tay bồng

Anh chiến đấu không vì ai tất cả

Ghìm tay súng anh không vì chủ nghĩa

Anh không vì "Tình Vô Sản" muôn năm

Cũng không vì lý tưởng lý tăm

Vì "Quốc tế Muôn Năm toàn thế giới"

Anh không thờ ông Mác, ông Lê, ông Mao từ đâu tới

Anh không khoác màu áo "Công Nông"

Làm xung kích tiến lên "Đại Đồng Thế Giới"

Anh không cầm đuốc dẫn đường cho nhân loại

Nghe đao to búa lớn đến rợn người

Anh không cần "giải phóng cho ai"

Anh cũng không kêu ai làm Cách Mạng.

Anh chiến đấu vì đàn con bé dại

Anh chiến đấu vì người vợ bế con thơ

Anh chiến đấu bên bờ làng thôn xóm

Cho người thân làng xóm được bình yên

Tình yêu của anh là con nhỏ vợ hiền

Là căn nhà nhỏ bện phên lớp lá

Anh không chiến đấu nơi miền xa lạ

Để "làm nghĩa vụ quốc tế" quá cao xa

Giao thông hào chiến địa là nhà

Rất gần gũi, anh lính Cộng Hòa như thế đó!

Anh không như loài Quỹ Đỏ

Pháo kích, đốt làng máu đổ xương phơi

"Giải Phóng" đến đâu chết chóc khắp nơi

Dân chạy loạn vắt giò lên cổ

Bỏ nhà bỏ đất , bỏ mồ mã ông cha

Bỏ tất cả để tìm đường đào thoát

Bất chấp phong ba Biển Đông đói khát

Anh là người lính Cộng Hòa

Sống, chiến đấu và chết vì miền Nam yêu dấu....

 

Ngư Sĩ

 

 


BA MƯƠI THÁNG TƯ LÀM SAO QUÊN & TẤM ẢNH NGÀY XƯA (DƯ THỊ DIỄM BUỒN)

 

“BA MƯƠI THÁNG TƯ”

 LÀM SAO QUÊN!

 

 

DTDB

 

Có người bảo: “...Hãy quên đi đừng nhắc
Bảy mươi lăm, nay cũng đã đổi thay
Hãy quên đi, thù hận cũ nhạt phai
Trái hạnh phúc trong tầm tay đón đợi…”

  

Ba Mươi Tháng Tư! Làm sao quên được?

Ngày cộng tràn vào cưỡng chiếm miền Nam

Ngày máu sử ghi toàn dân mất nước!

Việt Nam đau thương! Thế giới bàng hoàng!

 

Nhìn nắng nhạt nhòa nghe lòng hiu quạnh

Mây trắng thẩn thờ từng cụm bay xa

Dăm con chim trời xoải dài đôi cánh

Chuông chùa rời rạc trầm bổng ngân nga

 

Hai mươi tháng tư! Dưỡng thương cả tháng...

Những trận sống còn... quyết giữ non sông

Thương thế đớn đau, sức mòn, lực cạn...

Đau đớn nào hơn xao xác cõi lòng!

 

Hai mốt tháng tư/ Gởi con về ngoại

Vì đêm từng đêm Cộng pháo đạn vào

Tường ngả, nhà nghiêng... lòng dân sợ hãi

Lo buồn nghĩ ngợi... có thấu Trời cao!

 

Hăm hai tháng Tư/ Lòng người hỗn loạn

Có tiền: gạo, cá, thịt trử trong nhà...

Nghèo thì bươn chải tìm phương tính toán

Gạo sấy, cơm khô... nguyện khổ sớm qua

 

Hai ba tháng tư/ Người rủ ra biển

Bởi tình đồng đội, chút nghĩa bạn hiền...

Vết thương chưa lành... dễ bị cảm nhiễm

Nếu thuốc men thiếu, sẽ khổ triền miên!

 

Ngậm ngùi thố lộ thay lời từ chối...

Bởi chí người trai, nợ nước, tình nhà...

Dạ muốn đi, lòng vấn vương tiếc nuối!

Bước xuống thuyền, sẽ vĩnh viễn chia xa!

 

Hai bốn tháng Tư/ Nhiều nơi bỏ ngỏ...

Ghét tủi phận mình... thầm trách cao xanh!

Miền Trung, miền Nam, Sài Gòn... ta đó

Người đi lánh nạn... kẻ bỏ thị thành...

 

Pháo đạn ầm đùng... khi màn đen xuống

Hai lăm tháng tư/ Vắng bóng trực thăng

Lợi dụng đêm về ánh trăng chiếu muộn...

Thành phố rung rinh... giặc quyết san bằng

 

Hai sáu... hai chín bàn giao Chánh phủ...

Trời quang mây tạnh... phút chốc mưa rơi!

Mưa rạc mưa rào, mưa như thác lũ...

Đau đớn hồn tôi giông bão tơi bời!

 

“Ông lớn” lên đài kêu gọi tử thủ...

Hôm sau “ông lớn” vứt mũ chạy làng

Còn “ông lớn” khác ôn tồn khuyến dụ:

“Quân, dân, cán, chính... buông súng đầu hàng”!

 

Công chức, quân nhân... bị đày cải tạo

Bao người liều thân vượt biển, vượt biên...

Bỏ thây rừng núi... chết tù thảm nảo...

Cộng nô thiu rụi đạo đức thánh hiền...

 

Ba Mươi Tháng Tư! Ôi còn chi nữa!

Việt Nam gấm hoa thôi đã tan tành

Người chạy lấy thân bỏ nhà, bỏ cửa...

Oán thù hận Cộng... chất ngất trời xanh!

 

Ba Mươi Tháng Tư! Làm sao quên được?

Đớn đau âm ỉ... Quốc hận dấy lên

Ngày dân tộc Việt bị Cộng cướp nước!

Bọn gây tang tóc! Sẽ phải trả, đền...

 

Ba Mươi Tháng Tư! Làm sao quên được?

Ngày cộng tràn vào cưỡng chiếm miền Nam

Ngày máu sử ghi toàn dân mất nước!

Việt Nam đau thương! Thế giới bàng hoàng!

 

DƯ THỊ DIỄM BUỒN

 

TẤM ẢNH NGÀY XƯA


“Tấm ảnh sinh viên Việt Nam ở Pháp. Đã tuần hành

trên đường phố Paris. Để tang cho Việt Nam.

Ngày 27 tháng 4 năm 1975”.

 

“Tấm Ảnh Ngày Xưa” sẽ còn sống mãi

Trong tâm khảm dân tộc Việt lưu vong

Ngày nào quê hương, Cộng còn tồn tại

“Ba Mươi, Tháng Tư” nỗi uất hận lòng!

 

Năm Mươi Bốn, đất Bắc ơi giã biệt!

Bảy Mươi Lăm Cộng sản cướp miền Nam

Nỗi trầm thống oán hờn sao kể xiết

Chúng bán rồi nước Việt cho ngoại bang!

 

Cuối thángTư Đen! Sửng sờ tôi khóc!

Ngoài đường xe, người hớt hải cuống lên

Trong nhiệm sở kẻ vò đầu, bứt tóc…

Mây xám giăng, mưa pháo rít vang rền!

 

Ai còn nhớ tiếng trực thăng lên xuống?

Đèn chớp, hụ còi hối hả tải thương…

Người âu lo, vội vàng, lui, tới muộn…

Đêm từng đêm, tôi khắc khoải đoạn trường!

 

Bởi chồng còn miệt mài ngoài biên trấn

Mấy tháng qua rồi vẫn vắng bặt tin

Hai Mươi Bảy, Tháng Tư! Niềm thống hận!

Giặc giã nhiễu nhương… súng đạn vô tình!

 

Hai con dại nằm nôi còn bé nhỏ

Vợ thương chồng, lo ngại lẫn chờ mong

Từ thị thành đến thôn quê… bỏ ngỏ

Cha mẹ, người thân… nát dạ, tan lòng!

 

Cảnh người bươn bả tìm đường lánh nạn

Chiến binh trở về, uất hận riêng mang!

Ba Mươi Tháng Tư! Việt Nam Cộng sản!

Có đau nào bằng, đau mất giang san!

 

Tôi chết lặng! Lắng nghe dòng lịch sử!

Ôi đoạn trường! Nước Việt lật sang trang!

Người lính Cộng Hòa, khí hùng bất tử!

Tuẫn tiết quyên sinh... quyết chẳng đầu hàng!

 

Thế giới bàng hoàng cúi đầu mặc niệm!

Dân Việt ngậm ngùi! Hờn oán thiên thu!

Biết bao người chết... liều thân vượt biển

Bao nhiêu kẻ bị cải tạo trong tù…

 

Giặc cắt Lạng Sơn, Hoàng Sa, Bản Giốc…

Đem đất đai, lãnh hải… bán cho người

Dân tộc lầm than, khốn cùng còi cọc

Cộng tan tành đất nước sẽ an vui...

 

Quê hương mất! Anh đớn đau tủi nhục!

Lệ thảm sầu nuốt vội! Chít khăn tang!

Tấm ảnh xưa! Cho tôi nhiều cảm xúc

Se thắt tâm tư! Mắt lệ dâng tràn!

 

Có vết thương, cả đời còn rướm máu!

Có nỗi buồn, mãi mãi vẫn không phai!

Lớp trẻ về! Niềm tự hào, cao ngạo…

Cùng các anh, thay Cộng sản tay sai…

 

Quyết đuổi bọn phi nhân, phường bán nước

Đem tự do no ấm… khắp mọi miền

Nước Việt Nam từ đây tròn ơn phước

Tự chủ, tự cường, an hưởng… đoàn viên

 

Tạ ơn tiền nhân, những người… gìn giữ

Chánh thể Cộng hòa, biển lặng sông trong

Chúng ta sẽ về quên đời lữ thứ…

Việt Nam ơi! Hạnh phúc ngập cõi lòng!

 

Quê hương ta ngày nào còn Cộng sản

Thì sẽ còn ngày Quốc Hận Ba Mươi!

Tháng Tư  Đen! Ôi sanh linh đồ than!

Dân Việt Nam còn khốn khổ tơi bời!

 

 

DƯ THỊ DIỄM BUỒN

41 NĂM BIỆT XỨ -THƠ & KHOE BẠN - TRUYỆN NGẮN (Ý NGA)

 


KHOE BẠN

 

(Truyện ngắn)

Ý Nga

 

Thúy đau tai và nhức cả đầu với Bà nọ khoe mãi ông… chồng:

-Tài cao, đức trọng, làm giàu không ai bằng, và… sợ tôi nhất nhà.

Tưởng Việt Cộng sợ bà thì mới oai chứ hay ho gì mà bà đem ra quảng cáo một ông-chồng-sợ-vợ. Đã vậy, bà còn được ông Kim tiếp lời, giả dối khoe… bà vợ theo kiểu XHCN (Xạo Hết Chỗ Nói) oang oang cả phòng, rằng:

-Trên đời này vợ tôi là ngoan nhất, hiền nhất, đảm đang nhất. Gia đình tôi, ai cũng thương vợ tôi hơn cả bầy con ruột rà vì vợ tôi giỏi nức tiếng thiên hạ, Mẹ của tôi xem cô con dâu như… thiên thần, còn các chị em của tôi ai cũng sợ vợ tôi lắm!

Chuyện khoe chồng, khoe vợ không dừng lại ở đó, đã có “thiên thần” Lém đổi đề tài sang khoe… con:

-Mấy đứa con tui không đứa nào chịu lập gia đình với người mình là vậy! Chúng nó ra kỹ sư, bác sĩ và làm lương rất cao mà nhìn… xuống những gia đình Việt cứ khoe vợ, khoe chồng suốt ngày thế này chúng cũng ngán ngẫm: “Quá thấp!”. Tụi nó chỉ muốn lấy người Canadian ngang ngửa tiền tài và chức tước với tụi nó thì mới xứng. Lấy nhau xong, việc gì cũng chia đôi cho công bằng, không ai được quyền bắt nạt ai làm dâu, làm rể chi cả. Chúng nói rồi, cưới xong là sẽ dọn đi tỉnh bang xa, không gần gia đình hai bên, để chẳng bên chồng hay bên vợ của ai được quyền ức hiếp người cô thế…

 

❉

Bây giờ là đầu tháng Năm!

Vừa xong bổn phận phụ giúp anh em làm báo Tưởng Niệm Tháng Tư, Thúy có cả hàng tấn công việc phải làm mà tự nhiên khách-không-mời ở đâu kéo đến cả chục người, ngồi cà kê dê ngỗng toàn những chuyện vô bổ, làm Thúy mất gần nửa ngày quý báu. Rõ phiền cho những kẻ nhiều chuyện này!

Họ là những kẻ chưa bao giờ bỏ ra được 5 phút để giúp đỡ Cộng Đồng hay bất cứ ai không đem lại lợi lộc cho họ. Chẳng những thế, họ còn là những kẻ “áo gấm về làng” để khoe của và ăn chơi hàng năm, rồi trở lại trú quốc, họ chỉ vẽ cho nhau cách hay nhất, ít tốn kém nhất, để bắt đồng bào nghèo khổ nhất trong nước cung phụng cho họ thế nào là tuyệt vời nhất. Ai cũng là những kẻ chẳng ra làm sao nhất, đi đến đâu thiên hạ cũng ghê tởm như đuổi bọn VC nằm vùng mà không biết nhục. Mỗi một người này là một sự ích kỷ lồ lộ ra ngoài không cần che giấu, lấy đâu ra được những vợ, những chồng, những con cái toàn “thiên thần” thế kia? Không hiểu sao những con người này có thể “mở khúc ruột ngàn dặm” ra một cách dễ dàng chỉ để khoe toàn chuyện… giả tưởng không bao giờ có như thế được? Làm sao mà họ có thể đem “quỷ thần” của họ ra khoe mà không biết ngượng miệng chút nào?

Xua được những… “thiên thần phụ huynh” ra khỏi nhà, Thúy thật sự chỉ muốn… thiền thân một giấc cho tỉnh người để tiếp tục công việc bề bộn, nhưng còn Hằng, một người bạn văn chương đang ngồi chờ, nên Thúy phải trở lại vấn đề bạn đang tâm sự (trước khi “quỷ thần” đến).

          Thủy Hằng bực bội:

          -Họ đúng là quỷ thần chứ thiên thần gì! Mình trở lại vấn đề có nên gác bút không đây? Anh ấy chửi muốn tắt bếp luôn rồi!”

Thúy cười: 

-Sao? Những “thiên thần” kia khoe vợ chồng con cái, còn nàng thì định nói xấu chàng cho đã tức phải không?

Thủy Hằng phân bua:

-Mình đang tâm sự với bạn, chứ có người thứ ba nào biết đâu mà nói xấu? Mình buồn và ấm ức quá mà không biết tìm ai tâm sự cho vơi?

          Thúy vỗ vai bạn và khuyên:

-Bồ tèo cứ viết, dù… bếp bị tắt!

Bạn cười:

-Bộ Thúy định áp dụng lý thuyết đỏ trong nước: cán bộ chống tham nhũng giàu hơn bọn tham nhũng sao?

Thúy cũng cười:

 -Thơ văn đến mà không biết tiếp đãi thì văn thơ sẽ đi ngay. Hằng lạnh nhạt thì ai cho Hằng ấm áp? Muốn trị… tắt bếp rất dễ, xin mách bồ rằng, đừng chẻ củi chụm lò ba kiềng nữa! Hãy ngưng mua sắm quần áo, nữ trang chừng vài lần là có thể mua được cái lò điện rồi, bếp tắt thì cứ tách một cái là bật lên, lại được nóng đỏ ngay! Bảo đảm cơm không sống, cá chẳng ươn, khoai không sượng! Mà Hằng nhớ đứng gần bếp mới tích tắc bật lên kịp thời, chứ bàn phím chữ cứ gõ gõ, suy suy, nghĩ nghĩ trong phòng sách thì cháy nhà luôn, nói chi chỉ… tắt bếp!

          Bạn lại rù rì than vãn một hồi:

-Tại, bị, bởi, thì là…”

Thúy trêu:

-Vẫn bị la mắng tơi bời vì văn chương ư? Có chi khó đâu nào! Nếu cô nàng có thể thái những lát thịt mỏng như tờ giấy thì cũng có thể thái những lời mắng ấy ra mỏng dính trên tờ giấy, bằng những cây viết chì đầu nhọn như kim, có nội dung chuyền tải những chất trụ sinh mạnh nhất vào hồn của Cục Cưng nàng để trị chứng hung dữ mà. Nhưng “bày biện” xong thì nhớ tẩy hết những lời không hay, những ý không thanh kẻo tanh tưởi văn thi đàn hải ngoại nha (như Bạn thái thịt xong thì nhớ rửa thớt bằng sà bông, thuốc tầy và nước sôi để khử trùng vậy!). Tâm sự khác với kể xấu! Nếu nàng biết biến những cái xấu của chàng thành nét đẹp là cả một nghệ thuật của sự kiên nhẫn đó nàng ạ!

Bạn còn nhớ món Chuối Chát Chua Ngọt ngày Tết của người Quảng Nam không? Mình phải khứa trái chuối chát thành từng lát mỏng mà không cho đứt ra khỏi trái, cũng không được để thâm đen: khứa đến đâu phải nhanh tay ngâm vào nước muối hòa chanh đến đó, sao cho khi hoàn tất thì trái chuối vẫn trắng trẻo đẹp đẽ như da nàng ở tuổi xuân thì, rồi đem ngâm vào dấm chua chua (như lời “anh ấy” thường la bạn) ngâm nhiều gừng cay thật cay (gừng trị ông “Xã”, ông Quận, ông Tỉnh nào thường cằn nhằn rất hay và trị say rượu cũng tuyệt). Nhớ là phải thêm vào đường cát trắng ngòn ngọt (y như lúc Người Ta mới theo tán tỉnh bạn). Món ăn này tuyệt vời ở chỗ vẫn giữ được vị chan chát cố hữu của cái tên chuối chát đã mang (như những lỗi lầm sơ hở bạn đã tạo ra, cho Họ có cái cớ gây… gỗ, gây… sắt, gây… nhựa lung tung với bạn) nhưng lại ngọt ngào, thơm thơm, chua chua vừa đủ cho các đấng mày râu đưa cay, hòa vào vị đắng của men rượu, mà chỉ có thể say… say như lúc theo đuôi nàng nhưng không thể say… sưa được. Có khó nhọc như thế thì lúc đem dĩa Chuối Chát Ngâm Gừng ấy ra mời khách, nàng mới thấy hãnh diện tài nội trợ giỏi của phụ nữ VN chứ! Phải không nào? Hãnh diện, như nhìn bài thơ ưng ý của nàng nằm khoe dáng trên các trang báo của những người chủ bút khó tính nhất thế giới nhưng lại biết trân trọng mọi sáng tác tâm đắc của các Cộng Tác Viên, hay như chị Diễm Buồn: không bao giờ đòi hỏi bài phải mới hoặc bài phải độc quyền cho tuyển tập in chung.

Hãnh diện, nếu Bạn biết sáng tác theo ý nghĩa NGHỆ THUẬT VỊ NHÂN SINH, VĂN DĨ TẢI ĐẠO và biết đem cái xấu vào văn chương mà trau chuốt thành nét đẹp để cảm hóa mọi người, tặng họ một chút suy tư về Chân, Thiện, Mỹ cho cuộc sống (không phải cứ khư khư cái kiểu “rất tâm tư” của ông đại tướng “Lạ” VC trong nước nhé!)

❉

          Hằng lại thở than trường hợp của Nguyệt, một ngòi viết chống Cộng sâu sắc khác:

-Vì, rằng, tại, bởi…”

Thúy nghiêm chỉnh:

-Nguyệt lỡ về làm dâu một anh vũ phu sao? Đang vừa làm thơ, vừa làm bếp vừa… bị đòn ư? 

Sao mà Nguyệt khờ quá đi! Nguyệt quên rằng mỗi người phụ nữ có cả kho vũ khí từng xử dụng qua một cách nhuần nhuyễn khi làm chàng điêu đứng trước đây? (Ý Thúy nói là sự ngọt ngào hay nước mắt ấm ức, như khi phải thái củ hành, chứ không phải cả một kho… dao lớn, nhỏ đủ cỡ của đầu bếp đâu nhé. Những thứ ấy chỉ dùng để tự vệ khi quân trộm cướp lẻn vào nhà thôi. Hãy tự vệ khi cần! Thúy nhấn mạnh: chỉ tự vệ thôi nhé! Chiến tranh VN đã kéo dài quá nhiều năm vì bọn vô thần rồi, đừng đua đòi theo VC, gây chiến lung tung mà có ngày tự chuốc họa vào thân đấy!).

Nguyệt nên học cách biết kháng cự và biết tự bảo vệ khi ở thế yếu! Nếu không, sẽ bị “cai trị dài dài” như VC đã cai trị dân ta mấy mươi năm qua.

Còn một cách hòa bình và êm đềm hơn nữa nè: đem những cái vô lý của “Phu Quân họ Vũ” vào thơ mà xào, mà nấu, mà giã, mà băm, mà ninh, mà luộc, mà chà bông… sao cho ra một mâm cao lương mỹ vị để mọi “thằng... Chả, thằng... Lụa” ác nhơn, sát đức đều chẳng những biến thành một “anh ấy hiền từ, đức độ” mà đọc xong là biết “thương vợ hơn thương… thân” liền (cách thương cao hơn tên Kim lúc nãy cả trăm bậc).

Mà bạn nhắc giùm Nguyệt là khi viết xong Nguyệt nhớ gửi cho Mình-của-Nguyệt đọc, khi Mình… kia đã nguôi cơn giận, chứ “Lửa” đang bừng bừng mà "Mình… nọ" đổ thêm dầu vào, dù là dầu đậu nành, đậu phộng hay dầu bắp, dừa, mè, hào của ta hoặc dầu ô liu, sà lách, hướng dương, canola của Tây.v.v… thì cũng lại cháy nhà lần thứ hai ngay đó. Xin chừa! Nhớ chửa? Vả lại, hắn dám đánh “con gái Quảng Nam” thì tay hắn cũng đau điếng rồi. Tội nghiệp! Đau rứa thì “lòm reng mòa” (làm sao mà) cầm nỗi trang thơ của Nguyệt, “núa chi lòa” (nói chi là) đọc?

          Hằng tức tối:

-Thấy Nguyệt bị đổ máu vì hắn hoài mà Hằng thương quá đi!

          Thúy lạc quan:

-Chèn đét ơi! Tại sao sau 1975, tay VC nhuộm biết bao nhiêu máu thân nhân của Nguyệt, Nguyệt đơn thân cô lẻ, từ một nữ sinh khuê các đã tập tành bán buôn chợ trời mà dư cách đối phó để đưa cả gia đình vượt thoát tìm được tự do, rồi còn bảo lãnh cả nhà sang đây, mà bây giờ bị đổ chỉ có vài giọt máu, Nguyệt lại không biết cách nhõng nhẽo, phản đối hay tự vệ? Có khó gì nè? Nếu cần thì nhắc Nguyệt lựa cái dĩa nứt hay cái chén… mẻ nào gai mắt nhất mang đập… xuống đất cho bể tan tành, để đánh thức cái lương-tâm-toàn-răng-giả hổng biết cắn rứt của Gã (hổng phải chén… me, chén… mè hay chén… kiểu nha! Me để dành nấu canh chua, mè để dành ăn chay, bỏ uổng lắm! Bao nhiêu là người đói ở Phi Châu phải làm bánh bằng bùn cho con nít ăn tưởng tượng đó Hằng ạ, đừng phung phí của “giời”). Dẫu biết rằng khi Tên Đó đánh Nguyệt thì đã đánh trên khuôn mặt mỹ miều không một chút xót thương, nhưng Nguyệt nên mở lượng từ bi: chỉ nên đập chén dĩa xuống đất chứ đừng giận quá mất khôn mà nhè cái đầu dễ thương của Anh Ấy đập thì chút nữa làm hòa, Nguyệt muốn hôn lên cái đầu họ Vũ ấy một cái cũng hỏng việc đấy! Còn gì lãng mạn hay tình tứ nữa khi vợ hôn lên mấy… trăm miếng băng keo, dán chình ình trên vết-thương-xúc-phạm của chồng chứ?

Hằng trêu khích thêm:

-Còn nếu Nguyệt tiếc của vì nhà không có chén, dĩa mẻ mà toàn đồ quý không thì sao?

-Thì vận hết nội công đệ lục đẳng huyền đai Aikido ra, lấy cái thớt mà… phang xuống… đất, phang sao cho phát ra được thứ âm thanh, lớn hơn tiếng “bốp bốp” trên mặt Nguyệt mà “Ổng” đã trổ tài trước. Tiếc của thì lựa thớt nhựa cho… giàu sang mãi mãi! Tôi thành thật khuyên Nguyệt đừng ném dao nghe, dao ném trúng mấy viên đá hoa cương của Ý (Italy) không chừng nó sẽ dội ngược về… khổ chủ thì… chủ sẽ… khổ thật với cảnh máu đổ, thịt rơi một cách “dô dziên” thêm. (bị tát mấy cái như trời giáng mà thịt còn chưa rơi, chứ dao đi sai đường thì từng học võ, Nguyệt dư biết “chiện” gì sẽ xảy ra rồi, phải hông nè?). Sợ gì "ông nội" đai đen Nhu Đạo ấy khi mà Nguyệt có thể dùng thơ Đạo, văn Nhu để cảm hóa được? Đạo, Nhu và Nhẫn thường thắng được Ác và Cương dễ dàng lắm mà! Không phải sao? Học võ thuật để tự vệ chứ ai lại đem về đánh… vợ bao giờ, mà ông đã đánh vợ thì cũng nên bị bà “đánh” lại kiểu đó một lần cho ông thấm thía mùi đời :)

Hằng chuyển đề tài:

-Còn đang ngủ mà bị văn chương gọi dậy hoài, phải làm sao chứ mất ngủ mệt quá Thúy ơi?

          Thúy mím môi, liếc Thủy Hằng:

-Mừng lắm đó bồ! Chính những gì tự nhiên như thế mới có… hồn (ma quỷ cũng chỉ hiện vào giờ “âm” kia mà). :) Hù bồ chút cho vui chứ mình biết bồ chả sợ ai bao giờ. Thơ Thủy Hằng chém VC mình càng đọc càng mê! Mình chỉ dám đứng đằng xa mà đọc lén thôi chứ dễ gì được bồ gửi vào hộp thư cho đọc mà ham! Mình thấy bồ bi quan nhiều chuyện thế không tốt đâu. Trời cho bồ được kết duyên với Nàng Thơ, Chàng Văn là bồ có phước lớn lắm đó. Sá gì chuyện nửa đêm nàng thơ âu yếm gọi bồ dậy vòi vĩnh "rót cho nàng một ly nước" chứ! Bồ nên vui vẻ uống một ly nước ấm với mật ong và chanh, rồi ngồi vào bàn, viết một mạch; không cần chấm, phẩy, xuống hàng chi cả. Viết cho cạn ý đi! Đánh máy hay viết tay cũng được. Cái thú viết tay bằng bút chì để có thể gom gom, đổi ý, thay lời cũng thích lắm đó, nhưng chịu khó viết cho rõ ràng kẻo tí nữa gõ bàn phím, đôi mắt sẽ mắng cái trí nhớ kém cỏi của tuổi 40 thì tiếc lắm! Chứ bồ cứ chờ ngủ một giấc 12 tiếng, dậy, diện áo dài; điểm tâm xoài, ổi, cam, khế cho ê răng rồi mới viết thì văn chương bay đi mất tiêu rồi.

Lạc quan lên chứ! Việc gì mang lại lợi ích cho nhân sinh cũng có giá phải trả của nó. 

Hằng nhéo Thúy một cái rõ đau:

-Ở đó mà tiểu thư như Thúy. Hà nó vừa cho cháu nội ăn, vừa viết đó. Bài SỮA MẸ RẤT QUÝ của Hà viết nhân dịp giúp con gái sau khi sanh nở hay quá chừng là nhờ thế. Còn anh Minh ở Quebec kể là:

-“Vừa canh cơn sốt cho cháu ngoại vừa viết mệt quá, trong khi vợ tui ngủ như chết”

 Thúy hỏi:

-Nếu anh Minh không giúp vợ, để vợ cáng đáng một mình lo cho đàn cháu đông thế thì quá bất công cho chị Minh. Bộ chị ấy “mình đồng, da sắt” chi mà không biết mệt chứ? Ngược lại anh Minh phải cám ơn vợ, vì nhờ kinh nghiệm cực khổ thế mà bài ngũ ngôn vinh danh tình Mẹ của anh Minh mới được nhạc sĩ T. phổ nhạc. Có nuôi con, cháu, chắt, chít mới biết thương cha mẹ và thương vợ của mình.

 Chuyện Hà nuôi một đàn con dại khi chồng bị VC giam vào tù, đưa ra Bắc mà vẫn bương chãi nuôi con, thăm nuôi chồng đều đặn. Chạy được sang xứ tự do, lại vừa đi làm, vừa đi học, vừa nuôi con. Con lớn lại nuôi tiếp đàn cháu một cách cần cù, siêng năng và tận tâm. Hà quả là một vị “thánh” trong nhà. Chúng tôi là người dưng mà còn tình nguyện đưa đón tụi nhỏ trong mỗi kỳ sinh hoạt Hướng Đạo cuối tuần vì thấy Hà cứ quay mòng mòng tất bật từ hồ bơi, đến phòng học võ, lớp dạy nhạc, "cua" luyện thi, sân chơi bóng rổ, rồi tất bật chợ búa, cơm nước.v.v. để giúp đàn con cháu thấy mà thương! 

Hằng đay nghiến:

-Còn "cha nội, cha ngoại" Hắc Ám ở Vancouver mỗi lần gặp Hằng là mỗi lần trách móc vợ:

“Vợ tui không cho tui có thì giờ viết lách!”.

Thử hỏi, không thể cảm thông và chia sẻ với những gì gần gũi chung quanh thì thơ văn gì “cha nội” này sẽ viết ra? Để làm gì? Nụ Nhân Ái mới kết Hoa Yêu Thương chứ ái tình vớ vẩn để tán gái trên mạng, trong khi vợ con, cháu chắt, đồng bào cần đến sự giúp đỡ và lên tiếng mà làm lơ thì cái gì sẽ đâm chồi trên những trang giấy bạc bẽo vô tình ấy? Hắc Ám chuyên môn làm một bài thơ tình rồi gửi cho nhiều bà, ai ngờ trùng hợp vào mấy bà đều là thành viên trên cùng một diễn đàn. “Họa vô đơn chí” hơn nữa, là trong cùng một ngày, mấy bà cùng đem khoe chung một bài thơ vào diễn đàn này, thế là cãi nhau ỏm tỏi, ỏm… hành chỉ để giành một người đàn ông đã có vợ, con, cháu, chắt, bồ… nhí, bồ… nhi, bồ… nhì, bồ tam, bồ lục... loạn xà ngầu từ mấy chục năm nay.

Thúy tán đồng:

-Hằng nói đúng! Mình chả bao giờ đọc thơ văn của những kẻ đem sách về VN in và lạy lục Vi Xi cho ra… mắt và ra… chân tay khoe mẻ như “cha nội, cha ngoại” của Hằng đâu.

Hằng trợn mắt:

-Đính chính ngay nha: mắc mớ gì mà “cha nội, cha ngoại” của mình chứ? Hắn xếp vào hàng cháu chắt của mình, mình còn mang nhục lây chứ nói chi là “cha, anh”!

Thúy nhắc kháy:

-Ừa! Hổng biết ai mới vừa phong chức “cha, anh” cho “thằng chả, thằng nem” đây ta?

 

❉

 

Thế rồi trước khi ra về, Thủy Hằng ngậm ngùi kết thúc câu chuyện:

-Hằng đã thấy những nhóm tự xưng là “Nhà Văn To, Nhà Thơ Nhớn” thường tụm nhau lại trong mấy cái dạ-vũ-gây-quỹ khoe tài, cùng tuyên bố hùng hồn là “sáng tác phi chính trị” rồi “mặc áo thụng” xì xụp xưng tụng và vái lẫn nhau. “Em-thi-sỉ” nào cũng ăn mặc nghèo nàn thiếu vải, lẳng lơ mồi chài các “anh nhạc sỉ” (cả hai SỈ này đều vác cái dấu hỏi đỏ chói, to tướng của sỉ nhục). Trong khi “anh nhạc sỉ” nào cũng veston lả lướt, lợi dụng sự “cung phụng miễn phí” của mấy “em thi sỉ” mà sơ múi trên sàn nhảy. Bọn Viêt gian này vừa “phi” vừa “phê”, chẳng những chả ai tha thiết đến chuyện VN đang rơi vào tay giặc Hán cả mà còn hùa nhau lên tiếng mạt sát và chửi bới những người chống Cộng. Trông chúng lả lơi “anh anh, em em” dưới cái lều-“văng”-bút mà nổi cả da gà. Đúng là QUỶ-dấu-hỏi gây QUỸ-dấu-ngã kiếm tiền bỏ túi. Họ còn… hơn mấy “quỷ thần” vừa mới rời khỏi nhà bồ nữa đấy Thúy ạ!

 Thúy phản đối:

-Phải nói là chúng còn… thua đám “quỷ thần” lúc nãy chứ Hằng! Mà nè: đã thiếu vải thì mấy em lấy đâu ra vải dư may áo thụng? Hay ý Hằng muốn nói là “da thụng tuổi 60” phải không?

Hằng cười: 

-Thua trong câu này cũng không sai! Nhưng Việt gian thì chúng hơn hay thua nhau cũng làm ô danh Cộng Đồng Tỵ Nạn cả mà thôi. Còn mấy nường kia da dẻ “dao, kéo” nát cả ra, chỗ nào thụng cũng kéo căng lên hết rồi!

Thúy chọc quê:

-Thúy đã nói Hằng đừng đến những chỗ thiên Cộng ấy mà Hằng không nghe. Đi làm chi rồi về tức giận? Thôi! Đừng khoe “bạn bè” Hắc Ám nữa. Cứ cầm đũa bếp nấu những món ăn thật ngọt ngào mạch nha cho chàng và cầm viết tiếp, để Thúy có người chia sẻ chuyện văn chương chống Cộng nhé!


Ý Nga

Canada, 13.5.2017


*Thi, nhạc “sỉ”, “văng” bút: cố ý viết dấu hỏi và có “g” để biếm phường văn, thi nô. (Chữ SĨ đúng nghĩa phải là dấu ngã, VĂN BÚT không có “g”)

 


NỮ SĨ LÊ THỊ Ý TÁC GIẢ BÀI THƠ "TƯỞNG NHƯ CÒN NGƯỜI YÊU" (KALYNH NGÔ)

 

Nữ sĩ Lê Thị Ý: ‘Người lính và chiến tranh chưa bao giờ rời xa tôi’

 

Kalynh Ngô

 

FALLS CHURCH, Virginia (NV) – Mỗi khi Tháng Tư đến, những câu chuyện về người lính Việt Nam Cộng Hòa lại cuồn cuộn tuôn chảy trong ký ức của những ai đã đi qua cuộc chiến. Trong đó, hình ảnh người góa phụ, hay một cô gái có yêu tử trận, trong cuộc chiến Việt Nam, trong ca khúc “Tưởng Như Còn Người Yêu,” do Phạm Duy phổ nhạc từ bài thơ “Thương Ca 1” của nhà thơ Lê Thị Ý, sau hơn nửa thế kỷ, vẫn còn gây nhiều xúc động cho mọi người.

 

Nữ sĩ Lê Thị Ý, tác giả bài thơ “Thương Ca 1,” mà nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành bài hát “Tưởng Như Còn Người Yêu.”

 

“Ngày mai đi nhận xác chồng
Say đi để thấy mình không là mình…”

 

Một cuộc đời bình lặng

Cuối Tháng Ba, trời Virginia vẫn còn se lạnh. Người phụ nữ với vóc dáng nhỏ bé, khoác chiếc áo lạnh vừa người, bước vào quán. So với cuộc gặp gỡ chớp nhoáng sáu năm trước, bà, nữ sĩ Lê Thị Ý, không thay đổi nhiều. Vẫn mái tóc đơn giản đó, vẫn nụ cười hiền lành, vẫn giọng nói thấm đậm âm hưởng của người Hà Nội “một ngày năm bốn, cha bỏ quê xa.”

 

Như hàng triệu người Việt Nam khác, bà là nhân chứng trong hai cuộc di tản vĩ đại của dân tộc. Nhưng nếu ai có hỏi, cuộc “chạy trốn” nào để lại trong bà nhiều dấu ấn nhất? Bà sẽ trả lời: “Đó là chuyến vượt biển năm 1981.”

 

Sau khi ra khỏi hải phận Việt Nam, tàu của bà lênh đênh trên biển ba ngày. Sau đó, tàu cập vào đảo Songkhla, Thái Lan. Chỉ trong ba ngày thôi, con tàu đó gặp hải tặc sáu lần. Không một ai trên con tàu, kể cả đứa bé chỉ mới tám tuổi, có thể thoát khỏi hành động hãm hiếp của hải tặc, trừ bà.

 

“Nói thì không ai tin, nhưng đó là sự thật. Chỉ một mình tôi may mắn thoát. Có đôi vợ chồng đó, người chồng đau đớn nhìn vợ mình bị hãm hại ngay trước mắt. Nhưng khi đến đảo rồi, họ lại quyết định chia tay. Có lẽ họ không thoát ra được cơn ác mộng đó, tôi nghĩ vậy.” bà nói.

 

Đặt chân đến Mỹ, bà định cư tại Maryland cho đến tuổi về hưu thì về Virginia sống đến hôm nay. So với những cuộc đời tị nạn khác, năm tháng tha hương của bà có phần nhẹ nhàng hơn, dù cũng trải qua nhiều công việc làm để tồn tại. Bà từng học để lấy bằng kỹ thuật viên máy tính, nhưng do giới hạn ngôn ngữ, nên cũng phải dở dang, chuyển sang công việc khác.

 

Những năm tháng đó, thơ vẫn là gia tài lớn nhất người nữ sĩ có được. Bà đã âm thầm cho ra đời bốn, năm tập thơ, chỉ dành tặng cho người quen, thân hữu.

“Cuộc đời của tôi khá đơn giản, nếu không muốn nói là ‘hạn hẹp.’ Viết văn thì tả cảnh, tả tình. Thơ thì từ cảm xúc. Mà cuộc đời tôi thì bình dị, chỉ chất chứa toàn hình ảnh lính và chiến tranh,” bà nói với nụ cười thật hiền. 

“Người lính và chiến tranh chưa bao giờ rời xa tôi”

Nữ sĩ Lê Thị Ý là “con nhà nòi” của thi ca. Bà xuất thân trong một gia đình văn nghệ. Người anh lớn là nhà thơ Vương Ðức Lệ, người chị lớn là nhà văn Phượng Kiều, và cô em gái là nhà văn Lê Thị Nhị.

 

Bà đến với thơ rất sớm, từ lúc còn học trung học. Khi cùng gia đình di tản vào Nam năm 1954, nữ sĩ Lê Thị Ý sống cùng một người anh là sĩ quan. Đến năm 1960, bà về Pleiku, làm việc cũng trong một trại lính. Cũng chính vì vậy, theo lời bà, “Người lính luôn luôn trước mặt. Chiến tranh luôn luôn ở trước mặt. Không bao giờ rời xa tôi.”

 

Cả cuộc đời của nữ sĩ Lê Thị Ý được bao phủ bằng hình ảnh kiên cường, oai hùng của người lính Việt Nam Cộng Hoà. Bà như con chim nhỏ bay nhảy trong không gian khép kín của cuộc chiến. Thế giới của bà là những bộ quân phục màu lá rừng, những đôi mắt sáng ngời ý chí, những vầng trán cao kiên cường của tuổi trẻ lấy tình yêu đất nước làm lẽ sống. Có phải nữ sĩ thần tượng và thần tượng hóa hình ảnh người lính trong cuộc chiến không?

 

“Tôi vừa thương vừa thần tượng. Tôi yêu nhất là bộ quân phục của người lính. Cuộc đời của họ là anh hùng, là sự dấn thân,” bà nói.

 

Thủ bút của nhạc sĩ Phạm Duy trong bài “Tưởng Như Còn Người Yêu,” phổ từ bài thơ “Thương Ca 1” của Lê Thị Ý. (Hình: Lê Thị Ý cung cấp)

 

Trong câu chuyện bà kể, khi ở chiến trường, người lính là anh hùng, là dấn thân. Ngày về phép, hoặc cuối tuần, cởi bỏ bộ quân phục, họ là người lính chân tình, dễ thương. Bà kể, nếu người lính ấy có 500 đồng để tiêu xài trong một tuần, thì họ sẽ không dùng. Họ để dành cuối tuần gặp người yêu, cả hai cùng đi dạo phố.

 

Hướng tầm mắt ra cửa, bà nói nhẹ: “Tôi vừa thương vừa thần tượng. Khi người lính vừa ra khỏi cửa, là tôi lại nghĩ ngay đến những hiểm nguy có thể xảy đến với họ. Tôi có những liên hệ lạ lùng lắm. Nếu nói tôi tưởng tượng, cũng được.”

Người anh cả của nữ sĩ là một sĩ quan. Lúc nào bà cũng mang tâm trạng lo sợ anh mình đi trận không trở về. Người yêu đầu đời của bà, là một người lính. Người yêu thứ hai trong đời, vẫn là một người lính – người đã tử trận trong một trận đánh. 

 

“Thương Ca 1”

Năm 1965, nữ sĩ rời Sài Gòn. Bà về Pleiku làm việc trong một trại lính. Năm năm ở phố núi bé nhỏ này, mỗi một ngày bà đối diện với vô vàn những câu chuyện không tên về cuộc đời người lính. Lúc này, cũng là thời điểm khốc liệt nhất của chiến tranh. Thế giới xung quanh bà khi ấy chỉ toàn lính, và lính. Lính và vợ. Lính và vũ khí. Lính và đạn bom. Lính và tử trận. Từ đó, tình yêu bà dành cho người lính, cuộc đời người lính, càng thêm cao dầy. Đôi khi, chỉ những câu chuyện trò ngắn ngủi đời thường với vợ lính cũng làm cho trái tim nữ sĩ chạnh lòng.

Bà nhớ lại, rồi kể:

“Chúng tôi, những người phụ nữ nói chuyện vui đùa với nhau. Có người nói:

-Trời lạnh thế này mà được ở nhà ôm ông xã thì sướng biết mấy.

-Thế ông xã đâu?

-Ông xã đi đánh trận.”

Chỉ đơn giản thế thôi, nhưng cũng đủ làm tâm hồn người nữ sĩ bồi hồi xúc động.

 

Thời gian trong trại lính ở Pleiku, nữ sĩ chiêm nghiệm rõ như nhật nguyệt sự vô thường của đời người trong chiến tranh. Những người ở đó, gặp đó, rồi mất đó. Một câu chuyện được bà nhớ và kể lại:

“Tôi nhớ vào Giáng Sinh năm đó, có một người lính đến cửa hàng của tôi mua quà lưu niệm gửi cho gia đình. Anh ấy xin cho khất lại tiền, đến đầu Tháng Giêng, dịp Tết Tây, anh về trại sẽ gửi trả. Nhưng lần ra trận đó, người lính mãi mãi không quay về. Sau đó, người em của anh ấy ra nhận trả số tiền đó. Nhưng tôi không nhận.”

Nữ sĩ đa cảm “thương vay khóc mướn” (theo lời bà tự nhận) nói rằng, những năm tháng đó, bà rất gần gũi với cái chết của mọi người. Không biết bao nhiêu lần bà chứng kiến người phụ nữ, những đứa trẻ, những cô gái tuổi xuân đến mở chiếc “poncho” quấn xác để nhận xác chồng, cha, người yêu. Bà đau với nỗi đau của họ. Nước mắt của bà rơi cùng tiếng khóc của họ.

“Tôi đi ngang nhà xác, nghe tiếng khóc vọng ra. Tôi nhìn vào thấy người ta đang nhận xác… đau lắm. Không phải chỉ khi của mình, mình mới đau…” bà kể. “Nó (nỗi đau) không phải là của mình nhưng đã hóa thành của mình.”

Và bài thơ “Thương Ca 1” ra đời từ đó.

“Tôi làm bài thơ đó rất nhanh. Tôi làm một mạch, không sửa gì cả. Tôi làm xong cất vào trong bàn học. Ngày xưa, anh tôi, nhà thơ Vương Đức Lệ, không muốn các em mình theo nghiệp thơ văn, nên tôi làm xong toàn là giấu đi. Nhưng hôm đó, bạn của anh tôi đến nhà chơi, vô tình thấy bài thơ đó. Ông nói ‘thơ hay thế này mà không đi đăng.’ Thế là ông xé tờ giấy tập có bài thơ, đưa cho cụ Nguyễn Ðức Quỳnh, là người trụ trì sinh hoạt Ðàm Trường Viễn Kiến. Cụ Quỳnh đọc rồi lại chuyển cho cho ông Phạm Duy phổ nhạc,” nữ sĩ kể lại quá trình ra đời bài thơ “Thương Ca 1” và bài hát “Tưởng Như Còn Người Yêu.”

Nữ ca sĩ Julie Quang, con dâu nhạc sĩ Phạm Duy, là người đầu tiên hát ca khúc này.

 

Đã hơn 50 năm trôi qua kể từ khi “Thương Ca 1” ra đời, hình ảnh người lính Việt Nam Cộng Hòa với bộ quân phục hiên ngang, dũng mãnh, vẫn mãi trọn vẹn trong trái tim và tâm hồn người nữ sĩ – nhà thơ Lê Thị Ý.

MƯỜI THƯƠNG GỞI ANH (THANH CHI)

 

Mười thương gởi anh

 

Một thương ăn nói đàng hoàng
Hai thương ở sở chu toàn việc giao
Ba thương anh chẳng tào lao
Chuyện của người khác chen vào làm chi
Bốn thương anh không sân si
Ham mê cờ bạc làm gì khổ thân
Năm thương anh rất thủy chung
Chỉ có vợ chẳng lung tung nhiều bà
Sáu thương anh phụ việc nhà
Khi em đau ốm anh vào làm cho
Bảy thương tánh anh hay lo
Tiền bạc cần kiệm phòng hờ rủi ro
Tám thương anh chẳng đắn đo
Trau dồi kiến thức thêm vô mỗi ngày
Chín thương người anh lành ngay
Thấy ai cơ nhỡ ra tay đỡ đần
Mười thương anh rất ân cần
Cư xử nội-ngoại mười phân vẹn mười

 

Thương anh em tặng nụ cười
Anh là số một, hỡi người em yêu!

 

THANH CHI


THÁNG TƯ ĐỊA NGỤC (PHAN NGHĨA)

 

Tháng Tư địa ngục

 

Để nhớ ngày mất nước 30 Tháng Tư, 1975

 

Trưa Tháng Tư trời Saigon mưa bụi
Khắp đô thành nhuộm đắng một màu tang
Lá me rơi như ứa lệ mắt buồn
Nụ phượng hồng làm tim ai rướm máu
Những tên cướp người mang đầy súng đạn
Mắt gian thù chực uống máu lương dân
Sốt rét rừng sâu da xanh ốm đói
Nhìn gạo thóc thèm muốn điên người
Phải cướp cho được miền Nam trù phú
Thì muôn đời Bắc Cộng đỡ ăn xin
Lũ các ngươi là phường vô loại
Đem luận thuyết bất nhân dày xéo sơn hà
Ăn cháo đá bát lật lọng bất lương
Mang mặt người nhưng tim dã thú
Uống máu không tanh giết người không rợn
Cứ như một lũ tà ma gieo họa khắp nơi
Bao nhiêu năm cớ sao chưa tỉnh ngộ
Ngày càng lạc lõng cõi u minh
Tra tấn ngục giam đày ải kẻ hiền
Chỉ ước vọng công bằng dân chủ
Hãy sám hối giờ cuối cùng đã điểm
Đừng quá muộn màng chết chẳng mồ chôn!

Phan Nghĩa