Friday, May 7, 2021

KINH TẾT TÀI CHÁNH VỚI GS.TS KHƯƠNG HỮU LỘC VỀ THU THUẾ Ở MỸ VÀ VN DỰ KIẾN TĂNG 6% NĂM NAY (VOA)

 


Nếu siết chặt, Mỹ có thể thu thuế thêm 7 nghìn tỷ đô la từ người giàu

Trực tiếp: Câu chuyện kinh tế với GS-TS Khương Hữu Lộc. Chủ đề ngày hôm nay là “Nếu siết chặt, Mỹ có thể thu thuế thêm 7 nghìn tỷ đô la từ người giàu”.Bộ trưởng Tài chính Mỹ Janet Yellen mới đây nói nếu thu đúng, thu đủ, nguồn thu từ thuế của Mỹ có thể tăng thêm 7 nghìn tỷ đô la trong 10 năm tới, trong khi chương trình cải tổ kinh tế của Tổng thống Biden chỉ cần tới 4 nghìn tỷ đô la. Giáo sư Khương Hữu Lộc sẽ phân tích liệu việc siết chặt thu thuế có thực hiện được hay không.

 

https://www.facebook.com/watch/live/?v=830289457840049&ref=search

 

VN dự kiến tăng trưởng 6% năm nay và triển vọng phát triển về sau

 

Trực tiếp: Câu chuyện kinh tế với GS-TS Khương Hữu Lộc. Chủ đề ngày hôm nay là :”VN dự kiến tăng trưởng 6% năm nay và triển vọng phát triển về sau”. IMF và một số viện nghiên cứu dự báo Việt Nam sẽ tăng trưởng 6% hoặc cao hơn trong năm nay. VOA sẽ điểm lại quá trình phát triển của VN trong những năm qua và triển vọng trong những năm tới"

 

https://www.facebook.com/144239423007/videos/282282586918982


KINH TẾ TÀI CHÁNH, CÔNG NGHIỆP VỚI GS.TS. KHƯƠNG HỮU LỘC NGÀY 14/04/2021 (SBTN)

 


Kinh Tế ,Tài Chánh , Công Nghiệp với GSTS Khương h Lộc ngày 14/ 4/ 2021 

https://www.youtube.com/watch?v=tONKTfW-1w4&feature=youtu.be


Wednesday, May 5, 2021

ĐỜI TÔI: THỜI ĐẠI HỌC (DIỆP THẾ HÙNG)

 

ĐỜI TÔI: THỜI ĐẠI HỌC

 

 Giai đoạn tôi học ở Đại Học là giai đoạn bận rộn nhất. Phần thì đi học, phần thì đi kèm, đi dạy ở những trường tư để có thêm tiền để chi phí những việc cần thiết và giải trí (đi chơi). Mẹ tôi vẫn gởi tiền hàng tháng nhưng làm sao đủ. Ba nói trước khi mất là Mẹ phải cho các con học đến khi các con không còn khả năng. Mẹ đã nghe theo. Tôi học khả năng dư thừa nên đi làm thêm như sinh viên ngày nay. 

Tôi chọn khoa Vật Lý vì đó là môn học cho phép con người hiểu được cấu tạo của vật chất từ thế giới cực nhỏ như hạt nhân, nguyên tử, … đến thế giới cực lớn như vũ trụ. Từ lúc nhỏ, tôi đã không muốn học nghề rồi đi làm. Tôi muốn học hoài hoài suốt đời. Tôi nhớ một ông chú hỏi tôi « cái nghề tương lai của cháu gọi là gì ? ». Thuở ấy tôi đã không biết trả lời rõ ràng vì ở Việt Nam thời ấy không có nghề làm nghiên cứu khoa học. 

Tôi đã học xong Đại Học quá nhanh. Tôi được học bổng đi Nhật. Cùng đi có Lữ Hạnh bạn từ Trung Học. Ở Nhật tôi chọn học Lý Thuyết vì tôi đã nghĩ là những nghiên cứu của tôi không nên phụ thuộc vào máy móc. Nếu tôi về Việt Nam hay đi nước khác tôi phải có cùng máy móc ấy thì mới tiếp tục được. Học lý thuyết rất khó, vì những khái niệm về Vật Lý lượng tử rất trừu tượng. Học bằng tiếng mẹ đẻ đã khó khăn rồi, huống hồ tôi phải hiểu khi nghe hay khi đọc sách ngoại ngữ. Nhờ có một óc tưởng tượng phong phú, tôi đã vượt qua tất cả những khó khăn ấy. Tôi đọc những hàng viết, nhưng tôi tưởng tượng những gì ở phía sau của mỗi câu.

 

Học ở Nhật một thời gian, tôi được nhận ở Đại Học Paris làm giảng viên và nghiên cứu. Thời gian ở Nhật, tôi đã học được cách làm việc của người Nhật, biết được những bí quyết để thành công trong sự nghiệp nghiên cứu khoa học. Ở Pháp tôi đã tiếp tục phương pháp của người Nhật nhưng cũng bắt chước cái tự do suy nghĩ của người Pháp.

Tôi nói giỏi tiếng Nhật, có làm một số thơ bằng tiếng Nhật. Khi có thì giờ, tôi sẽ dịch và chia sẻ với các bạn.


Tuần sau tôi sẽ viết về những việc làm của tôi ở Pháp. 

Kể chuyện bằng thơ không phải dễ. Câu chuyện phải mạch lạc trong khuôn khổ luật lệ bằng trắc vần điệu của thể thơ. Tôi đã cố gắng. Tôi xin nói như người Mỹ hay nói: I try my best. Hy vọng các bạn yêu thích mấy bài thơ tôi viết. 

Chúc các bạn vui nhiều tuần này.


ĐỜI TÔI: THỜI ĐẠI HỌC

 

Xong Đệ Tứ tôi dạy kèm vài chỗ

Phần để thêm một số ít tiền tiêu

Phần tập tành để hiểu rộng hiểu nhiều

Tôi học giảng những điều tôi đã hiểu

 

Ba đã nói dù bạc tiền có thiếu

Dù đôi khi phải chịu những nhọc nhằn

Phải nuôi con ăn học hết khả năng

Mẹ hay nhắc trối trăn lời Bà nói

 

Xong Trung Học tôi thật là hứng khởi,

Đi Sài Gòn khăn gói để thành nhân

Học với hành tôi luyện toán tu văn

Ở Đại Học tôi đăng khoa Vật Lý

 

Tôi muốn biết Thiên Nhiên bao huyền bí

Tôi rất tin vào trí óc con người

Từ hạt nhân đến vũ trụ tuyệt vời

Tôi cố gắng dù đời nhiều thiếu thốn

 

Ngày đi học đêm dạy kèm bận rộn

Để có tiền chi tổn phí sinh viên

Những năm sau tôi dạy ở Thượng Hiền (1)

Rồi tiếp đó dạy luyện thi lớp lớn (2)

 

Đậu Cử Nhân ba năm thay vì bốn (3)

Cao Học thì chỉ tốn một năm thôi

Tôi được cho học bổng để trau dồi

Ngành khoa học ở một nơi tiền tiến (4)

 

Đi một nước tôi chưa từng nói tiếng

Muốn hiểu gì phải nghiền ngẫm sách Anh

Tự học là phương pháp thuở còn xanh

Tôi kiên nhẫn muốn thành công phải thế

 

Tôi biết học xứ xa không phải dễ

Tôi chọn ngành Lý Thuyết để vươn cao

Dù khó khăn lòng dạ vẫn không nao

Học tiếng Nhật (5)  rồi vào trường nghiên cứu.


còn tiếp) 

Diệp Thế Hùng (May 04, 2021).

 

(1) Trường Thượng Hiền, đường Trần Quí Cáp (tên cũ), Saigon

(2) Tôi đã dạy ở trường Phan Sào Nam, đường Phan Thanh Giản (tên cũ), ngã 6, Saigon, gần 20 giờ mỗi tuần giữa những giờ phải đi học ở Đại Học

(3) Chương trình Cử Nhân 4 năm, tôi đã học rút trong 3 năm

(4) Tôi được học bổng Chính Phủ Nhật

(5) Đến Nhật, như tất cả những người đi nghiên cứu, chỉ được học tiếng Nhật ba tháng rồi vào trường nghiên cứu.

 

Hình chụp ở Vũng Tàu 1969

Hình chụp ở Nhật dưới hoa anh đào 1973

Ngày rời Nhật đi Paris 1975


MẸ ƠI CON HỐI HẬN

 


Bài thơ của một anh Bộ Đội miền Bắc con của bà Trần thị Phấn ở Hải Dương. Anh tử trận trên chiến trường xâm lăng Miền Nam năm 1969. Bài thơ bỏ trong túi áo của anh. Đã được đăng trên các trang báo miền Nam thời bấy giờ.

MẸ ƠI CON HỐI HẬN

Bài thơ sau đây nhặt được từ túi áo của một anh bộ đội miền Bắc bị tử trận tại chiến trường miền Nam những năm 1969.

Trong hồi ký của tử sĩ nầy, người ta còn biết anh là con của bà Trần Thị Phấn ở Hải Dương.

Bài thơ nầy đã được đăng trên báo chí VNCH thời đó.
Bài thơ không ghi tên tác giả, được một thường dân miền Nam mến thương cảnh ngộ và ghi lại.

"ĐI GIẢI PHÓNG"

Từ buổi con lên đường xa mẹ
Theo anh em sang Lào rồi dấn bước vào Trung.
Non xanh núi biếc chập chùng
Sớm nắng biển, chiều mưa rừng gian khổ.

Tuổi thanh xuân cuộc đời như hoa nở
Vì hòa bình đâu ngại bước gian nguy.
Mấy tháng trời, ngày nghỉ đêm đi
Giày vẹt gót áo sờn vai thấm lạnh.

Có những chiều Trường Sơn núi rừng cô quạnh
Mẹ hiền ơi con chợt nhớ quê mình.
Khói lam chiều, giàn mướp lá lên xanh
Con bướm nhỏ mái đình xưa, ôi nhớ quá!

Vào nơi đây tuy đất người xa lạ
Nhưng miền Nam vẫn cùng một quê hương.
Vẫn hàng dừa xanh, vẫn những con đường
Vẫn hương lúa ngọt ngào.

Tiếng tiêu gợi nhớ
Con trâu về chuồng
Ðã qua buổi ban đầu bỡ ngỡ.
Con nhìn ra nào giải phóng gì đâu?

Buổi chợ đông vui, đồng lúa xanh màu
Mái chùa cong buông hồi chuông tín mộ.
Lớp học tưng bừng những đàn trẻ nhỏ
Ðang nhịp nhàng vui hát bản đồng ca.

Và sau vườn luống cải đã vàng hoa
Ðàn bướm nhỏ rủ nhau về hút mật.
Xóm dưới làng trên niềm vui ngây ngất
Sao người ta bắt con phải đốt xóm phá làng?

Phải gài mìn gieo tang tóc thương đau
Ðã nhiều lần tay con run rẩy.
Khi gài mìn để phút sau bỗng thấy
Xác người tung và máu đổ chan hoà.

Máu của ai
Máu của bà con ta
Máu của người như con như mẹ…
Ðêm hôm ấy mắt con tràn lệ

Ác mộng về, con trằn trọc thâu canh.
Con hối hận vì đã làm chuyện xấu
Lòng con đau có ai nào thấu?
Con gục đầu chịu chết để tạ tội non sông.

Người miền Nam xin đừng hận kẻ dại khờ.
Lệnh cấp trên nào ai dám cãi?
Phải vào Nam giải phóng cái an lành
Còn non dại nên đành nghe lời hảm hại.

*Bài thơ không ghi tên tác giả.

Nguồn: FB Le van Quy
- KEN DANG -


CÁI CHẾT CỦA MỘT NGƯỜI VIỆT TÊN NAM (HUỲNH KIM THU)

 Đêm đêm mẹ đốt cây hương ngát ,

Mẹ khấn đôi lời con có nghe ,
Vì nước bỏ mình là bất tử ,
Xưa nay chinh chiến mấy ai về. !

CÁI CHẾT CỦA MỘT NGƯỜI VIỆT TÊN NAM.

Đọc bài này mà chảy nước mắt.
Tôi được dịp đi miền Tây trong phái đoàn của ông Thứ Trưởng Nội Vụ Lê Công Chất, được gặp tướng Nguyễn Khoa Nam trong dịp đó. Dưới 10 người ngồi chung một cái bàn gỗ nơi một quận nhỏ vùng quê tỉnh Phong Dinh với bữa ăn trưa có thịt rùa.
Hình ảnh tướng Nam với bộ quân phục và nón sắt vẫn còn rõ trong ký ức, dù là tướng, với khuôn mặt cương nghị, nhưng ăn nói nhỏ nhẹ, đáng yêu mến và ngưỡng phục. Buồn ! Cảm ơn những người đã luân phiên post lại bài viết này.
Tường Giang


***
*** ***
Tôi bắt đầu tháng 4 năm nay, khuya 31/3 - 1/4, bằng giấc ngủ chập chờn. Suốt đêm là như thế ! Lãng vãng trong đầu là khuôn mặt một người đàn ông với hai hàng nước mắt !
Người đàn ông đó là thiếu tướng Nguyễn khoa Nam!
Những ngày này, 44 năm xưa, trong khi phân nửa lãnh thổ "di tản", chiến trường vùng 3 đang sôi động thì "Quân đoàn – Quân khu 4 chưa mất một tấc đất, quân số và vũ khí vẫn còn nguyên vẹn. Chúng ta cứ bình tĩnh chiến đấu, không phải chạy đi đâu cả", đó là những tuyên bố, nhắc nhở của tướng Nam trong các buổi họp tham mưu.
Hai tháng cuối cùng của VNCH, biết bao nhiêu là hình ảnh tang thương, uất hận đã làm ứa máu trái tim, đứt đoạn lòng người, qua những bài viết, lời kể của các chứng nhân: những người lính, người dân có cơ may rời nước đến được bến “tự do”, những người trở về từ trại tập trung, trở về từ cõi chết ... vv Tôi đã thấy, như trước mắt, diễn tiến các cuộc tự sát tập thể của lính mũ xanh, mũ đỏ hay những giây phút cuối cùng của quân nhân các cấp, các binh chủng trên đường lui quân, trong ngày mất nước...
Đó là những hình ảnh làm nước sôi, đá mềm, ngạ quỷ còn phải nhắm mắt, Chúa Phật còn phải thở dài.
Nhưng không biết sao, cái hình ảnh luôn đi về trong tôi, từ gần 20 năm nay, lại là những giọt nước mắt âm thầm của tướng Nguyễn Khoa Nam, trong chiều 30/4 và sáng 1/5, vài mươi phút, trước khi tự sát !
Trung úy Lê Ngọc Danh, tùy viên tướng Nam, thuật lại trong quyển “Nguyễn Khoa Nam" (Hội phát huy văn hóa Việt Nam, 2001).

Chiều 30/4/1975 ( bắt đầu từ 18h30 )
“….. Tư Lệnh đi từ đầu phòng đến cuối phòng hỏi thăm từng bệnh nhân, rồi Tư Lệnh đi qua dãy kế bên và tiếp tục hơn một giờ thăm viếng thương, bệnh binh buồn tẻ và nặng nề. Gần giường một thương binh, anh cụt hai chân, vải băng trắng xóa, máu còn rịn ra lốm đốm đỏ cuối phần chân đã mất. Tư Lệnh đứng sát bên và hỏi:
– Vết thương của em đã lành chưa?
– Thưa Thiếu Tướng, vết thương mới mấy ngày còn ra máu, chưa lành.
Với nét mặt buồn buồn, Tư Lệnh nhíu mày lại làm cặp mắt kiếng đen lay động. Tư Lệnh chưa kịp nói thêm thì anh thương binh này bất chợt chụp tay Tư Lệnh mếu máo:
– Thiếu Tướng đừng bỏ tụi em nhé Thiếu Tướng.
– Qua không bỏ các em đâu. Qua ở lại với các em.
Qua ánh đèn của bệnh viện, tôi thấy Tư Lệnh đưa ta nâng sửa cặp kính đen và hai giọt nước mắt từ từ chảy lăn dài trên khuôn mặt đau thương của ông. Tư Lệnh cố nén xúc động, nhưng người đã khóc, khóc không thành tiếng và những giọt nước mắt tự nhiên tuôn trào. Tư Lệnh vịn vai người thương binh nói trong nghẹn ngào:
– Em cố gắng điều trị… có qua ở đây ….”


Sáng 1/5/1975 ( khoảng 30 phút trước khi tướng Nam tự sát )
“ … Tư Lệnh chầm chậm bước theo nấc thang lên tầng trên, tôi và anh Việt nối bước theo sau. Tư Lệnh ra sân thượng, đứng sát bên lan can, mắt nhìn ra Đại Lộ Hòa Bình trước cửa cửa dinh, tôi đứng bên phải Tư Lệnh, anh Việt ( *) đứng bên trái. Trên lộ, chỉ có vài chiếc xe qua lại, người thưa thớt, khung cảnh vắng vẻ như chiều 30 Tết. Bất chợt, Thiếu Tướng bật khóc. Tư Lệnh cố nén không khóc thành tiếng, nhưng những giọt nước mắt tuôn trào chảy dài trên khuôn mặt đau buồn vì nước mất nhà tan. Tôi cũng khóc theo, anh Việt cũng vậy. Ba người đứng trên sân thượng trước mặt tiền dinh, mặc cho nước mắt tự do tuôn chảy...".


(*) Trung úy Việt : sĩ quan liên lạc
Tối 30/4 , sau lệnh đầu hàng, trong khi nhiều “đại bàng" tìm cách thoát thân, thì tướng Nam là vị chỉ huy quân sự có cấp bậc cao nhất, có lực lượng hùng hậu nhất, (hơn cả quyền Tổng tham mưu trưởng QLVNCH: Chuẩn tướng nằm vùng Nguyễn Hữu (vô ?) Hạnh), lại bỏ ngày giờ đi thăm hết các thương binh, thể hiện tình “huynh đệ chi binh", như môt câu trong bài hát của ns Anh Bằng: “… Sống chết có nhau là / huynh đệ chi binh " !


Nói với người thương binh cụt hai chân: “Qua không bỏ các em đâu. Qua ở lại với các em". Ông Nam nói và ông Nam làm: ông đã ở lại, vĩnh viễn ở lại, “Người ở lại Tây Đô" không chỉ ở lại với Cần Thơ, với “các em" thương binh trong quân y viện Phan thanh Giản, mà còn ở lại trong lòng người dân Việt Nam Cộng Hòa. Mà không chỉ với người Cộng Hòa, theo như lời kể (2014) của "cựu" tù nhân CS, luật sư Lê Công Định.


“Vào ngày 1/5/1980, sau bữa ăn trưa, ba tôi ngồi uống trà và trò chuyện với các anh em chúng tôi về những ngày tháng Tư của 5 năm về trước. Ba tôi, người thuộc bên thắng cuộc phía miền Nam, đã tham gia chiến tranh vì mơ ước hòa bình và, cũng như nhiều người đương thời, ông đã vỡ mộng vài năm sau khi cuộc chiến kết thúc. Ông kể với lòng kính phục về Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân đoàn 4 của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), vị danh tướng đã tuẫn tiết sau khi Sài Gòn thất thủ".


Ông Định viết thêm:
"Trở lại câu chuyện ban đầu, hình ảnh về tướng Nguyễn Khoa Nam do ba tôi kể lại đã khiến tôi lao vào tìm hiểu nhiều hơn về các vị danh tướng VNCH khác, mà thật lòng tôi rất kính trọng, giống ba tôi. Đọc quyển sách “Chân dung các tướng ngụy Sài Gòn” được bên thắng cuộc in và tái bản nhiều lần sau 1975 nhằm mục đích bôi nhọ quân đội và tướng lĩnh của bên thua cuộc, tôi không khỏi bật cười với ý nghĩ rằng chân dung tồi tệ mà tác giả muốn phác họa cho các tướng VNCH thật ra thích hợp và xứng đáng dành cho những sĩ quan Quân Đội Nhân Dân VN thời bình ngày nay hơn. (https://www.facebook.com/LSLeCongDi…/posts/1412420875698359… ) !


Ở đây, trong một vài buổi dạ tiệc, dạ vũ, với phần đầu chương trình “cùng (?) hát, cùng… chịu trận (!!!)", thỉnh thoảng tôi lại nghe (!) câu hát “nước mắt đàn ông không rơi từng giọt / nước mắt đàn ông chôn sâu trong lòng...", một câu tuy “cải lương" nhưng nghĩ lại cũng không sai .


Đàn ông rất ít ai khóc (trừ… ca sĩ Anh Khoa), nói gì đến “lính Dù lên điểm" Nguyễn khoa Nam, vào sinh ra tử hằng ngày, lon lá đều lên ở chiến trường (ngoài 5 năm “chịu trận" với chức vụ Đại Đội Trưởng Kỹ Thuật Nhảy Dù). 1961 – 1972 từ Đại úy trưởng ban 3 / TĐoàn 3 Dù lên đến Thiếu tướng Tư lệnh sư đoàn 7. Chưa nói Tướng Nam, qua ký ức những người tiếp cận, là một người ăn nói điềm đạm, ít khi biểu lộ tình cảm. Thế mà cuối cùng ông lại khóc trước mặt thuộc cấp ! Khóc những hai lần !


Hình dung buổi chiều ghê rợn ấy, buổi chiều 30/4, không ai biết chuyện gì sẽ xảy ra, khi đã có lệnh trên buông súng, khi đang ào ào kẻ chạy, người đi. Nhưng xe Tư Lệnh vẫn cắm cờ, hiên ngang, phom phom vào quân y viện. Hình dung buổi sáng 1/5, từ lầu cao tư dinh, 3 thầy trò im lặng đứng bên nhau nhìn ra Hòa Bình, cái đại lộ thường nhật ngựa xe như nước, bây giờ chỉ hớt hãi dăm bóng người qua. Rồi một người bật khóc, hai người khác khóc theo !
Đó là những người đàn ông, những người trai thời loạn, đã quen tiếng đạn bom, đã kề với cái chết. Thế mà bây giờ lại khóc. Sử sách chỉ ghi điều chánh yếu, không ghi chi tiết nhưng ai dám quả quyết rằng, trước khi tự sát, Hoàng Diệu không khóc, Võ Tánh không khóc, Phan thanh Giản không khóc…. Vv ? Khóc không vì sợ, không vì yếu lòng, “xưa nay chinh chiến mấy ai về". Nước mắt này là nước mắt uất hận, tức tối, đau thương… Như muốn cắn lưỡi phun máu hỏi trời “Tại sao lại là như thế ?!"


Cũng những ngày này, 47 năm trước, 12/4/1972: Trung tá Nguyễn Đình Bảo, tiểu đoàn trưởng 11 Dù, đã ở lại “Charlie", sau 5 ngày quần thảo với 1 đối phương đông gấp 6 lần (2 trung đoàn bộ binh + 1 trung đoàn pháo) !
Ông Bảo là đàn em ông Nam. Cả hai ông đều ăn gạo sấy, uống bi-đông Nhảy-Dù từ lúc là sĩ quan mới ra trường lên đến cấp chỉ huy. Khi ông đại tá Nam nắm Lữ Đoàn 3 thì ông thiếu tá Bảo là một tiểu đoàn phó. Bây giờ “người ở lại Charlie", “kẻ ngã xuống Cần Thơ".
Charlie hay Cần Thơ đều bắt đầu bằng “C", khác chăng một bên đồi cao, một bên thành phố !
Khóc anh Bảo, nhạc sĩ Trần thiện Thanh viết: “Nhớ anh trời làm cơn bão". Cơn bão âm ỉ từ 72 biến thành hồng thủy, địa chấn 75: nước mất, nhà tan, với biết bao nhiêu là xác người Nam Việt: xác lính can trường, xác dân vô tộ . Trong số những cái chết can trường, có cái chết tự sát của một người Việt tên Nam.


Tôi đã trãi qua (hầu như) trắng đêm 1/4/2019 ! Lãng vãng trong đầu là khuôn mặt cương ngh , oai nghiêm của một người đàn ông. Với hai hàng nước mắt !
Người đàn ông đó là Thiếu tướng tư lệnh vùng 4 Nguyễn khoa Nam ! Hai hàng nước mắt đó là những giọt lệ cuối đời ông. Một cuối đời đúng nghĩa. Bởi, chỉ vài mươi phút sau, ông đã kê súng bắn vào màng tang tự sát.
“Tư Lệnh thà chết chứ không bàn giao !"


Huỳnh Kim Thu

GẶP GỠ (NHẤT PHƯƠNG)

 


ĐỔI CẢ THIÊN THU TIẾNG MẸ CƯỜI (TRẦN TRUNG ĐẠO)

 


Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười

 

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm Mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi

 

Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về

 

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Đốt lửa cho đời tan khói sương

 

Tiếng Mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao với
Biết đến bao giờ trông thấy nhau

 

Đừng khóc Mẹ ơi hãy ráng chờ
Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ
Đau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

 

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười


(Trần Trung Đạo)

 


GIỚI THIỆU 2 TẬP THƠ ANH HÙNG NGUYỄN - GÃ LÀM THƠ THỜI NHÔM NHỰA & CHƯA CHI ĐÃ HẾT ĐỜI

 




Thukỳ xin trân trọng giới thiệu 2 tập thơ của anh Hùng Nguyễn (Cựu HS Nguyễn Huệ Tuy Hòa, Phú yên).  Thơ của anh rất nhẹ nhàng, một chút lãng tử, một chút ngạo mạng...Đúng là thi sĩ đất Phú.  Trong tập thơ lục bát bốn câu của anh “GÃ LÀM THƠ THỜI NHÔM NHỰA” gồm 740 bài thơ ngắn nhưng đầy ý nghĩa. 


“Thiên hạ mang mang hễ say thì nói dóc/ Uống ít ly bia, viết ít câu thơ mà thành hảo hán, anh hùng/ Đâu hay lũ mình hễ say là bật khóc/ Tiếc đời nhau, chết ngắc thuở sang Tần…”.  Đó là những câu thơ trong tập thơ với chủ đề “CHƯA CHI ĐÃ HẾT ĐỜI”.  Phải chăng thi sĩ còn chút gì nuối tiếc, còn chút gì vương vấn mà chưa thể chia sẻ cùng ai. 

Ước mong quý thầy cô & các anh chị ủng hộ cho 2 tập thơ của anh.  Mọi chi tiết xin liên lạc ở dưới:



Xin mời thưởng thức vài bài thơ của anh 
trong 2 tập thơ mà TK đã chọn:











NHỮNG NGƯỜI CÒN Ở LẠI MIỀN BẮC & CÔ LÁI ĐÒ (VÂN HẢI- GHI LẠI)

Sông Tam Bạc (Hải Phòng)
Cải cách ruộng đất, đấu tố
Nguồn: OntheNet

Những người còn ở lại miền Bắc


Cuộc di cư vào Nam hồi 54-55 của những người miến Bắc là một sự lưạ chon đúng đắn và dũng cảm. Họ đã đứt ruột rời bỏ quê hương, nơi tổ tiên họ đã bao đời sinh sống. Nơi từng nắm đất, ngọn cỏ, bụi cây cũng chứa đầy máu, nước mắt, mồ hôi của những thế hệ ông cha. Họ ra đi như một khẳng định dứt khoát và quyết liệt. Không thể sống chung với cộng sản. Dẫu trước mắt, có thể còn đầy rẫy khó khăn, chập chững bước đầu nơi đất khách, lập quê hương mới. Nhưng nơi đó, họ được có tự do, hạnh phúc và nhất là nhân thân họ được tôn trọng.

Người đi đã thế. Những thân nhân còn ở lại chịu khổ ải bội phần. Họ bỗng dưng thành những công dân loại hai. Rất nhiều người bị nhà cầm quyền kéo ra đấu tố, tù đày chẳng kém gì những thành phần cường hào đìạ chủ. Tuy họ không giàu, cũng không có chức tước gì trong thôn xã. Nhưng họ bị tội là có thân nhân ruột thịt di cư vào Nam theo giặc.

Những gia đình có thân nhân di cư vào Nam thường không được vào đảng… Không được nâng đỡ, thăng tiến trong công tác. Nhất là sau khi có tin tức về những vụ bắt gián điệp, biệt kích từ trong Nam gửi ra. Thì những gia đình có thân ruột thịt di cư như ngồi trên đống lửa. Vì lúc nào họ cũng bị theo dõi nghi ngờ với những tin đồn có cánh.

Họ sống trong nơm nớp sợ hãi, bất an và nghi kỵ... không kém chi những thành phần địa chủ, cường hào.

Đọc bài Di Cư anh viết, tôi thấy người đi đã vậy mà người ở lại cũng lãnh bao nhiêu hệ lụy. Những hệ lụy dai dẳng suốt mấy chục năm kéo theo bao những cảnh đời cùng khổ. Mà chẳng giấy bút nào viết hết.
 

Không biết những người ra đi có hiểu cho người ở lại không?


Và như vậy bài Di Cư không đề cập đến hệ lụy của người ở lại là chưa đầy đủ. Phải không anh?

Nhân đây tôi cũng chép lại bài thơ về người con gái có chồng theo "giặc" vào Nam 
(Bài thơ khá được phổ biến, ngân ngợi, hò, vè). Thời đó rất nhiều người thuộc.

CÔ LÁI ĐÒ

Khoan khoan cô lái đò ơi,
Có còn rộng chỗ cho tôi sang nhờ.

Khách đông, thuyền đã rời bờ,
Nể lòng cô gái quay đò, tôi sang.

Nắng thu như dải luạ vàng,
Trên sông Tam Bạc (1) nhịp nhàng chảy xuôi.

Môi cô luôn nở nụ cười
Tay cô thoăn thoắt đưa đôi mái chèo.

Mạn thuyền tiếng sóng êm reo,
Có dòng nước bạc chảy theo con đò.

Thuyền sang tới bến bao giờ,
Bỗng dưng tôi thấy ngẩn ngơ, bàng hoàng.

Ước gì có chuyến đò ngang,
Dài bằng cả một thời gian mười ngày...

Thu qua, rồi đến xuân nay,
Tình cờ qua bến sông này năm xưa.

Vẫn còn nhớ lại trong mơ,
Vẫn sông, vẫn bến đôi bờ xôn xao.

Vẫn con đò của độ nào,
Vẫn cô gái nhỏ, má đào chưa phai.

Nhưng sao cô khẽ thở dài,
Thẫn thờ nhìn khách ngồi hai mạn thuyền.

Nụ cười tươi thắm, hồn nhiên,
Năm xưa, chẳng thấy nở trên môi hồng.

Hỏi dò mấy bạn sang sông,
Biết thêm cô đã lấy chồng thu qua.

Đời đang tươi đẹp như hoa,
Chồng cô theo giặc, bỏ nhà vào Nam.

Đêm thu dưới anh trăng vàng,
Dừng chèo trên bến, đò ngang đợi chờ.

Nước non ngăn cách đôi bờ,
Hờn căm đế quốc bao giờ cho nguôi...



 

Bài này viết theo thể lục bát. Từ ngữ bình dị mà vần điệu nhuần nhuyễn.

Tôi không biết tên tác giả nhưng thuộc lòng từ thuở lên mười.

Vân Hải

THỤC VŨ VỚI "ANH Ở ĐÂY BẠN BÈ ANH CŨNG Ở ĐÂY" (HOÀNG LAN CHI)

 

THỤC VŨ VỚI “ANH Ở ĐÂY BẠN BÈ ANH

VẪN Ở ĐÂY”

 

Hoàng Lan Chi: Tưởng nhớ nhạc sĩ Thục Vũ nhân ngày Quốc Hận 30 tháng 4

 

https://www.nhaccuatui.com/bai-hat/anh-o-day-doan-chinh.8LpStykKOC.html

 

Với tôi bản nhạc làm tôi xúc động vào ngày 30/4 vẫn là ” ANH Ở ĐÂY, BẠN BÈ ANH CŨNG Ở ĐÂY” của Thục Vũ. Mỗi năm nghe bản này lại ứa nước mắt. Cũng như tôi cũng ứa nước mắt khi nghe “Đêm chôn dầu vượt biển”

 

Thục Vũ là một vị sĩ quan Quân Ðội và đã chết trong cuộc Tù Ðày sau Ngày 30 Tháng Tư 1975, ông từ trần trong nguc tù ở miền Bắc, ông để lại cho đời bản Nhạc Bi Hùng: Anh ở đây, bạn bè anh cũng ở đây. 

 

Lời Thơ Nhạc: Lời 2 của Vũ Đức Nghiêm

 

1- Anh ở đây, bạn bè anh cũng ở đây.

Áo rách xác xơ vai gầy

Cùng chung kiếp sống lưu đầy

Anh ở đây, ngày này cơm không đầy chén

Chiều chiều xa trông đàn én

Kiếm mồi thấp thoáng bay nhanh

Toa liền toa, tầu đi trong ánh hoàng hôn

Tiếp nối những dư âm buồn

Thành thơ ray rứt tâm hồn

Trăng ngậm sương, mịt mờ không soi nẻo tối

Ðường dài sao rơi lạc lối

Cho lòng giăng mắc không nguôi

Chiều Suối Máu xót xa buồn nhớ con

Tình thương Em vẫn đong đầy khoé mắt

Chiều Long Giao sương mờ đêm u uất

Nhớ thương vơi đầy hẹn hò vương chân mây

Anh ở đây, bạn bè anh cũng ở đây

Vẫn giếng nước sâu bên cầu

Tìm trăng, trăng vướng dây gầu

Anh ở đây, ngày ngày bên trong rào sắt

Hận thù ưu tư chồng chất

Giữa lòng núi cũ, sông xưa

 

2-Anh đẩy xe, bạn bè anh cũng đẩy xe

Dưới nắng gắt gay trưa hè

Lòng đau viễn xứ ê chề

Mưa chiều đông nhạt nhòa mưa rơi lạnh giá

Ngậm ngùi trông nhau lặng lẽ

Chân buồn đếm bước lê thê

Ôi đời ta, ngờ đâu trăm đắng nghìn cay

Khúc sắn, bát ngô vơi đầy

Sầu nuôi thân xác hao gầy

Bao ngày qua đợi chờ tin vui chẳng thấy

Hận thù yêu thương còn đấy

Vui đành như cánh chim bay

Người giữ nước phát giam miền núi xa

Chiều Sơn La mưa rơi nhòa nước mắt

Người đi xa trong niềm đau chất ngất

Lối xưa không về, hẹn hò đành đơn sai

Ôi người đi, về đâu khi nắng chiều phai ?

Nắng úa xót xa thương người

Chiều nao gục ngã trên đồi

Chim rủ nhau về rừng ru anh ngủ mãi

Hình hài tan theo cỏ cháy

Kiếp người kiệt sức buông tay

Anh ở đây ! Anh ở đây ! Sao anh vẫn còn ở đây?

 

Nghe Đoàn Chính con trai Đoàn Chuẩn hát : https://www.nhaccuatui.com/bai-hat/anh-o-day-doan-chinh.8LpStykKOC.html

 

Năm 1975, Nhạc sĩ Thục Vũ bị đưa về Long Giao rồi đến trại tù Tân Hiệp – Biên Hòa. Ở đây, ông đã sáng tác nhạc phẩm “Suối máu”, với 8 câu thơ cảm đề cũng của Thục Vũ:

 

 “Em ở Sai Gòn anh ở đây

 Đồi pha cát trắng kẽm gai đầy

Ngẫn ngơ dăm chuyến tàu xuôi ngược

Để nhớ nhung về che khuất mây

Tôi vẫn thường đêm thương nhớ con

Thương em tình nghĩa vẫn vuông tròn

Thương mình ray rứt từng đêm trắng

Thương bạn anh trong chuyện mất còn

“Anh ở đây bạn bè anh cũng ở đây

Áo rách xác xơ thân gầy

Cùng chung nếp sống lưu đày

Anh ở đây ngày ngày cơm chưa đầy chén

Chiều buồn ra xem bầy én

Kiếm mồi thấp thoáng bay quanh…”

 

Từ net
Một buổi sáng sớm, tôi đang lúi húi trồng luống xu hào, bỗng thấy bên mình có cái gì kêu phần phật. Từ từ ngước lên, tôi thấy một mảnh quần trây-di rách bị gió thổi bay lắc lư làm nên tiếng động nghe cũng… vui tai. Tôi nhận ra ông Phan Lạc Phúc, khoác chiếc áo trây di cũng tả tơi “đồng bộ” với cái quần rách. Nước mắt ông Phúc chảy rất chậm trên mặt, ông nghẹn ngào cất tiếng:

– Thằng Sâm chết ở bệnh xá đêm qua rồi.

Tôi lặng người, bởi mới hôm qua, tôi lẻn sang bệnh xá thăm, Thục Vũ đưa cho tôi hai gói thuốc lào nhỏ, anh nói: “Tôi mệt không hút thuốc được nữa”. Ngồi nói chuyện vài phút, anh Tô Kiều Ngân ở trạm xá này cũng đến ngồi chơi. Tôi thấy Thục Vũ vẫn còn khỏe, vậy mà đêm qua đã ra đi.

 

Sau đó, anh Tô Kiều Ngân nói với tôi lời an ủi đúng nhất, ngắn nhất và cũng bi thảm nhất: “Mừng cho nó, từ nay nó không còn biết đói rét và không ai hành hạ được nó nữa”.

Đám tang Thục Vũ, hình ảnh bi thảm nhất trong cuộc đời chúng tôi.

 

Nhưng vào buổi chiều năm 1977, khi đồi núi Sơn La bắt đầu chạng vạng, chúng tôi đang làm những công việc cuối cùng ở vườn rau thì bất chợt nhìn sang lối ra từ bệnh xá một khung cảnh hết sức đau lòng. Trên con đường đá cũ nhỏ, vòng theo sườn núi cao vút chập chùng, cách vườn rau là cái ao, đám tang bắt đầu di chuyển chậm chạp. Hai anh cai tù vác súng AK đi đầu, theo sau là một anh tù cầm vài nén nhang, đến 4 anh tù khiêng cỗ quan tài mộc, sau cùng lại là 2 anh cai tù vác súng AK. Suốt con đường dài âm u đó, chỉ có đám người ấy lặng lẽ chuyển động như những bóng ma.

 

Ở vùng đồi núi bóng tối đổ xuống rất nhanh, mang theo sương mù mỏng dăng ngang triền dốc dựng đứng như những bức tường đá của nhà giam thiên nhiên, chẳng cách nào thoát ra được. Chúng tôi biết chắc đó là đám ma Vũ Văn Sâm tức nhạc sĩ Thục Vũ. Tất cả hơn ba chục tù nhân trong đội rau đứng ngẩn ra, dán mắt nhìn theo cái đám ma thê thảm ấy. Ông Phan Lạc Phúc, đến bên tôi, không nói lời nào, quay mặt đi giấu nước mắt. Nhìn sang phía bên trạm xá, Tô Kiều Ngân và mấy anh bác sĩ trẻ cũng là tù, đứng sau hàng rào kẽm gai cũng ngơ ngẩn. Ngân vẫy tay cho tôi và anh Phan Lạc Phúc chẳng biết để làm gì. Là một sự cảm thông tận cùng hay nói lời từ biệt.

Mấy tay coi tù cũng đứng lặng, nhìn chúng tôi và họ hiểu rằng lúc đó dù bắt chúng tôi thu dụng cụ về trại cũng chẳng ai chịu về, dù có bị bắn tại chỗ. Tất cả đứng như tượng gỗ dõi theo đám tang đi trong buổi hoàng hôn lạnh ngắt, dần khuất vào cuối con đường cong phía chân núi. Sương mù bắt đầu tỏa xuống. Ai đó bỗng cất lên tiếng hát “Sơn La âm u núi khuất trong sương mù. Đoàn thù tha hương cất bước lê trên đường…”. Một bài hát xưa cũ của những nhà cách mạng thương tiếc những chiến sĩ bị giặc bắt cầm tù ở Sơn La. Sao lúc này nó hợp với chúng tôi thế.

 

Hình ảnh cái đám ma Thục Vũ còn in đậm trong tâm khảm chúng tôi cho đến bây giờ. Tôi chắc anh Tô Kiều Ngân, đến cuối đời cũng chưa quên được hình ảnh này. Nó trở thành những kỷ niệm rất riêng nhưng cũng lại rất chung của những ai đã từng sống dở chết dở qua những cái được gọi là “trại cải tạo”.

 

Nhạc sĩ Thục Vũ tên thật là Vũ Văn Sâm, Trung tá Chiến tranh Chính trị, Tham mưu trưởng khối Chiến tranh chính trị Trung tâm Huấn luyện Quang Trung, vào tù năm 1975 và qua đời trong vùng rừng núi Sơn La, Bắc Việt năm 1977, sau gần hai năm tù đày.