GIỚI THIỆU NGÔN NGỮ VIỆT NAMAn Introduction to the Vietnamese Language


TÓM LƯỢC LỊCH SỬ CHỮ VIẾT CỦA NGÔN NGỮ VIỆT NAM

    A GLANCE AT THE HISTORY OF THE VIETNAMESE LANGUAGE

 Trong suốt mấy ngàn năm chiều dài  lịch sử của đất nước, tiếng việt có bốn hình thức chữ viết.

The Vietnamese language is believed to have experienced four writing systems during the course of its history.


   1. Chữ Viết Có Hình Con Giun – The Crawling Worms

        Trước thời kỳ bị người Tàu xâm lăng (207 TTL  938 STL) người Việt đã có chữ viết riêng của mình với hình dạng giống như nòng nọc có đường nét giống như “giun bò”. (Theo sách Thánh Tông Di Thảo ghi trong Cơ Sở Ngữ Văn Hán Nôm của Lê Trí Viễn do nhà xuất bản Giáo Dục phát hành năm 1984, trang 22; Tiền Hán Thư, một tài liệu viết vào thời Đông Hán). Dưới đây là một trong nhiều bằng chứng đã được tìm thấy tại tỉnh Thanh Hoá (Trần Ngọc Thêm, Tìm về Bản Sắc Văn Hoá Việt Nam, 1997: 96). Đây là loại chữ mà sau khi xâm chiếm nước Việt, người Tàu đã mô phỏng để biến thành chữ viết của họ với tên gọi là “đại triện”.

         Prior to the era of Chinese domination (207 BC – 938 AD) Vietnamese is believed to have had its own writing system whose orthography resembles “crawling worms” (Thánh Tông Di Thảo, after Cơ Sở Ngữ Văn Hán Nôm, Lê Trí Viễn, nxb Giáo Dục, 1984:22; Tiền Hán thư, a historical document written during the East Han dynasty). The following may be evidence among the many discoveries found in Thanh Hoá province. (Trần Ngọc Thêm, Tìm Về Bản Sắc Văn Hoá Việt Nam, 1997: 96). This is the form the Chinese base on to make their own writing system, which they first called ‘tadpole’ then renamed “great seal.”

image.png

   2. – Chữ Nho – Sino-originals

      Khi người Hán xâm lăng nước Việt vào thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, họ áp đặt chữ viết đại triện mà sau đó trở thành chữ Hán hay chữ Nho để làm chữ quốc ngữ dùng trong triều đình, trên các văn bản qua bao nhiêu thế kỷ. Ngày nay có khoảng 70% từ ngữ trong kho tàng từ-vựng tiếng Việt là gốc Hán song song với chữ thuần Việt còn gọi là chữ Nôm. (Lý Lạc Nghị & Jim Waters, In Search of the Origins of Chinese Characters Relevant to Vietnamese, nxb Thế Giới, 1998:ix.) Dưới đây là thí dụ trích từ bìa sau của Sách Tra Chữ Nôm thường dùng, Lạc Nghị, Hội Ngôn Ngữ Học, 1991. Các từ-vựng gốc Hán tồn tại song hành với các từ-ngữ tiếng Việt cho đến ngày nay.

         When the Han invaded Vietnam in the 3rd century BC, they imposed their “great seal” writing system on the public, and Han or chữ Nho became the lingua franca in the royal courts for several centuries in Vietnam. As a result, nearly 70%  of the Vietnamese vocabulary consists of Sino-originals (Lý Lạc Nghị & Jim Waters, In Search of the Origins of Chinese Characters Relevant to Vietnamese, publisher Thế Giới, 1998:ix.) The following example is from the outer back cover of Sách Tra Chữ Nôm Thường Dùng, Lạc Nghị, Hội Ngôn Ngữ Học, 1991, and they co-exist with the indigenous Vietnamese words:

image.png

Chữ Nho là gì? What does it mean by Sino-originals?

      Chữ Nho là cách gọi của chữ Hán chuyển tự. Đây là điểm sáng của tổ tiên người Việt đã biết cách tránh né để không bị đồng hoá mà đi đầu là ngôn ngữ khỏi bị tiêu diệt. Thay vì nói và viết theo người Hán thì vì bị ép phải dùng chữ Hán trong mọi văn kiện, người Việt đã khôn khéo đọc khác đi giọng nói của người Hán và biến nó thành một ngôn ngữ mới tương đương, đồng nghĩa nhưng không đồng âm. Hình thức chuyển tự này mới xảy ra tại Châu Âu vào khoảng 1860 khi nhiều người muốn đọc được chữ Ả-rập, chữ Do-thái, chữ Hy-lạp viết theo mẫu tự La-tinh. Thí dụ: người Hy-lạp viết Ελληνική Δημοκρατία"được đổi thành ‘Hellenic Republic’ theo cách của người nói tiếng Anh hoặc ‘Ellēnikḗ Dēmokratía’ cho người biết tiếng La-tinh. Hoặc chữ Россия thì được đổi thành ‘Rossiya’ tức là ‘Russia’ đối với người Anh, và người Việt nói là Nga.  

     Sino-original is the form we call in place of Han transliterated characters. This form served as a wise way to evade being assimilated by the Han initiated by the disappearance of the language. Under the circumstance that coerced everyone to study and write Han characters, our forefathers dodged the spoken form by creating transliterations that convey the meaning but not the sounds. Transliteration came to being in Europe during the late 19th century to cope with a demand of reading “non-Latin alphabets” such as Greek, Jewish, Arabic.  For example:  Ελληνική Δημοκρατία" in Greek transliterated into English ‘Hellenic Republic’ or in Latin ‘Ellēnikḗ Dēmokratía’. Similarly, Россия in Russian into ‘Rossiya’ in English ‘Russia’ and Nga in Vietnamese.  


3. Chữ Nôm – Demotic System

     Nhu cầu có hệ thống chữ viết riêng theo trào lưu sau khi Việt Nam giành lại độc lập vào đầu thế kỷ thứ 10 trở nên cấp bách, và Hàn Thuyên được cho là người đã sáng tạo ra hệ thống chữ viết gọi là chữ Nôm, vào thế kỷ 13. Hệ thống này có vẻ không hoàn hảo vì sự phức tạp và không thuần nhất nhưng đã hiện hữu cùng với chữ Nho cho đến đầu thế kỷ 20 mới chấm dứt. Mặc dầu chữ Nôm có nhiều khuyết điểm nhưng vẫn có khá nhiều công trình lớn viết bằng chữ Nôm xuất hiện vào thế kỷ 14 đến thế kỷ 18. Dưới đây là thí dụ về hình thức chữ Nôm được trích trong bìa sau của Sách Tra Chữ Nôm Thường Dùng, Lạc Nghị, Hội Ngôn Ngữ Học, 1991.

    The need for its own writing system after Vietnam gained its independence in the early 10th century became crucial, and Hàn Thuyên is assumed to be the inventor of a demotic system called Nôm in the late 13th century. This creative work does not seem to work perfectly because of its complication and inconsistency. This demotic system co-exists with chữ Nho to the turn of the 20th century. Despite all the defects, many great works in Nôm appear during the 14th to the 18th centuries. The following example is from the outer back cover of Sách Tra Chữ Nôm Thường Dùng, Lạc Nghị, Hội Ngôn Ngữ Học, 1991.

image.png

4. Chữ Quốc Ngữ – National Script

Vào tiền bán thế kỷ thứ 16 (1553) nhiều giáo sĩ đến Việt Nam để giảng về Thiên Chúa Giáo cho dân chúng. Họ nhận thấy hai hình thức chữ viết Nho lẫn Nôm đều “khó” đối với công tác rao truyền của họ. Do đó, các vị này đã cố gắng làm sao việc giảng đạo dễ dàng hơn bằng cách áp dụng mẫu tự La-tinh vào tiếng Việt. Những chữ Việt viết bằng mẫu tự La-tinh xuất hiện lần đầu tiên vào khoảng 1632. Đến năm 1909 chữ viết tiếng Việt bằng La-tinh là “chữ quốc ngữ” được chính thức công nhận. Hình thức mới này tỏ ra hữu hiệu và khá tiện lợi. Dưới đây là bảng kê ghi lại các chữ được viết và sửa đổi theo thời gian.

    As early as the mid-16th century (1553?), many Catholic missionaries arrived in Vietnam to evangelize Christianity to the masses. They find the Sino-originals and the Nôm both “difficult” for their task. In an effort to popularize the evangelization, these missionaries try to render Vietnamese in the Latin alphabet. The first appearance of the romanized orthography is around 1632.  In 1909 the romanized Vietnamese becomes official as chữ quốc ngữ (national script). This new system of writing proves effective and convenient. Here are two examples of chữ quốc ngữ in its early stages. 

1632

1651

2000

English equivalents

aim em

anh em

anh em

brother & sisters

bloèi

blời

trời/giời

sky, heaven

bõe

βợ

vợ

wife

cia

cha

cha

father

ciaùm

chàõ

chồng

husband

ciuá

chúa

chúa

God

con blai

con blai

con trai

boy, son

con gái

con gái

con gái

girl, daughter

đét

đét

đất

earth

mẽ

mẹ

mẹ

mother

nguèi

người

người

human being

thãt

thặt

thật

true, real

Table 1  Stages of national script (After Les Missionnaires portugais et les débuts de l’Église catholique au Vietnam, Roland Jacques, Định Hướng Tùng Thư, 2004:339.)