TRUMP NÓI CHIẾN TRANH BAO GIỜ KẾT
THÚC: DẦU $100 – LỐI THOÁT CHO IRAN?
TRUMP NÓI CHIẾN TRANH BAO GIỜ KẾT
THÚC: DẦU $100 – LỐI THOÁT CHO IRAN?
ĐƯỜNG VÀO Z30C.
( Viết tặng tất cả những người vợ đã thăm chồng tại Z30C)
Thăm anh, đường vào Z30C,
Trại tù “cải tạo” ở nơi Rừng Lá,
Hàm Tân, Thuận Hải sao mà lắm gío,
Có phải gío từ Phan Thiết thổi vể?
Đường dài hun hút chẳng thấy phía xa,
Chỉ thấy đất cát trải đầy trước mặt,
Cát vướng chân em bước đi rất chậm,
Mấy cây số đường giữa lúc nắng lên.
Khu tiếp nhận nằm giữa rừng buồn tênh,
Những lán trại cất vội bằng tre nứa,
Cây Phượng Vỹ ngoài cổng xanh tươi lá,
Xanh như tóc người vợ trẻ thăm tù.
Giây phút đợi anh như cả thiên thu,
Chồng của mình bỗng xa như cổ tích,
Năm 1975 anh đi biền biệt,
Anh đi tù, không được biết ngày về.
Trại tù đầu tiên em biết qua thư,
Anh ở Long Giao, cái tên rất lạ,
Em quanh quẩn lớn lên ở thành phố,
Có nhiều nơi em chưa biết bao giờ.
Trại tù thứ hai khi anh chuyển về,
Thành Ông Năm, Hốc Môn. Chiều mưa đó,
Em đến thăm anh đôi giòng lệ đổ,
Tại trời mưa hay em khóc như mưa.
Rồi anh chuyển trại tù lần thứ ba,
Z30 chia thành nhiều khu vực,
Khu A,B,C,D…nào có khác,
Cũng người tù, người thua trận miền Nam.
Em ngồi trong lán nhìn ra xung quanh,
Bốn bề núi rừng, nơi nào anh ở
Dù nơi nào cũng ngút ngàn thương nhớ,
Vượn hú chim kêu mỗi lúc chiều buông.
Chỉ có mười lăm phút để hỏi thăm,
Bao điều muốn nói em chưa kịp nói,
Em tủi thân nhìn anh quay trở lại
Núi rừng kia tiếp tục một thân tù.
Còn em trở về cuộc sống chia lìa,
Chào lán trại những phút giây gặp gỡ,
Chào cây Phượng vẫn hồn nhiên trong gió,
Đâu hiểu lòng kẻ ở lại, người về.
Chào anh, em rời Z30C,
Cũng con đường ấy, trở về ngao ngán,
Cũng gió ấy, nghe tiếng anh vọng đến,
Anh gọi tên em mỗi lúc một xa.
Nguyễn Thị Thanh Dương
THUỞ MỚI BIẾT YÊU
Ở nhà thấy nhớ muốn điên
Đến nơi chẳng thiết huyên thiên chuyện gì
Người Ta hỏi, chẳng thưa chi
Hết cười lại “Dạ!”, lạ kỳ ghê nơi!
Tưởng mình em, hóa ra Người
Tới, lui, chờ đợi tả tơi than trời
Học bài Thử Rể ạ… ơi…
Cưới em Cỏ Nội, bốc hơi Hương Đồng.
*
Thương anh, em chọn làm… chồng!
Tiểu sử (trích trong Wikipedia) :
Nguyễn Phúc Như Mai (阮福如梅) [1] (1905 – 1999) là con gái trưởng của Hoàng đế Hàm Nghi, nhà Nguyễn với vợ là bà Marcelle Laloë.
Tên khai sinh của bà tại Alger là Princess Marcelle Suzanne Henriette Ung Lich Ham Nghi d’An -nam,
sinh ngày 17 thángtháng 8 năm 1905, tại Biệt thư Ngàn thông (Villa des Pins), làng El-Biar, gần Alger- Algerie
là con gái trưởng của nhà vua yêu nước Hàm Nghi và Vương phi Marcelle Aimée Léonie Laloe (người Pháp).
Công chúa là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên đỗ Thạc sĩ Nông lâm, mà lại đỗ thủ khoa, trên cả hàng chục nhà khoa bảng của Pháp. Kết quả này đã làm ngạc nhiên giới báo chí Paris hồi cuối những năm hai mươi của Thế kỷ XX.
Ngoài bằng Thạc sĩ Nông lâm, Công chúa còn có nhiều bằng về hóa sinh học. Nhưng trước khi mọi người biết đến tài năng của bà, người ta đã vô cùng kính phục cái bản lãnh con gái một ông vua Việt Nam yêu nước của bà.
Theo Công chúa Như Lý (em gái), Công chúa Như Mai là một người cởi mở, làm việc có phương pháp khoa học và năng nổ. Công chúa luôn được người trên kẻ dưới quý trọng với tên gọi trìu mến là "Princesse d’Annam" (Bà Công chúa An Nam).
Suốt thời gian theo học Đại học, bà thường phục sức theo kiểu đàn bà Việt Nam. Các nhà báo hỏi vì sao bà lại ăn mặc như thế, bà cho biết:
| “ | Ăn mặc như thế thể theo ý muốn của cha tôi là vua Hàm Nghi. ........ | ” |
Trong lịch sử hoàng tộc nhà Nguyễn, có lẽ chưa có vị công chúa nào sở hữu một cuộc đời đặc biệt như Công chúa Nguyễn Phúc Như Mai (1905–1999), trưởng nữ của vua Hàm Nghi. Sanh ra tại thủ đô Algiers (Algérie) trong cảnh lưu đày của vua cha Hàm Nghi, bà không được hưởng lầu son gác tía tại Huế, nhưng bù lại, bà đã hấp thụ một nền giáo dục Tây phương ưu tú nhất thời bấy giờ.Thủ khoa ưu tú và tấm bằng Kỹ sư Nông nghiệp đầu tiênCái học của Công chúa Như Mai không phải là cái học thêu hoa dệt gấm cho vui. Bà nổi tiếng thông minh, học lực vượt trội so với các bạn đồng trang lứa người Pháp.Vào những năm đầu thế kỷ 20, khi phụ nữ còn chưa được khuyến khích đến trường, bà đã làm nên một kỳ tích: Đỗ Thủ khoa vào trường Viện Nông nghiệp Quốc gia tại Paris (Institut National Agronomique). Năm 1926, bà trở thành người phụ nữ đầu tiên ở Pháp tốt nghiệp Thủ khoa Kỹ sư Nông nghiệp.Tấm bằng này không chỉ là chứng chỉ học thuật, mà là lời khẳng định đanh thép về trí tuệ của con em nước Việt trước thế giới.Cuộc đời "Thanh tao như đóa mai, cứng cỏi như nhành liễu"Dù sống trên đất khách, nhưng Công chúa Như Mai vẫn giữ vẹn nguyên cốt cách của một vị hoàng nữ. Bà không bao giờ lập gia đình, dành trọn cuộc đời cho việc nghiên cứu nông nghiệp và làm từ thiện.Sau khi tốt nghiệp, bà về vùng Dordogne (Pháp) giúp dân địa phương cải thiện kỹ thuật canh tác, trồng trọt. Người dân vùng này kính trọng bà vô cùng, họ không gọi bà bằng tước hiệu cao sang mà gọi thân thương là "Công chúa của những người nông dân".Bà sống một cuộc đời thanh bạch, giản dị tại lâu đài De la Force. Những người từng gặp bà đều kể lại rằng: Dù nói tiếng Pháp lưu loát, am tường văn hóa Tây phương, nhưng ở bà vẫn toát lên vẻ khiêm cung, lễ độ đúng chất một gia đình nề nếp phương Đông.Lòng hiếu thảo và nỗi niềm hướng về tổ quốcSuốt đời, bà là chỗ dựa tinh thần cho vua cha Hàm Nghi trong những năm tháng ông u uất nơi đất khách. Bà là người sắp xếp các cuộc triển lãm tranh cho cha, giữ gìn từng bản thảo, kỷ vật của ông.Bà mất năm 1999, hưởng thọ 94 tuổi. Di nguyện của bà là được yên nghỉ bên cạnh cha mình. Cuộc đời bà là minh chứng cho việc: Dẫu ở trong bất cứ hoàn cảnh nào, từ vương giả đến lưu vong, cái chữ và cái tâm vẫn là thứ trang sức quý giá nhất của người phụ nữ."ĐÓA HOA TRI THỨC" GIỮA KINH ĐÔ ÁNH SÁNGHồi những năm 1920, khi các tiểu thư đài các ở Paris còn mải mê với những buổi dạ tiệc phù hoa, thì Công chúa Như Mai lại chọn cho mình một con đường gai góc hơn nhiều: Khoa học Nông nghiệp.Vượt qua định kiến bằng thực tàiThời đó phụ nữ đi học đại học đã hiếm, mà học cái ngành lội ruộng, nghiên cứu đất đai, cây trồng như bà thì lại càng hiếm hơn. Khi bà bước chân vào Viện Nông nghiệp Quốc gia Pháp, không ít những cặp mắt nghi ngại nhìn về phía người thiếu nữ Á Đông bé nhỏ.Nhưng rồi, bà đã trả lời bằng kết quả học tập "kinh hồn bạt vía".Năm 1926, tin bà đỗ Thủ khoa Kỹ sư Nông nghiệp làm chấn động cả giới trí thức. Tờ báo L'Echo d'Alger và nhiều tờ báo lớn ở Paris lúc bấy giờ đã đăng tin, ca ngợi bà là một hiện tượng của nghị lực và trí tuệ. Họ gọi bà là "Đóa hoa của tri thức Á Đông" vì bà vừa giữ được nét dịu dàng truyền thống, vừa sở hữu tư duy khoa học sắc bén của phương Tây.Cái nết "Pardessus" và sự giản dị thanh caoDù nổi danh như cồn, nhưng bà Như Mai đi học lại cực kỳ giản dị. Bà thường khoác chiếc áo "pa-đờ-xuya" (pardessus) sẫm màu, tay ôm chồng sách dày cộm, lẳng lặng lên giảng đường. Người ta kể rằng, dù biết bà là Công chúa, nhưng nếu không nhìn vào cái cốt cách sang trọng toát ra từ bên trong, người ta cứ ngỡ bà là một nữ sinh viên nghèo hiếu học.Bà không dùng tước hiệu để mưu cầu đặc quyền. Ngược lại, bà dùng kiến thức để giúp đỡ những người nông dân Pháp ở vùng Dordogne sau này. Bà dạy họ cách chọn giống, cách bón phân sao cho hiệu quả. Chính cái sự "dấn thân" này đã khiến giới hàn lâm Pháp phải ngả mũ kính chào.MỘT LỜI KHUYÊN CHO HẬU THẾCó lần, người ta hỏi bà tại sao lại chọn ngành nông nghiệp vất vả như vậy, bà chỉ mỉm cười nói đại ý rằng: Học là để làm việc, để giúp đời, chứ không phải để làm trang sức cho cái danh hiệu Công chúa.CÁI VƯỜN ĐỊA ĐÀNG CỦA "CÔNG CHÚA NÔNG DÂN"Giữa vùng nông thôn nước Pháp thanh bình, Công chúa Như Mai không xây lầu son gác tía, mà bà biến khu đất quanh mình thành một trạm thực nghiệm nông nghiệp thu nhỏ.Bàn tay vàng trên luống đất: Bà không chỉ chỉ tay năm ngón. Với tấm bằng Thủ khoa Kỹ sư Nông nghiệp, bà tự tay xuống vườn, nghiên cứu từng loại đất để trồng những giống cây mới. Bà đặc biệt chú trọng đến việc cải thiện giống ngũ cốc và các loại cây ăn trái để giúp dân địa phương tăng năng suất.Sự giao thoa thảo mộc: Người ta kể rằng trong vườn của bà, bên cạnh những giống hồng Pháp kiêu sa hay những hàng nho trĩu quả của vùng Dordogne, bà luôn cố gắng tìm cách di thực hoặc trồng những loài cây gợi nhớ về quê hương. Cái vườn đó vừa có cái khoa học của phương Tây, vừa có cái hồn cốt của phương Đông."Bác sĩ" của cây trồng: Dân làng hễ thấy cây bị sâu bệnh hay lúa không trổ bông là lại tìm đến "Mademoiselle Như Mai". Bà tiếp đón họ bằng sự khiêm cung, chân thành. Bà dùng kiến thức uyên thâm để trị bệnh cho cây, hướng dẫn họ cách bón phân sao cho hợp lẽ tự nhiên."CHẲNG LỤY DANH PHẦN" GIỮA MÀU XANH CÂY CỎCông chúa Như Mai tìm thấy sự bình yên và giá trị cuộc đời qua những mầm xanh nảy nở từ lòng đất.Bà sống một mình trong lâu đài cổ, nhưng không hề cô độc. Bầu bạn với bà là sách vở, là cây cỏ và là lòng biết ơn của những người nông dân nghèo. Cái "gót sen dẫm đất" của bà không làm vấy bẩn phẩm giá, mà trái lại, nó làm cho danh tiếng của một vị Hoàng nữ Việt Nam càng thêm tỏa hương thơm ngát giữa lòng nước Pháp.VỊNH BẬC NỮ LƯU TÀI SẮCGió phương ngoại lồng mây viễn xứ,Chốn cung đình rạng chữ thi thư.Phấn son chẳng lụy thân dư,Gót sen dẫm đất, tâm từ nở hoa.Kìa bướm hoa, Maria tường tận,Nọ đồng xanh, Như Mai dấn thân.Chí cao chẳng lụy danh phần,Gót sen dẫm đất, lòng trần thanh cao.Lầu nghiên bút, miệt mài kinh sử,Dưới tàn mai, thong thả thi chương.Thanh cao cốt cách phi thường,Ngàn năm còn đọng, sắc hương vẹn đầy.NDiep Tran sưu tầm( lượm trên FB.TN)
THANG 4 LAI VE , NUOC MAT NHA TAN
|
XIN LỖI ANH LONG
Hai
anh em tôi ngồi trong quán nước bến xe Bà Hạt, lát sau có một thanh niên khoảng
gần 30 tuổi tiến đến, chúng tôi nhận ra anh Long vì tuần trước, anh và chủ tàu
vượt biên là anh Minh có đến nhà tôi để bàn bạc và thỏa thuận giá cả chuyến đi.
Ba
người bắt tay nhau, anh Long tiếp:
- Cô và
anh ngồi đây, tôi còn đi đón thêm người.
Lát
sau, anh dẫn đến một phụ nữ cùng cậu thiếu niên chừng 14 tuổi và bé trai cỡ 8
tuổi, anh giới thiệu:
- Đây
là Loan, còn đây là chị Cải và hai con trai của chị ấy: Sơn và Cu Tí. Tôi sẽ là
người dẫn đường, là trưởng nhóm, từ đây cho đến khi qua Cambodia, trước khi lên
tàu ra khơi mọi người phải đi theo tôi, nghe lời hướng dẫn của tôi!
Vừa
lúc đến giờ lên xe đò, anh Long dặn:
- Chút
nữa trên xe sẽ có 3 nhóm khác, tổng cộng là 4 nhóm, tính luôn các trưởng nhóm
thì khoảng hơn 20 người, tất cả đều “quen”, nên cứ việc nói chuyện thoải mái,
nhưng luôn nhớ nghe lời trưởng nhóm khi có bất cứ việc gì cần thiết.
Mọi
người bắt đầu lên xe, tôi quay lại vẫy tay chào anh tôi, rồi đi xuống phía cuối
xe, nơi có 3 cô gái đang ngồi hàng ghế chót, còn dư một chỗ, tôi liền ngồi vào
đấy. Tôi chẳng biết anh Long ngồi chỗ nào, xe lăn bánh, tiếng nói chuyện bắt
đầu rì rào. Tám giờ tối, gió mát mẻ, những phố xá lùi lại phía sau, xe hướng về
đồng ruộng vắng vẻ, trực chỉ Long An. Tôi muốn nhắm mắt nghỉ ngơi vì cảm xúc
nhớ nhà bắt đầu làm lòng tôi thổn thức, nhưng ba cô gái bắt chuyện hỏi han, mới
biết cả bốn đứa chỉ hơn kém nhau 1 tuổi, từng học cùng mái trường, chỉ là khác
khóa, khác lớp. Cơn buồn ngủ tan biến, chúng tôi nói chuyện về trường lớp suốt
đoạn đường dài cho đến gần nửa đêm khi nhiều người trên xe đang ngon giấc, anh
Long bỗng xuất hiện từ phía sau ghế, cúi xuống nói với tôi:
- Chút
nữa xe đến biên giới, cửa khẩu Mộc Hóa, chúng ta sẽ nghỉ qua đêm tại một quán
ăn ven đường.
Tôi
thắc mắc:
- Sao
mình không đi xuyên đêm luôn hả anh?
- Giờ
này trạm cửa khẩu đóng cửa, ngày hôm sau họ mới làm việc lại.
Bốn
đứa dừng nói chuyện, nhìn qua khung cửa xe nao nức chờ đợi phút giây nhìn thấy
biên giới dù bên ngoài tối đen.
Xe
dừng lại, mọi người xuống xe, màn đêm tĩnh mịch, quán ăn duy nhất giữa đồng có
chút ánh đèn le lói, bên trong các bàn ghế xếp gọn gàng. Một người ra lệnh:
- Ai
theo nhóm nấy, lên bàn ngủ, sẽ có mùng mền đem ra. Các nhóm trưởng nằm ngoài
hiên hoặc trong xe.
Cô
bạn trong ba cô bạn mới quen đề nghị:
- Nhóm
tụi mình ngoài 3 đứa còn có một cặp vợ chồng, hay là tụi mình hỏi ban tổ chức
đổi Loan qua bên đây, cặp kia qua bên đó?
Cô
bạn khác gạt ngay:
- Thôi
khỏi làm phiền ai. Khác nhóm nhưng vẫn gặp nhau, nay mai lên tàu qua Thái chung
cả tàu, lo gì!
Tôi
đồng ý rồi bước đến chỗ mẹ con chị Cải đang nằm, mùng mền hẳn hoi, hầu như ai
cũng mệt nên chỉ hơn chục phút sau cả quán im lìm, chỉ nghe tiếng ngáy đều
trong khuya vắng .
Hơn
6 giờ sáng đã nghe lục đục trong quán, tôi mở mắt, thấy anh Long đang ngồi uống
cafe ở chiếc bàn trong góc quán, một vài chiếc mùng cuối cùng cũng đang dọn
dẹp, trả lại không gian cũ cho quán. Anh Long nhắc tôi sau khi đánh răng rửa
mặt ra ăn sáng. Ai ăn xong sớm thì đi bộ ra ngoài quán, tha hồ ngắm cảnh biên
giới, vì đến giữa trưa xe mới chạy qua cửa khẩu, đó là giờ nhóm lính canh gác
chịu ăn hối lộ.
Trời
đứng bóng, xe chuẩn bị vượt qua cửa khẩu, để tránh sự nghi ngờ và giảm bớt tiền
hối lộ, chỉ có người lớn tuổi và trẻ em được ngồi trên xe, còn lại chúng tôi
phải đi tắt dưới ruộng lúa khoảng một cây số. Đường ruộng khô cứng, gập gềnh,
tôi cố đi nhanh nhưng vẫn bị bỏ lại phía sau. Anh Long thỉnh thoảng dừng lại,
chờ tôi, mỉm cười:
- Cô
đúng là tiểu thơ đi vượt biên!
Tôi
chống chế:
- Tại
đường ruộng em đi chưa quen.
- Cô
mới vượt biên lần đầu sao?
- Dạ
không, nhưng lần trước đi đường biển miền Tây, khi đang còn nằm tập kết chờ
“taxi” đã bị giải tán, có lội ruộng bao giờ đâu!
Rồi
cũng ra tới đường lộ, leo lên xe đã chờ sẵn, tiếp tục chuyến hành trình. Trời
trưa nắng cháy, cảnh vật hai bên đường nghèo nàn, lác đác có vài căn nhà sàn và
bóng người. Càng về gần thủ đô phố xá đẹp hơn, nhà cửa san sát, người qua lại
đông hơn. Đến chiều, xe tiến vào Phnom Pênh, qua cây cầu đá dài, có người nói:
- Đây
là cây cầu nổi tiếng của Phnom Pênh, cầu mang tên Sài Gòn.
Xe
dừng dưới chân cầu, trước một quán ăn bề thế, tấp nập người ra vào. Một số
người chạy đến vây quanh xe, hỏi chúng tôi bằng tiếng Việt “Đổi tiền Riel
không bà con ơi!?”. Tôi và ba cô bạn không có tiền để đổi, (có dấu
trong người vài chiếc nhẫn vàng phòng khi hữu sự), vì khi còn ở Việt
Nam, chúng tôi đã nộp một số tiền cho ban tổ chức, là tiền mà các người dẫn
đường sẽ lo chuyện ăn uống, chỗ ở, xe cộ trong thời gian chờ ngày xuống tàu ra
khơi. Tuy nhiên, có một số người vẫn có tiền, họ đổi tiền riel để xài riêng.
(Sau này, trên con đường bị bắt giam hai lần tại Cambodia, và tại bãi biển
Thailand, tôi mới thấy có tiền rất hữu ích, vì mỗi lần gặp “khó khăn” cần chi
tiền vẫn tốt hơn là phải đưa ra cái nhẫn vàng, họ có “thối lại” tiền đâu!).
Xong
vụ đổi tiền, cả đoàn kéo vào quán ăn cơm, chủ quán người Việt, các món ăn rất
ngon, vì Phnom Pênh nằm giữa dòng chảy sông Mekong và Tonle Sap nên cá tôm tươi
rói, ê hề . Mẹ con chị Cải gọi cá kho tộ, canh chua. Bàn bên cạnh mấy cô bạn
cũng gọi cùng món, tôi đang phân vân thì anh Long gợi ý:
- Nếu
cô thích ăn tôm thì nên gọi cơm tôm càng kho tàu, món ngon nhất quán đấy.
Tôi
nghe theo lời “thổ địa”, nhìn dĩa cơm lấp lánh màu gạch tôm, với bắp cải đậu
que luộc và chén nước mắm ớt, tôi ăn ngon lành, đúng là không có chỗ nào chê .
Cơm
nước xong, từng nhóm đón xe lam về nhà trọ (xe đò đưa chúng tôi đến Phnom Pênh
đã xong nhiệm vụ). Tôi say sưa ngắm cảnh phố phường mà quên mất thân phận vượt
biên. Nhà trọ là căn nhà lầu đúc hai tầng, rộng rãi, bên trong chẳng có đồ đạc
gì ngoài cái sàn nhà lót gạch bông mát rượi. (Chủ nhà xưa kia khá giả, nay thời
thế thay đổi, như Sài Gòn sau 1975, làm nhà trọ để kiếm sống). Mỗi nhóm được
một cái mùng to, không mền gối, cứ đem hành lý vào mùng, muốn ngủ
kiểu nào thì ngủ. Ngoài chúng tôi, còn nhiều khách khác, là dân đi buôn lậu
hàng hóa Thái-Cam mang về Việt Nam bán lại, họ nói chuyện bằng tiếng Việt và
tiếng Cam, ồn ào cả cái nhà trọ. Chúng tôi 4 nhóm được giăng mùng sát nhau, nên
ngồi trong mùng nói chuyện, ai mệt thì ngủ, ai thức cứ thức vì các âm thanh hỗn
độn nơi đây không bao giờ ngưng.
Sáng
hôm sau thức giấc, chỉ còn một mùng của nhóm tôi. Anh Long giải thích:
- Các
con buôn đã thức dậy từ sớm, và các nhóm của chúng ta cũng đã ra khỏi đây, tôi
thấy cô và mẹ con chị Cải ngủ ngon quá, không nỡ đánh thức.
Chị
Cải áy náy:
- Mấy
mẹ con tui đêm qua ham vui, đến 2 giờ sáng mới chợp mắt, tui xin lỗi nếu làm
ảnh hưởng đến đoàn.
- Đâu
có gì gấp! Chúng ta sẽ phải đổi nhà trọ mỗi ngày để tránh bị chú ý, chờ ngày đi
cảng Kampong Som xuống tàu, còn bây giờ là đi “tham quan” chợ Olympic và ăn
trưa.
Năm
người đi bộ, từ nhà trọ khoảng 6-7 blocks đường là đến chợ. Ngôi chợ kiểu như
chợ Bến Thành, các gian hàng san sát nhau đủ loại, vì đây là chợ đầu mối lớn
nhất Cambodia lúc bấy giờ. Vào chợ, tôi ngạc nhiên vì nhiều tiểu thương nói
sành cả hai tiếng Việt-Cam. Chúng tôi thong thả ngắm từng gian hàng, lúc này
mới biết chị Cải là dân Việt gốc Hoa, từng sống ở Cam một thời gian, nên chị
nói sành sõi cả ba thứ tiếng. Chị mua một vài món đồ cho hai thằng con, rồi
quay qua nói với tôi:
- Mua
ít đồ phòng hờ cần xài khi qua trại tỵ nạn.
Anh
Long hỏi tôi:
- Cô
Loan thích mua gì không, tôi sẽ mua cho?
- Dạ
thôi, em có mang theo vài món đồ khô dùng trên tàu khi cần thiết.
- Ý tôi
là hàng lưu niệm kìa!
- Đi
vượt biên chớ có phải du lịch mà mua đồ lưu niệm?
- Thì
mua để sau này cô đi định cư mang theo, gọi là kỷ niệm xứ Cam.
- Xa
vời quá, dù sao cũng cám ơn anh.
Đến
cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất
đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi
đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom
Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời.
Trên
đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát,
có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài
Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông . Nhà trọ mới, nhỏ hơn nhà
trọ hôm qua, được dọn sạch tầng dưới cho hơn chục người khách, tầng trên có hai
mẹ con chủ nhà sinh sống và nhận luôn việc nấu cơm cho khách, tôi vui sướng gặp
lại ba cô bạn. Chúng tôi xúm vào kể chuyện đi chơi Phnom Penh, và tán dóc với
chủ nhà qua lời thông dịch của chị Cải. (anh Long bỏ đi đâu đó, sau này mới
biết, họ luôn chạy đôn chạy đáo như con thoi, để liên lạc với ban tổ chức, chờ
lệnh tiếp theo).
Gần
đến giờ cơm chiều, tôi bỗng bị ói mửa, lên cơn sốt nhẹ, có lẽ vì tôi uống quá
nhiều nước thốt nốt ngoài chợ, và lang thang cả buổi ngoài trời nắng. Chị Cải
đưa tôi thuốc hạ sốt, rồi tôi chợp mắt ngủ. Tỉnh dậy khi bên ngoài đã chạng
vạng tối, tôi tỉnh táo hơn, anh Long hỏi:
- Cô ăn
cháo nhé, tôi đã nhờ chị chủ nhà nấu, những người khác đã ăn cơm xong rồi.
Tôi
lắc đầu:
- Em
không muốn ăn cháo, em chỉ thèm một tô hủ tíu mì.
- Giờ
này lấy đâu ra hủ tíu mì cho cô?
- Hồi
trưa trên đường về đây, em thấy quán mì ngay góc đường!
- Cô
tinh mắt nhỉ, không lo cảnh giác lính Cam mà chỉ thấy hàng hủ tíu mì. Nhưng nếu
tôi dẫn cô ra đó, sắp đến giờ giới nghiêm, loạng quạng gặp tên lính Cam hỏi
giấy tờ, cô lại không biết tiếng Cam, là nó mời về đồn ngay đấy.
- Thì
anh đi mua về cho em.
Chị
Cải và mấy cô bạn cũng góp lời, rằng một tô hủ tíu mì sẽ giúp tôi mau lại sức
hơn là tô cháo trắng ăn với cá khô. Anh đành khoác thêm chiếc áo sơ mi rồi đi
ra ngoài, lát sau xách về tô mì nóng hổi. Ba cô bạn cười nắc nẻ:
- Anh
Long ơi, nhìn anh rảo bước vội vã trong trời mờ tối, áo bay phất phới, xách cái
cà-mèn, chẳng khác gì đang chăm vợ đẻ.
Anh
tủm tỉm cười:
- Ối
dào, chăm vợ đẻ cũng chẳng vất vả bằng chăm tiểu thơ vượt biên, cho đúng phương
châm “vui lòng khách đến vừa lòng khách đi”.
Vài
ngày tiếp theo, đổi vài nhà trọ, cho đến một ngày tại nhà trọ ngoài nhóm tôi
ra, không có nhóm quen, nhưng có 5-6 người Việt khác, anh Long bảo họ cũng sẽ
xuống tàu vượt biên với chúng tôi. Buổi chiều anh Long mang cơm về rồi thông
báo, sáng sớm mai sẽ đi thành phố cảng KamPong Som. Ăn xong, mọi
người ngồi uống trà ăn bánh, vì còn sớm, tôi và anh Long mang trà ra
ngoài hiên nhà nói chuyện. Biết tôi là cô giáo ở Việt Nam, anh trầm ngâm:
- Tôi
cũng suýt nữa làm thầy giáo đấy.
- Thế
à! anh dạy môn gì?
- Tôi
đậu Cao Đẳng Sư Phạm môn Toán, Lý, nhưng chiến tranh Tây Nam bùng nổ, tôi phải
đi “nghĩa vụ quân sự” qua Cambodia.
- Nhưng
ba năm sau anh sẽ được giải ngũ và về học lại chứ?
- Trên
lý thuyết là như thế, nhưng vào cuộc chiến rồi bị kẹt thêm mấy năm nữa, đến khi
thế giới yêu cầu Việt Nam rút quân ra khỏi Cam. Dầu sao, cũng có chút an ủi cho
tôi, khi ở chiến trường, nhiều lần tôi đã có dịp dạy Toán cho các đồng đội
người Việt và người Cam.
- Rồi
sao anh không về nhà?
- Anh
Minh chủ tàu kêu tôi ở lại giúp anh tổ chức đường dây vượt biên. Giai đoạn này
Cam còn trong giai đoạn “chuyển tiếp” nên tham nhũng hối lộ tràn lan, các
chuyến đi thành công dễ dàng. Có lúc tôi tính nghỉ nhưng thâm tình với anh Minh
khiến tôi dùng dằng mãi đến giờ. Tuy nhiên, công việc này kiếm khá nhiều tiền,
tôi đã xây nhà cho bố mẹ, cho tiền các em làm vốn đầy đủ, hơn hẳn làm thầy giáo
nghèo, cô nhỉ?
- Vậy
sao anh không đi vượt biên ra nước ngoài, sau này bảo lãnh gia đình?
- Không!
Tôi là Bắc Kỳ mới, không phải Bắc Kỳ di cư như cô, lại là bộ đội, khi qua trại
sẽ bị phân biệt, khó được các phái đoàn chấp nhận . Đã có nhiều trường hợp đồng
đội của tôi, vượt thoát qua Thái, đa số vẫn ăn dầm nằm dề ở trại, có người nản
chí quay trở về Cam, có người cũng đã tự tử ngay ở trại, sau này cô qua trại sẽ
thấy những gì tôi nói là sự thật.
Tờ
mờ sáng, chúng tôi ra bến xe, nơi đây các xe chở hàng chạy bằng than cũ kỹ, sẽ
dừng lại đón thêm khách. Mỗi khi có xe trờ tới, đám đông xô lấn leo lên, cuối
cùng anh Long cũng đưa tôi và mẹ con chị Cải vào một xe bé xíu, bên trong chất
đầy bao bố hàng hóa, anh dặn:
- Chút
nữa khi vào cửa ngõ thành phố Cảng, sẽ có một trạm kiểm soát, cô cứ bình tĩnh
như những gì tôi dặn tối qua.
Quả
thật, xe chạy hơn một tiếng thì bị chặn lại, hai người lính Cam cầm súng AK lục
soát xe, chất vấn tài xế, rồi hỏi tôi mấy câu, đại khái là đi đâu, đến đó làm
gì, đến câu thứ ba tôi không biết trả lời, (vì học được đúng 2 câu), anh lính
chĩa súng vào tôi ra lệnh bằng tiếng Cam, ra hiệu xuống xe. Chị Cải trả lời
trơn tru nên được thoát, anh Long bước xuống theo tôi, nhìn vào trạm gác ngay
lề đường, thấy ba cô bạn, đôi vợ chồng và hai chú lớn tuổi cũng đứng đó. Anh
nói nhỏ bên tai tôi:
- Vậy
là yên chí, tám người cứ vào đấy “nghỉ ngơi” vài ngày, ban tổ chức sẽ chuộc ra.
Đúng
như anh nói, chúng tôi bị giam trong căn phòng phía sau trạm gác, có cơm nước
do ban tổ chức đưa đến. Chiều ngày hôm sau, có tin nhắn buổi tối sẽ có 4 chiếc
xe ôm đến đón đưa ra biển. Trời vùng biển tháng 12 tối thui, bốn chiếc xe phóng
đi trong màn đêm, tôi nghe tiếng gió phần phật bên tai. Bỗng có tiếng xe đuổi
theo phía sau, tiếng súng bắn chỉ thiên và tiếng chó sủa, bốn chiếc xe ôm tạt
vào lề, là khu vườn lau sậy mênh mông, họ quát tháo bằng tiếng Cam, hối thúc
chúng tôi xuống xe, rồi họ chạy biến đi trong đêm.
Chúng
tôi, theo bản năng sinh tồn, chạy như bay vào vườn lau sậy, chạy càng nhanh
càng xa, bất chấp phía trước mịt mùng, tránh xa tiếng chó sủa bắt đầu yếu dần
rồi im hẳn phía sau. Mệt lả người, chúng tôi dừng lại, gọi tên nhau khe khẽ,
tìm được 5 người, là tôi và hai cô bạn với hai vợ chồng, còn hai chú kia và một
cô bạn chẳng thấy đâu. Anh thanh niên bảo, tạm thời là an toàn, nhưng đêm tối
thế này, chúng ta nên ngồi xuống, chờ trời sáng tính tiếp, nếu buồn ngủ thì
thay phiên nhau ngủ. Nhưng chẳng ai ngủ được, năm người ôm túi hành lý, dựa vào
nhau, mắt mở thao láo. Chừng nửa tiếng sau, có ánh đèn pin và tiếng chân người
lạo xạo, có hai người nói chuyện bằng tiếng Cam, rồi có tiếng gọi:
- Loan
ơi! Loan ơi!
Tôi
mừng rỡ nhận ra giọng anh Long, liền la lên:
- Tụi
em ở đây anh ơi!
Anh
Long cầm đèn pin và một anh lính Cam đeo súng, tìm được chúng tôi, anh thở
phào:
- Vậy
là đủ người rồi, đi thôi.
Anh
Long đi bên cạnh tôi, thấy tôi vừa đi vừa run rẩy, anh lấy trong túi quần ra
một chiếc khăn rằn, khoác lên người tôi:
- Cô
ráng giữ ấm, kẻo lên cơn sốt như hôm ở nhà trọ thì mệt lắm, ở đây không có ai
đi mua hủ tíu mì cho cô đâu!
Ra
tới đường cái, bên kia đường là một trại lính khá kiên cố, có vọng gác và hàng
rào kẽm gai xung quanh. Bước vào cổng trại, trong khi chờ anh lính đi gặp cấp
trên, anh Long nói với chúng tôi trước khi chia tay:
- Đây
là nhà giam cuối cùng, sau khi dàn xếp bên ngoài xong xuôi, là lên tàu ra biển.
Nhà
giam, là một phòng khá rộng, có vẻ là hội trường của trại, chúng tôi vui vẻ
đoàn tụ toàn bộ những người trên chuyến xe đò hôm nào, và thêm một số người
khác, tổng cộng là 41 người, sẽ cùng chung chuyến tàu ra khơi.
Hơn
một tuần ở nhà giam sướng như tiên. Ngày hai buổi họ mở cửa cho ra ngoài, vệ
sinh tắm rửa, vận động chân tay. Cơm phục vụ đầy đủ do nhóm tổ chức cho người
mang đến. Vui nhất là buổi tối, rảnh rang, có chàng hài hước kể chuyện cười vỡ
bụng, có chú kia thích kể truyện Tàu, chị Cải kể chuyện từng sống ở đảo Baklon
của Cam, nhóm trẻ chúng tôi xúm lại ca hát. Đêm mệt thì mỗi người gối đầu trên
hành lý, chẳng có mùng mền vẫn ngủ ngon lành.
Chiều
hôm đó anh Long xuất hiện với người đưa cơm, anh vào trong ăn với chúng tôi và
nói: “Tối nay ra khơi!”. Ai nấy lo dọn dẹp hành lý, không cười đùa nữa vì biết
giây phút quan trọng sắp đến. Từng nhóm ngồi rải rác trong phòng, im lặng, ánh
đèn ngoài sân hắt vào phòng mờ ảo. Một cô lớn tuổi đứng lên:
- Xin
mọi người vẫn ngồi yên vị, những người Công Giáo sẽ cùng đọc kinh. Còn ai có
đạo gì có thể cầu nguyện riêng.
Rồi
cô xướng kinh, anh Long ngồi kế bên tôi cũng đọc theo, từng lời kinh rõ mồn
một. Hết 50 kinh, tôi hỏi:
- Anh
có đạo à?
- Ừ,
tôi gốc Bùi Chu mà! Sau 1975, gia đình tôi dọn vào khu Kinh 9, Cần Thơ ở đến
nay.
Tôi
chuyển đề tài, hồi hộp:
- Em lo
quá anh Long ơi.
- Cô
yên tâm, phần khó khăn trong đất Cam đã xong, chút nữa lên tàu ra biển, nếu
thời tiết thuận hòa, nếu máy tàu êm xuôi, thì giờ này ngày mai cô đang ở bờ
biển Thailand.
- Nghe
mấy cái “nếu” của anh cũng đủ làm em run rồi. Từ trước đến nay, có chuyến nào
đi bị thất bại, tàu chìm, hoặc gặp hải tặc không?
- Chắc
chắn không có hải tặc vì tàu chạy ven biển. Các tàu ra khơi đều đến nơi bình
an. Chỉ có hai lần khi ở Phnom Penh, nghe tin đường dây nhận hối lộ có mâu
thuẫn nội bộ, tụi anh phải đưa khách trở về Việt Nam, vậy thôi!
Tôi
yên tâm hơn, rồi nhìn anh, chân thành:
- Anh
Long ơi, em muốn nói lời cám ơn anh, suốt thời gian qua đã chăm lo cho mọi
người thật nhiệt tình, chu đáo, riêng em còn được anh “phục vụ” hủ tíu mì ...
Chưa
nghe hết câu, anh buột miệng:
- Qua
đếnThái, em ...à không... cô viết thư cho tôi nhé?
Tôi
hỏi lại:
- Anh
muốn em viết thư?
Anh
bối rối, xua tay:
- Nói
thế thôi, vì lời cám ơn của cô làm tôi nhớ những chuyến đưa người đi trước đây,
có cô cũng xinh xinh như cô, nói cám ơn, nói qua Thái sẽ viết thư cho tôi,
nhưng rồi chẳng có lá thư nào. Tôi bị mấy lần cho leo cây như thế, nên rất sợ
mấy cô xinh xinh hứa nhưng không làm.
- Anh
nói em cũng ... “xinh xinh” ư? Vậy thì anh nghe đây, lời hứa danh dự của em, là
khi qua trại, việc đầu tiên em sẽ viết thư cho gia đình và cho anh, để anh thấy
không phải cô “xinh xinh” nào cũng hứa lèo, nhưng em gửi thư về đâu ?
- Cô cứ
gửi cho gia đình cô chuyển giùm, vì tôi và anh Minh phải đến nhà cô thâu 3 cây
vàng.
Tôi
lấy chiếc khăn rằn trong giỏ hành lý:
- Em
gửi lại anh chiếc khăn, và một lần nữa, cám ơn anh thật nhiều, vì tất cả.
Anh
cầm chiếc khăn, quàng lên vai tôi:
- Cô
hãy giữ chiếc khăn này, tôi đã mua để tặng cô, làm kỷ niệm xứ Chùa Tháp.
Lúc
đó, một chiếc xe nhà binh (xe cam nhông) tiến vào cổng, dừng trước phòng giam,
anh Long bật dậy, kêu gọi mọi người mau chóng ra ngoài. Anh và vài thanh niên
leo lên xe, lần lượt giúp từng người lên, tôi đang chờ tới lượt thì anh lại gọi
tên tôi:
- Loan!
Loan! Ra đây, ra đây!
Rồi
đi về phía anh, được anh kéo lên thùng xe, tất cả nằm đè lên nhau, xe chạy vun
vút, có khi tôi nghe cả tiếng lá cây cọ quẹt vào thành xe những âm thanh chát
chúa. Tới bờ biển, xe dừng lại, các người dẫn đường khác chạy ra từ một bụi
cây, hướng dẫn chúng tôi chạy xuống chiếc thuyền đang đậu sẵn. Cả 41 người lên
thuyền, nặng chịch, mạn thuyền cách mặt nước chưa đầy gang tay, anh Long kêu
những thanh niên biết bơi cùng xuống dưới nước, phụ với nhóm dẫn đường, bám
theo mạn thuyền, đưa thuyền đến với chiếc tàu ngoài giữa biển. Đến nơi, anh
Minh chủ tàu đứng trên boong rọi đèn pin, hễ ai bước lên là đẩy ngay xuống hầm
tàu. Vì anh Long vẫn đang ở dưới biển để đỡ con thuyền khỏi bị lật khi đám
người đổ dồn về phía tàu lớn, nên tôi không có cơ hội bắt tay anh tạm biệt. Cái
bắt tay tôi đã dự định, cái bắt tay duy nhất, lần đầu cũng có thể là lần cuối,
đã không thực hiện được.
...................................................................
Đến
trại tỵ nạn Panatnikhom, tôi viết ngay lá thư dài, kể cho gia đình chi tiết
chuyến đi, ở đoạn cuối tôi viết cho chị tôi: “Chị Thanh, nhờ chị chuyển lá
thư kèm theo cho anh Long khi họ quay lại lấy vàng, nhé!”. Thư cho anh
Long chỉ một mặt giấy, viết lại những lời cảm ơn chân thành tôi đã nói với anh
đêm cuối, vì mục đích chính chỉ là thực hiện một lời hứa danh dự, để anh bớt
thành kiến với mấy cô “xinh xinh” . Viết không đầy một trang, dư chỗ tôi bèn
viết thêm địa chỉ của tôi ở trại và nhắn: “Anh Long, nếu có thời gian
rảnh thì viết thư cho em, còn nếu bận thì không sao cả! Chúc anh nhiều sức khỏe
và may mắn trong cuộc sống”.
Rồi
chị tôi thay mặt gia đình viết thư hồi âm, kể cho tôi nghe chuyện gia đình,
hàng xóm, và tái bút gọn gàng: “Đã chuyển thư cho Long, em yên tâm”. Đọc
thư xong, lòng tôi nhẹ nhàng phơi phới, đã trả nợ xong lời hứa.
Cuộc
sống ở trại có đủ buồn vui, qua vài lần chuyển trại, tôi đánh mất chiếc khăn
rằn, kỷ niệm của anh Long và xứ Cam. Đôi khi bốn đứa con gái chúng tôi nhớ về
chuyến đi, nhắc đến anh Long, tôi lại thầm nghĩ, chắc anh bận rộn nên không
viết thư cho tôi, mà suy cho cùng, có gì để mà viết, nhưng ít ra anh cũng đã
hiểu rằng không phải cô “xinh xinh” nào cũng thất hứa.
Sau
bốn năm ở trại tỵ nạn, tôi đi định cư Canada. Rồi sau đó hàng năm bay qua Mỹ
thăm gia đình tôi cũng đã định cư ở Mỹ. Mới đây, khi nhắc về chuyến vượt biên
dừng chân ở Cambodia, tôi nói về anh Long, người dẫn đường dễ thương tận tình,
rồi nói với chị tôi:
- Trong
lá thư đầu tiên gửi về nhà, em có nhờ chị chuyển thư cho anh Long, rồi chẳng
thấy anh ấy viết cho em dù một lá thư.
Chị
tôi... thú tội:
- Lá
thư ấy đã không bao giờ gửi.
Thì
ra, chị đã đọc thư, tự kiểm duyệt và tự quyết định. Chị lo xa, sợ tôi và anh
Long có tình ý gì sẽ... khổ cả hai, còn nếu không (hoặc chưa) có tình ý gì, thì
cũng nên... phòng cháy hơn chữa cháy, xé bỏ lá thư là thượng sách, “an toàn
trên xa lộ”.
Tôi
giải thích cặn kẽ cho chị nguyên do tôi viết lá thư đó, chị đã hiểu ra, và thấy
tiếc nuối ân hận vô cùng. Chị nhớ lúc Long và anh Minh chủ tàu đến nhà tôi lấy
vàng, Long có chần chừ hỏi thăm tôi vài câu, có lẽ có ý mong
chờ, nhưng chẳng có lá thư nào cho anh.
Anh
Long ơi, nếu anh đọc được bài viết này, thì xin anh nhận nơi đây lời xin lỗi
của em, vì đã đánh mất chiếc khăn rằn của anh tặng, và xin lỗi vì ngần ấy năm,
em đã để anh thất vọng, tiếp nối vào danh sách các cô “xinh xinh” ... thất hứa!
Chị
của em cũng gửi lời xin lỗi anh.
Và
khi anh đọc đến dòng cuối này, anh hãy xem như đã nhận lá thư năm ấy của em,
được không?
Edmonton,
Tháng4/2026
KIM
LOAN