Monday, February 16, 2026
XUÂN VỀ (THƠ- NGƯ SĨ)
LẠI NHÕNG-NHẼO & DUYÊN (THƠ- Á NGHI)
Trang thơ ngũ ngôn:
Sunday, February 15, 2026
GIÓ XUÂN (THƠ- TẾ LUÂN)
GIÓ XUÂN
TẾ LUÂN
Gió xuân thổi mát hồn anh
Buổi chiều vàng nắng trên cành hoa mai
Cánh hoa xuân tóc em cài
Đôi môi đỏ mộng nối dài đường mơ.
Nỗi buồn len lén đợi chờ
Hương xuân ngày Tết bài thơ gợi tình
Nhớ khi xưa chuyện chúng mình
Yêu nhau chẳng đặng bóng hình xanh xao.
Hồn xuân em để nơi nào
Mà sao nỗi nhớ tràn vào chia nhau
Hơi sương đọng ánh trăng thâu
Ai vào múc cạn mạch sầu đổ đi.
Thềm hoa nhìn bóng chim di
Buồn thương em lại thầm thì nhớ ai
Búp tay cầm vạt áo dài
Miệng cười e lệ, tình ngoài ý trong.
Thời con gái tuổi má hồng
Áo dài em mặc lụa hồng đào phai
Bước vào cõi mộng thiên thai
Như tiên lạc lối nhớ hoài thi nhân.
Nào ngờ gặp ngọn gió xuân
Hoa thơm cỏ lạ gót chân bụi đường
Dù cho trời đất vô thường
Tình xuân xin gửi đoạn trường phù vân.
Tế Luân
XUÂN VIỄN XỨ (THƠ- TÂM MINH NGÔ TẰNG GIAO)
XUÂN VIỄN XỨ
TÂM MINH NGÔ TẰNG GIAO
Thêm một mùa Xuân chốn viễn phương
Nhớ về quê cũ trắng canh trường!
Tháp xưa chuông sớm luôn vang tiếng
Chùa cũ nhang khuya mãi ngát hương.
Thi hứng gợi tình ghi mấy khúc
Văn nguồn khơi ý thảo vài chương
Thả hồn theo tuyết rơi song vắng
Viễn xứ lòng người rộn luyến thương.
Tâm Minh Ngô Tằng Giao
XUÂN ĐỢI NGƯỜI THƯƠNG (THƠ- ĐỖ ANH TUYẾN)
XUÂN ĐỢI NGƯỜI THƯƠNG
.
Anh đứng tựa gốc đào phai trước ngõ
Cánh hoa run khẽ động giấc xuân nồng
Hương đồng nội theo gió vờn mái phố
Cứ xôn xao, da diết ở trong lòng.
.
Chợ huyện vãn, dòng người xuôi hối hả
Mẹ gom về xấp lá, nếp, đậu xanh
Cha tỉ mẩn chuốt nhành đào thắm đỏ
Thiếu dáng em... Tết chẳng thể trọn lành.
.
Mỗi chuyến xe dừng bên thềm xóm nhỏ
Anh dõi tìm một ánh mắt thân quen
Phương ấy lạnh, em có quàng khăn đỏ?
Có mang theo hơi ấm buổi lên đèn?
.
Gác việc lại, về thôi em, đừng muộn!
Đường xa xôi, sương muối có mờ giăng?
Dẫu cuộc đời vẫn ngược xuôi sớm muộn
Về đi em, anh vẫn đợi dưới trăng.
.
Thèm hơi Tết mình cùng nhau dạo phố
Bát canh măng thơm ngát phút giao thừa
Quà cáp chi khi xuân là nụ nở
Trải lòng anh... em thấu hiểu hay chưa?
.
Cơm chiều dọn, khói chờn vờn bếp lửa
Mắt mẹ nhòa vì bụi hay đợi con?
Anh đứng đây, giữa mùa xuân gõ cửa
Đợi em về... cho Tết được tròn vuông.
ĐỖ ANH TUYẾN
Địa chỉ: Khu Cộng Hòa, thị trấn Thanh Nê, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
.
CHỜ EM VỀ GIỮA CHIỀU ĐÔNG (THƠ- ĐỖ ANH TUYẾN)
CHỜ EM VỀ GIỮA CHIỀU ĐÔNG
.
Tết đã len vào từng ngõ nhỏ
Đào phai hé nụ, sắc xuân sang
Mà sao người cũ còn chưa tới?
Để lạnh vai gầy, bóng đổ ngang.
.
Trời chiều bảng lảng màu mây xám
Chút rét hanh hao cứ chực chờ
Mỗi tiếng còi xe vang đầu ngõ
Lại tưởng là em... cứ ngẩn ngơ.
.
Bánh chưng đã gói, trà đã sẵn
Mứt ngọt thơm nồng đợi bước chân
Đừng để xuân này buồn hiu hắt
Về nhé em ơi, Tết đã gần!
*.
ĐỖ ANH TUYẾN
Địa chỉ: Khu Cộng Hòa, thị trấn Thanh Nê, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
SANG XUÂN (THƠ- AN PHÚ)
Sang xuân - thơ An Phú
Bài thất ngôn bát cú đọc xuôi
Ta với xuân mừng tết đất trời
Thắm đỏ hồng xác pháo tả tơi
Hoa cùng bướm nhộn vui đây đó
Cúc đào mai lan huệ sắc tươi
Ta mừng tết hội vui trông ngóng
Chợ họp sang xuân tết đón mời
Ta chúc người mạnh an tươi trẻ
Cha mẹ ông bà sướng vui cười
Đọc ngược từ dưới lên trên
Xuân sang
Cười vui sướng bà ông mẹ cha
Trẻ tươi an mạnh người chúc ta
Mời đón tết xuân sang họp chợ
Ngóng trông vui hội tết mừng ta
Tươi sắc huệ lan mai đào cúc
Đó đây vui nhộn bướm cùng hoa
Tơi tả pháo xác hồng đỏ thắm
Trời đất tết mừng xuân với ta
HỮNG HỜ (THƠ- ĐỖ BÌNH)
Sao ta vẫn buồn như hôm xưa!
Có phải vấn vương màu hoa cũ,
Hay ta hờ hững phút giao mùa?
Đó…đây, xuân cũng vầng mây lụa,
Vẫn nụ mai đào muôn sắc đua,
Vẫn tím hạ xanh trời kỷ niệm,
Làm sao thấy được nét xuân xưa!
Hình như ngày tháng không có thật,
Nên ta quên mất phút giao thừa!
Tuyết phất phơ bay ngoài song cửa,
Sương rừng loang sắc bóng chiều đưa.
Tháng giêng trời đất màu mây tuyết,
Xuân đến hồn ta lộng gió mưa.
Nếu thật hồn quê không còn nữa,
Xuân về cũng chỉ nụ hương thừa.
Dù mai có rộ vàng lối ngõ,
Thì vẫn đâu là hoa năm xưa!
GIỚI THIỆU NGÔN NGỮ VIỆT NAM (THẦY- ĐẶNG NGỌC SINH & GS. TRẦN NGỌC DỤNG / ĐỒNG BIÊN SOẠN)
GIỚI THIỆU NGÔN NGỮ VIỆT NAM
An Introduction to the Vietnamese Language
GIỚI THIỆU NGÔN NGỮ VIỆT NAMAn Introduction to the Vietnamese Language
TÓM LƯỢC LỊCH SỬ CHỮ VIẾT CỦA NGÔN NGỮ VIỆT NAM
A GLANCE AT THE HISTORY OF THE VIETNAMESE LANGUAGE
Trong suốt mấy ngàn năm chiều dài lịch sử của đất nước, tiếng việt có bốn hình thức chữ viết.
The Vietnamese language is believed to have experienced four writing systems during the course of its history.
1. Chữ Viết Có Hình Con Giun – The Crawling Worms
Trước thời kỳ bị người Tàu xâm lăng (207 TTL – 938 STL) người Việt đã có chữ viết riêng của mình với hình dạng giống như nòng nọc có đường nét giống như “giun bò”. (Theo sách Thánh Tông Di Thảo ghi trong Cơ Sở Ngữ Văn Hán Nôm của Lê Trí Viễn do nhà xuất bản Giáo Dục phát hành năm 1984, trang 22; Tiền Hán Thư, một tài liệu viết vào thời Đông Hán). Dưới đây là một trong nhiều bằng chứng đã được tìm thấy tại tỉnh Thanh Hoá (Trần Ngọc Thêm, Tìm về Bản Sắc Văn Hoá Việt Nam, 1997: 96). Đây là loại chữ mà sau khi xâm chiếm nước Việt, người Tàu đã mô phỏng để biến thành chữ viết của họ với tên gọi là “đại triện”.
Prior to the era of Chinese domination (207 BC – 938 AD) Vietnamese is believed to have had its own writing system whose orthography resembles “crawling worms” (Thánh Tông Di Thảo, after Cơ Sở Ngữ Văn Hán Nôm, Lê Trí Viễn, nxb Giáo Dục, 1984:22; Tiền Hán thư, a historical document written during the East Han dynasty). The following may be evidence among the many discoveries found in Thanh Hoá province. (Trần Ngọc Thêm, Tìm Về Bản Sắc Văn Hoá Việt Nam, 1997: 96). This is the form the Chinese base on to make their own writing system, which they first called ‘tadpole’ then renamed “great seal.”
2. – Chữ Nho – Sino-originals
Khi người Hán xâm lăng nước Việt vào thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, họ áp đặt chữ viết đại triện mà sau đó trở thành chữ Hán hay chữ Nho để làm chữ quốc ngữ dùng trong triều đình, trên các văn bản qua bao nhiêu thế kỷ. Ngày nay có khoảng 70% từ ngữ trong kho tàng từ-vựng tiếng Việt là gốc Hán song song với chữ thuần Việt còn gọi là chữ Nôm. (Lý Lạc Nghị & Jim Waters, In Search of the Origins of Chinese Characters Relevant to Vietnamese, nxb Thế Giới, 1998:ix.) Dưới đây là thí dụ trích từ bìa sau của Sách Tra Chữ Nôm thường dùng, Lạc Nghị, Hội Ngôn Ngữ Học, 1991. Các từ-vựng gốc Hán tồn tại song hành với các từ-ngữ tiếng Việt cho đến ngày nay.
When the Han invaded Vietnam in the 3rd century BC, they imposed their “great seal” writing system on the public, and Han or chữ Nho became the lingua franca in the royal courts for several centuries in Vietnam. As a result, nearly 70% of the Vietnamese vocabulary consists of Sino-originals (Lý Lạc Nghị & Jim Waters, In Search of the Origins of Chinese Characters Relevant to Vietnamese, publisher Thế Giới, 1998:ix.) The following example is from the outer back cover of Sách Tra Chữ Nôm Thường Dùng, Lạc Nghị, Hội Ngôn Ngữ Học, 1991, and they co-exist with the indigenous Vietnamese words:
Chữ Nho là gì? What does it mean by Sino-originals?
Chữ Nho là cách gọi của chữ Hán chuyển tự. Đây là điểm sáng của tổ tiên người Việt đã biết cách tránh né để không bị đồng hoá mà đi đầu là ngôn ngữ khỏi bị tiêu diệt. Thay vì nói và viết theo người Hán thì vì bị ép phải dùng chữ Hán trong mọi văn kiện, người Việt đã khôn khéo đọc khác đi giọng nói của người Hán và biến nó thành một ngôn ngữ mới tương đương, đồng nghĩa nhưng không đồng âm. Hình thức chuyển tự này mới xảy ra tại Châu Âu vào khoảng 1860 khi nhiều người muốn đọc được chữ Ả-rập, chữ Do-thái, chữ Hy-lạp viết theo mẫu tự La-tinh. Thí dụ: người Hy-lạp viết Ελληνική Δημοκρατία"được đổi thành ‘Hellenic Republic’ theo cách của người nói tiếng Anh hoặc ‘Ellēnikḗ Dēmokratía’ cho người biết tiếng La-tinh. Hoặc chữ Россия thì được đổi thành ‘Rossiya’ tức là ‘Russia’ đối với người Anh, và người Việt nói là Nga.
Sino-original is the form we call in place of Han transliterated characters. This form served as a wise way to evade being assimilated by the Han initiated by the disappearance of the language. Under the circumstance that coerced everyone to study and write Han characters, our forefathers dodged the spoken form by creating transliterations that convey the meaning but not the sounds. Transliteration came to being in Europe during the late 19th century to cope with a demand of reading “non-Latin alphabets” such as Greek, Jewish, Arabic. For example: Ελληνική Δημοκρατία" in Greek transliterated into English ‘Hellenic Republic’ or in Latin ‘Ellēnikḗ Dēmokratía’. Similarly, Россия in Russian into ‘Rossiya’ in English ‘Russia’ and Nga in Vietnamese.
3. Chữ Nôm – Demotic System
Nhu cầu có hệ thống chữ viết riêng theo trào lưu sau khi Việt Nam giành lại độc lập vào đầu thế kỷ thứ 10 trở nên cấp bách, và Hàn Thuyên được cho là người đã sáng tạo ra hệ thống chữ viết gọi là chữ Nôm, vào thế kỷ 13. Hệ thống này có vẻ không hoàn hảo vì sự phức tạp và không thuần nhất nhưng đã hiện hữu cùng với chữ Nho cho đến đầu thế kỷ 20 mới chấm dứt. Mặc dầu chữ Nôm có nhiều khuyết điểm nhưng vẫn có khá nhiều công trình lớn viết bằng chữ Nôm xuất hiện vào thế kỷ 14 đến thế kỷ 18. Dưới đây là thí dụ về hình thức chữ Nôm được trích trong bìa sau của Sách Tra Chữ Nôm Thường Dùng, Lạc Nghị, Hội Ngôn Ngữ Học, 1991.
The need for its own writing system after Vietnam gained its independence in the early 10th century became crucial, and Hàn Thuyên is assumed to be the inventor of a demotic system called Nôm in the late 13th century. This creative work does not seem to work perfectly because of its complication and inconsistency. This demotic system co-exists with chữ Nho to the turn of the 20th century. Despite all the defects, many great works in Nôm appear during the 14th to the 18th centuries. The following example is from the outer back cover of Sách Tra Chữ Nôm Thường Dùng, Lạc Nghị, Hội Ngôn Ngữ Học, 1991.
4. Chữ Quốc Ngữ – National Script
Vào tiền bán thế kỷ thứ 16 (1553) nhiều giáo sĩ đến Việt Nam để giảng về Thiên Chúa Giáo cho dân chúng. Họ nhận thấy hai hình thức chữ viết Nho lẫn Nôm đều “khó” đối với công tác rao truyền của họ. Do đó, các vị này đã cố gắng làm sao việc giảng đạo dễ dàng hơn bằng cách áp dụng mẫu tự La-tinh vào tiếng Việt. Những chữ Việt viết bằng mẫu tự La-tinh xuất hiện lần đầu tiên vào khoảng 1632. Đến năm 1909 chữ viết tiếng Việt bằng La-tinh là “chữ quốc ngữ” được chính thức công nhận. Hình thức mới này tỏ ra hữu hiệu và khá tiện lợi. Dưới đây là bảng kê ghi lại các chữ được viết và sửa đổi theo thời gian.
As early as the mid-16th century (1553?), many Catholic missionaries arrived in Vietnam to evangelize Christianity to the masses. They find the Sino-originals and the Nôm both “difficult” for their task. In an effort to popularize the evangelization, these missionaries try to render Vietnamese in the Latin alphabet. The first appearance of the romanized orthography is around 1632. In 1909 the romanized Vietnamese becomes official as chữ quốc ngữ (national script). This new system of writing proves effective and convenient. Here are two examples of chữ quốc ngữ in its early stages.
1632 | 1651 | 2000 | English equivalents |
aim em | anh em | anh em | brother & sisters |
bloèi | blời | trời/giời | sky, heaven |
bõe | βợ | vợ | wife |
cia | cha | cha | father |
ciaùm | chàõ | chồng | husband |
ciuá | chúa | chúa | God |
con blai | con blai | con trai | boy, son |
con gái | con gái | con gái | girl, daughter |
đét | đét | đất | earth |
mẽ | mẹ | mẹ | mother |
nguèi | người | người | human being |
thãt | thặt | thật | true, real |
.jpg)
.jpg)

.jpg)

.jpg)
.jpg)
.jpg)