Friday, February 13, 2026

NĂM NGỌ NÓI CHUYỆN NGỰA (SAO KHUÊ)

 


NĂM NGỌ NÓI CHUYỆN NGỰA


Sắm Tết xoay tiền, lo sốt vó

Làm thơ túng vận, nghĩ băn khoăn

Nắng mưa thay đổi người ngây ngất

Kinh tế buồn tênh lúc khó khăn... ( Tú Mỡ)


Nhà thơ Tú Mỡ lo sốt vó và Sao Khuê cũng long trọng báo cho quý vị biết là sang năm tới, 2026,

chúng ta cũng sẽ lo sốt vó nhưng sau đó sẽ “mã đáo thành công”. Tại sao ư? Vì năm tới là năm

con ngựa. “Sốt vó”, vó ở đây chỉ bàn chân chụm lại và có móng của các loài thú như trâu, bò, lừa,

ngựa. Xin quý vị phân biệt với “cất vó” là nhắc cái lưới bắt cá tôm lên khỏi nước nhé. Vó ngựa là

chất sừng cứng protein keratin giúp chân ngựa bám vào đường, không bị trượt khi ngựa chạy, nhẩy.

Quý vị còn nhớ trong truyện Kiều, cụ Nguyễn Du có câu “làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai”

vì thân trâu ngựa cực khổ lắm. Trâu đã vất vả nhưng ngựa lại còn khổ sở hơn nhiều. Trâu chỉ có

mỗi việc cày ruộng, thỉnh thoảng mới phải kéo xe nhưng tối về được từ tốn ngồi nhai lại mớ cỏ.

Còn thân ngựa, eo ôi, khổ lắm! Chả thế mà người ta đã ví “công phu hãn mã” tức công lao to và

khó nhọc như công ngựa chiến đổ mồ hôi trên sa trường.

Ngựa là con vật khôn ngoan rất được người yêu quý. Ngựa trung thành, hiểu được tiếng người,

nhớ mặt người, dù xa cách nhiều năm vẫn tìm được đường về với chủ.

Ngựa có dáng đẹp, oai nên được vẽ trên tranh hay được đúc tượng. Tranh vẽ thường từ một con

đến một đàn ngựa. Một đàn ngựa thường có tám con ngựa. Tranh tám con ngựa mang tên mã đáo

thành công, tượng trưng cho quyền lực và sức mạnh, các họa sĩ còn gọi là bát tuấn đồ.

Con số tám theo văn hóa Trung quốc là biểu tượng của may mắn, thịnh vượng thành công. “Bát”

khi người Trung Quốc phát âm nghe giống như tiếng “phát” có nghĩa là phát triển phát đạt. Trong

bức tranh mã đáo thành công có một con ngựa, đứng ở vị trí thứ tư hoặc thứ năm, quay đầu lại để

cầu chúc cho sự trở về được an toàn may mắn sau những cuộc hành trình gian nan. Cũng có một

giải thích khác là dưới thời Chu Mục Vương, dân chúng được ấm no thịnh vượng do nhà vua có

nuôi và rất quý tám con ngựa. Con số tám, biểu tượng của tám hướng, còn là con số của bát quái,

một biểu tượng của sự chuyển biến tốt lành – thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng,

tứ tượng kết hợp sinh bát quái. Số 8 là con số tốt nên còn có tranh bát tiên, canh bát bửu. Thông

thường người ta vẽ tám con ngựa phi trên đồng cỏ nhưng cũng có khi vẽ tranh ngựa phi trên mặt

nước, diễn tả hành động vươn lên một cách phi thường, vượt qua mọi khó khăn thử thách trong

cuộc sống.

Voi và ngựa thường góp công lao chống ngoại xâm nên được đúc tượng đá để thờ. Vua Trần Nhân

Tôn thắng trận Bạch Đằng năm 1288, ngài đến Chiêu Lăng tế lễ, thấy tượng con ngựa đá bị dính

bùn, có làm bài thơ: “xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã, non sông ngàn thuở vững âu vàng”. Xã tắc đã

hai lần ngựa đá dính bùn thì ngàn năm nước nhà vẫn vững bền như chiếc âu bằng vàng - âu là dụng

cụ để đựng, lớn hơn cái tô, như âu trầu, âu kim chỉ, âu cơm, ...

Ngựa là con vật hoang dã được thuần hóa sớm và luôn bên cạnh

người. Thuở chưa có máy móc, ngựa là phương tiện di chuyển

tiện lợi nhất mà người ta đã ví “bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn


bằng thuyền”, nghĩa là đi bộ nhanh nhất khi cưỡi ngựa và đường thủy

nhanh nhất lúc đi thuyền. Ngựa có một sức khỏe dẻo dai để trèo đèo lội

suối băng ngàn nên “mã lực” là đơn vị đo sức mạnh của cơ giới (xe).

Người nào biết cưỡi ngựa thì leo lên lưng ngựa, như Sao Khuê chỉ biết yểu

điệu leo lên xe do ngựa kéo gọi là xe thổ mộ. Bên Âu Mỹ mới có xe ngựa

đẹp cho người đi chứ Việt Nam mình thì nhà giầu đi xe do người kéo.

• Mông Cổ là một quốc gia nhỏ nhưng có tới trên 5 triệu con ngựa, gần

gấp đôi số dân Mông Cổ. Đoàn kỵ binh của Thành Cát Tư Hãn đã từng

làm cỏ Âu châu nhưng lại phải lui chân khi muốn xâm chiếm nước

Nam.

• Ngựa to nhất thế giới là ngựa Sampson, giống Shire, cao 2m2 và nặng 1.5 tấn.

• Eclipse là con ngựa đua chưa hề thua trận.

• Turkmenistan có bộ lông lấp lánh ánh kim loại, sức chịu đựng dẻo dại, phi nước đại cực nhanh.

• Loài ngựa chảy mồ hôi đỏ như máu trong truyền thuyết là Akhal-Teke. Chúa tể trong sa mạc

Karakoum chính là Hãn huyết mã (ngựa Đại Uyên) của nước Đại Uyên được nhắc đến trong

sách, truyện Trung Quốc.

• Con ngựa thành Troy là một con ngựa gỗ khổng lồ được

người Hy Lạp làm ra, trong bụng chứa được mấy chục dũng

sĩ. Quân Hy Lạp giả vờ thua, rút lui nhưng để lại con ngựa

gỗ. Khi đêm đến những dũng sĩ này từ bụng ngựa chui ra giết

chết lính canh, mở cổng thành để quân Hy Lạp tràn vào chiếm

thành mà thắng trận.

• Thần mã Xích Thố trong Tam Quốc Chí khởi đầu thuộc Đổng

Trác, Đổng Trác tặng cho Lã Bố. Lã Bố bị Tào Tháo giết, Tào Tháo tặng Xích Thố cho Quan

Vân Trường. Khi Quan Vũ chết, Xích Thố vào tay Mã Trung nhưng Xích Thố nhịn ăn mà chết.

• Đời Hùng Vương thứ sáu, giặc Ân sang xâm lấn Việt Nam. Phù Đổng Thiên Vương mới có ba

tuổi vươn vai thành người lớn đội ngũ sắt, mang giáp sắt, cưỡi một con ngựa bằng sắt, phá giặc

Ân và sau đó bay về trời.

• Ngựa sống trong nước gọi là hải mã, là loài cá hình dáng như con ngựa.

• Kinh Thánh dùng hình ảnh bốn con ngựa: màu trắng (ngựa bạch), màu đỏ, màu đen (ngựa ô),

và màu tái nhợt để chỉ về những sự kiện và đại nạn sẽ xảy ra vào thời kỳ cuối cùng của địa cầu

mà chúng ta đang sống.

• Chúa Giêsu nhận được từ Đức Chúa trời một cuốn sách có bảy ấn mà bốn dấu ấn là bốn con

ngựa. Bốn con ngựa này phi nước đại, chúng luân phiên giành nhau dẫn đầu.

Chúa Giesu cầm một cuốn sách với bảy cái ấn, Ngài tháo từng cái ấn trên cuốn sách. Khi một

cái ấn được mở ra, thì một sự kiện hoặc đại nạn sẽ xảy ra mà nguyên nhân do chính loài người


tiếp tục sống trong tội lỗi, không chịu ăn năn, xem thường tình thương, ơn cứu rỗi và những

lời cảnh báo của Chúa trong Kinh Thánh.

Sách Khải Huyền cho chúng ta thấy những người cưỡi bốn con ngựa này không phải là người

thật mà chỉ dùng để nhân cách hóa các biến cố và sự kiện trong lịch sử thế giới. Mặc dù lịch

sử thế giới rất bao la và phức tạp, nhưng Đức Chúa Trời mô tả đầy đủ bằng bốn con ngựa.

• Điểm khởi đầu của cuộc đua ngựa là sự thăng thiên

lên ngai vàng của Chúa. Lúc này,những con ngựa bắt

đầu chạy. Khoảng 2000 năm đã trôi qua kể từ khi ngựa

trắng bắt đầu chạy tượng trưng cho Chúa lên trời và

thời đại này, những con ngựa đang gần về đích. Đích

đến là sự trở lại của Chúa trên trái đất này.

o Con ngựa trắng tượng trưng sự vinh hiển và

toàn thắng của Chúa. Người cưỡi ngựa tên là

“chánh tín và chân thật”. Con ngựa đỏ tượng

trưng cho các cuộc chiến tranh trong khoảng

2000 năm qua.

o Con ngựa đen tượng trung cho kinh tế. Người cưỡi ngựa đen được ban một thanh gươm,

trong tay cầm cái cân, tượng trung việc mua bán liên quan đến tiền bạc. Trong đại

khủng khoảng 1929, ngựa đen chạy rất nhanh tượng trưng sự sụp đổ thị trường chứng

khoán New York, dẫn đến sự phá sản kinh hoàng. Tháng 2 đen, năm 1987, thị trường

chứng khoán sụp đổ lần nữa. Năm 2008, một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Black Friday là một ngày người ta giảm giá lớn để giành quyền khuyến mãi.

o Con ngựa đỏ tượng trưng cho chiến tranh “Và có con ngựa khác sắc đỏ đi ra. Người

cưỡi ngựa đỏ được ban một thanh gươm lấy Hòa Bình khỏi mặt đất, để cho người ta

tạo chiến tranh giết hại nhau. “chiến tranh 35 năm” giết chết 6 triệu tức 2/3 dân La Mã

thời đó. Thế chiến thứ nhất thiệt hại 20 triệu người. Thế chiến thứ hai khoảng 80 triệu

người. Hiện nay các cuộc chiến vẫn tiếp tục ở châu Phi, Trung Đông và nhiều nơi khác.

o Con ngựa tái nhợt là sự chết. Người cưỡi ngựa tên là “Sự Chết” và có “âm phủ” đi theo

sau. Khi con ngựa tái dẫn đầu là sự chết bao trùm. Chúng được quyền giết người, bằng

gươm giáo, bằng nạn đói, dịch bệnh và các thú dữ; chủ yếu là nạn đói và dịch bệnh.

Khoảng 821 triệu người phải chịu đói. Trên 3 triệu người mắc bệnh và 240 ngàn người

chết vì Corona virus mới đây.


• Theo Phật giáo, chú ngựa Kiền Trắc chở Đức Phật vượt hoàng thành vào một đêm tối mùa

xuân để đi tìm giác ngộ. Đức Phật có lần mang hình ảnh loài ngựa ra để giảng đạo. Khi gặp

Kesy là người chuyên nghề luyện ngựa, đức Phật bèn hỏi về phương pháp luyện ngựa.

Kesy thưa:

- Bạch Thế Tôn, con thường chia ngựa ra làm bốn loại: loại được nhiếp phục bằng lời mềm

mỏng, loại được nhiếp phục bằng lời thô ác, loại được nhiếp phục bằng lời mềm mỏng lẫn thô

ác, loại bất trị, không thể nhiếp phục nổi. Với hạng này chỉ còn cách đem giết thịt để khỏi mất

danh dự của nhà luyện ngựa.

Xong, Kesy hỏi Phật về cách nhiếp phục môn đệ.

Đức Phật đáp rằng, Ngài cũng chia hàng đệ tử ra làm bốn loại: hạng người được nhiếp phục

bằng lời mềm mỏng; khi được chỉ dạy về các việc thiện của thân, khẩu, ý cùng các quả báo

tương ứng ở cõi trời, người, họ liền tinh cần tu tập. Hạng người được nhiếp phục bằng lời cứng


rắn; khi được chỉ dạy về các hành động bất thiện của thân, khẩu, ý, cần nên tránh vì chúng sẽ

đưa đến quả báo tương xứng nơi ba đường ác. Hạng người được nhiếp phục bằng lời mềm

mỏng lẫn cứng rắn: bao gồm cả hai lối trên. Hạng người bất trị, không thể nhiếp phục bằng lời

mềm mỏng hay cứng rắn, thì đành phải giết đi.

Nghe đến đây, Kesy hốt hoảng hỏi:

- Nhưng, bạch Thế Tôn, tại sao lại giết đi? Há không phải Ngài thường khuyên răn hàng môn

đệ nên trì giới bất sát đó sao?

- Này chàng trai, trong giáo pháp của ta, giết đi chỉ có nghĩa là không thèm nói tới, vì đương

sự không xứng đáng để bỏ công dạy dỗ, nhắc nhở nữa. (Trích Tương Ưng Bộ kinh).

Đức Phật quay lại giảng cho các tỳ kheo:

- Này các Tỳ kheo! Trên đời này có bốn loại ngựa hay. Hạng ngựa vừa thấy bóng roi đã chạy,

như người vừa nghe có ai đó mệnh chung liền tỉnh ngộ tu tập và đạt kết quả tốt. Hạng ngựa

không sợ bóng roi, chỉ sợ gậy (có đóng đinh nhọn) thúc vào mông, giống như người vừa thấy

ai đó mệnh chung, liền tỉnh ngộ, tinh cần tu tập và đạt kết quả tốt. Hạng ngựa đợi gậy đâm vào

thịt mới sợ, như hạng người khi tận mắt thấy thân nhân mình mệnh chung, liền tỉnh ngộ, tinh

cần tu tập và đạt kết quả tốt. Hạng ngựa đợi đến lúc gậy thúc thấu xương mới sợ, như hạng

người khi tự thân bị bệnh khổ mới tỉnh ngộ, tinh cần tu tập và đạt kết quả tốt”. (Trích Tương

Ưng Bộ - Kinh Gậy Thúc Ngựa)

• Ngựa có 8 thói xấu:

o Thói xấu thứ nhất là vừa cởi giây cương ra là định kéo cả xe chạy vì ngỡ đã tháo xong.

o Thói xấu thứ hai là khi kéo xe thì nhảy lên định cắn người.

o Thói xấu thứ ba là chồm hai chân trước lên khi kéo xe.

o Thói xấu thứ tư là đá cái chuông xe.

o Thói xấu thứ năm là người phu ngựa vừa cầm vào cái vòng da đeo quanh cổ của ngựa, hay

sờ mó vào xe là đã phóng chạy.

o Thói xấu thứ sáu là chạy xiên chạy xẹo không theo đường thẳng.

o Thói xấu thứ bẩy là ngưng gấp, chạy nhanh, thấy đường có bùn lầy không chịu chạy.

o Thói xấu thứ tám là giỏ cỏ đeo ở trước miệng dù đói cũng không ăn, nhưng khi người chủ

muốn đưa đi kéo xe, thì lại lo ăn cỏ và khi đó không ăn được nữa.

• Đức Phật nói con người cũng có tám thói xấu:

o Thói xấu thứ nhất là nghe nói đến kinh kệ là lo chạy nhanh không muốn nghe, như con

ngựa vừa bắt đầu cởi giây cương là lo chạy.

o Thói xấu thứ hai là nghe giảng kinh không hiểu ý nghĩa, không hiểu mục đích của kinh,

nên nổi giận, không muốn nghe, như lúc con ngựa kéo xe nhảy xổ lên định cắn người.

o Thói xấu thứ ba là khi nghe giảng kinh sinh nghịch ý không chịu tiếp thu, như ngựa chồm

hai chân trước lên làm xe ngưng chạy.

o Thói xấu thứ tư là khi nghe giảng kinh là chê bai chửi rủa, như ngựa đá cái chuông xe.

o Thói xấu thứ năm là khi thấy giảng kinh liền đứng dậy bỏ đi như ngựa phóng chạy khi

người phu ngựa vừa cầm vào cái vòng da đeo quanh cổ của ngựa hay sờ mó vào xe.

o Thói xấu thứ sáu là khi nghe giảng kinh không chịu chú tâm, quay đi quay lại để nói chuyện,

như ngựa kéo xe chạy xiên chạy xẹo không theo một đường thẳng.

o Thói xấu thứ bẩy là khi nghe giảng kinh cố tình gây khó khăn bằng cách hỏi đến cùng, để

cho người giảng không trả lời được, dùng những vọng ngữ làm bế tắc câu chuyện, như

ngựa thấy đường có bùn lầy không chạy vậy.


o Thói xấu thứ tám là khi nghe giảng kinh không chịu nghe mà nghĩ chuyện dâm ô. Những

người không muốn nghe, không thọ trì những lời kinh, khi chết vào ác đạo, thì lại muốn

học đạo, nghe kinh, lúc đó đâu còn được học đạo nghe kinh nữa ví như con ngưa khi giỏ

cỏ đeo ở trước miệng thì không chịu ăn, khi người chủ đưa đi kéo xe thì lại muốn ăn nhưng

không ăn được nữa.

• Biểu tượng về ngựa:

o Lộc mã: chỉ sự giàu sang, phát đạt, tiền tài, gia sản.

o Ngựa phi nước đại: tượng trưng cho sự bôn ba rày đây mai đó như vó ngựa đường xa.

o Bạch mã thường phải được dẫn đi đồng hành với chủ chứ không để cỡi, là biểu tượng của

sự thăng quan tiến chức.

o Đôi ngựa hay song mã: đem lại tài lộc.

o Tám ngựa: hình ảnh tám ngựa bờm dựng lên, đuôi thẳng phi nước đại trên đường thiên lý

là biểu tượng của sự thành công trong kinh doanh, thăng quan tiến chức trong quan lộ,

thành đạt trong thi cử.

o Mã đáo thành công: cũng hình ảnh tám con ngựa như vậy, nếu đặt trên bàn làm việc và

hoặc treo trên tường nhà mà hướng ngựa chạy quay vào trong, sẽ đạt được mọi điều cát lợi

như làm quan lên chức, buôn bán làm giàu, thi cử đỗ đạt, vạn sự hanh thông.

o Mã thượng đắc thiên hạ: người xưa lấy chiến trận làm nên nghiệp cả, quá trình chiến đấu

là luôn luôn trên mình ngựa nên thành ngữ nầy muốn nói chỉ có một cách đắc thiên hạ là

phải cầm thương cỡi ngựa ra trận.

o Mã thượng phong hầu: hình ảnh một con khỉ ngồi trên lưng hay trên bờm con ngựa để bắt

chí (mấy ông ba tàu dám ghép chữ và ghép ý để chỉ “mã thượng phong hầu” nghĩa là mong

ước cho việc thăng quan tiến chức nhanh chóng vì chữ “hầu” nghĩa là khỉ, đồng âm với

chữ “hầu” là làm quan.

o Ngựa quen đường cũ: ngựa không thua chó về nhớ đường. Những con đường mà nó đã đi

qua dù ngàn dậm, ngựa vẫn có thể trở về nhà. Khi chủ tướng tử thương trong chiến trận,

ngựa tự động mang xác chủ về nhà.

o Trung thành và chung thuỷ như: không thờ hai chủ (ngựa Đích Lư của Lưu Bị), chỉ thờ

người chủ tướng anh hùng (ngựa Xích Thố của Quan Vân Trường), tình chiến hữu, đồng

sanh đồng tử (ngựa Buchephalus và Alexandre Đại đế).

o Da ngựa bọc thây: không biết bao nhiêu phim, chuyện từ Á sang Âu nói về những con

chiến mã mang thi hài của người chiến binh từ mặt trận về doanh trại.

o Kỵ binh: ngày xưa trong chiến tranh kỵ binh là lực lượng quan trọng nhất. Ngày nay sức

ngựa không bì với sức cơ giới tuy nhiên trong quân đội hiện đại các nước Tây phương vẫn

còn dùng từ kỵ binh, cavalerie để chỉ đội quân thiết giáp.

• Đặc điểm của loài ngựa:

o Ăn: ngựa là động vật ăn cỏ nhưng không nhai lại như trâu bò do dạ dày không có nhiều

ngăn. Hệ thống tiêu hoá của ngựa ở giữa của loài nhai lại và không nhai lại. Chất enzyme

trong ruột có thể làm tiêu hóa những thức ăn cứng và dai như rơm rạ, bo bo, các loại hạt.

Thịt ngựa, nghe nói nhạt nên người ta ít ăn thịt ngựa.

o Ruột của loài ngựa cũng tương đối lớn và dài nên có cụm từ “thẳng như ruột ngựa”.

o Mắt ngựa có thể nhìn được cả ngày lẫn đêm.

o Ngựa ngủ ít hơn các loài vật khác và ngủ đứng thay vì nằm. Ngựa ngủ trong tư thế đứng

ba chân, trọng lượng dồn lên hai chân trước và một chân sau, chân còn lại sẽ được thư giãn.


Ngựa chỉ nằm xuống khi chúng cảm thấy an toàn nhưng nằm cũng không nằm lâu vì thân

xác to lớn quá lớn sẽ đè lên làm đau nội tạng.

o Có tình đồng loại: một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ.

o Ngựa đi thong thả, khi phi (chạy rất nhanh), khi chạy nước kiệu (chạy nhịp nhàng), chạy

nước rút (chạy hết tốc độ để về đích). Khi ngựa tế là chạy mau mà đều, không nghỉ. Các

phu trạm chạy ngựa hoả tốc đề giao các lệnh khẩn...

• Ngựa trong thơ văn: tục ngữ “mồm chó vó ngựa”, khuyên người ta nên

cẩn thận đề phòng trước nguy hiểm bất trắc như nên tránh xa chó, ngựa

để khỏi bị chó cắn, ngựa đá, chẳng khác gì lời khuyên chớ nên "vuốt

râu hùm, sờ dái ngựa".

Hồi Sao Khuê học đệ tam trường Gia Long, lớp học ở trên lầu, nhìn qua

cửa sổ là chùa Xá Lợi, núp sau hàng cây lá xanh mướt, quả lủng lẳng

nâu nhạt là cây dái ngựa.

• Trong Chinh Phụ Ngâm hình ảnh người chinh phu luôn luôn gắn liền người chiến sĩ và con

chiến mã.

Chí làm trai dặm nghìn da ngựa. Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.

Giã nhà đeo bức chiến bào. Thét roi cầu vị, ào ào gió thu.

Quân trước đã gần ngoài doanh liễu. Kỵ sau còn khuất nẻo Tràng Dương.

Ôm yên gối trống đã chồn. Nằm vùng cát trắng, ngủ cồn rêu xanh.

Tưởng chàng trải nhiều bề nắng nỏ. Ba thước gươm, một cỗ nhung yên.

Xông pha gió bãi trăng ngàn, Tên reo đầu ngựa, giáo lan mặt thành.

Chàng ruổi ngựa dậm trường mây phủ. Thiếp dạo hài lối cũ rêu xanh...

• Trong Lục Vân Tiên, cụ Đồ Chiểu cũng có một câu nói về ngựa: Vân Tiên đầu đội kim khôi.

Tay cầm siêu bạc, mình ngồi ngựa ô.

• Trong Cung Oán Ngâm Khúc, cụ Ôn Như Hầu cũng có nhắc xa mã: mùi phú quí nhử làng xa

mã. Bã vinh hoa lừa gã công khanh.

• Tái Ông Thất Mã là chuyện kể về một ông già sống ở vùng biên giới Nhạn Môn Quan, bị mất

một con ngựa. Hàng xóm đến chia buồn thì ông nói “Biết đâu mất ngựa là một điều phước.” Ít

lâu sau con ngựa trở về, hàng xóm đến chia vui thì ông lại nói “Biết đâu đó là một điều họa.”

Người con trai có ngựa thì hay phi ngựa nên bị gãy chân; hàng xóm đến chia buồn thì ông lại

nói “Biết đâu đó là một điều phước.” Quả thật nhờ gãy chân nên con ông không phải đi lính ra

trận đánh giặc Hồ.

• Có vị phú ông muốn kén rể giỏi văn chương thơ phú. Ngày nọ có hai anh học trò đến xin ứng

thí. Phú ông chỉ con ngựa trắng, yêu cầu làm thơ vịnh. Anh học trò thứ nhất ứng khẩu: “Bạch

mã mao như tuyết. Tứ túc cương như thiết. Tướng công kỵ bạch mã. Bạch mã tẩu như phi.”

Quay sang anh thứ hai, phú ông yêu cầu vịnh bà lão đang quét sân. Anh chàng này vốn “văn

dốt - vũ dát” cọp ý bài thơ trên mà đọc: “Bà lão mao như tuyết. Tứ túc cương như thiết. Tướng

công kỵ bà lão. Bà lão tẩu như phi.”!

• Nữ sĩ Hồ Xuân Hương trong bài Đánh Cờ Người: Thoạt mới vào chàng liền nhảy ngựa, thiếp


vội vàng vén phứa tịnh lên.

• Ngựa trong nhạc: Khi hợp ca bài Ngựa Phi Đường Xa, nghệ sĩ của ban hợp ca Thăng Long

thường bắt chước tiếng ngựa hí: “Hí hí hí ... Ngựa phi, ngựa phi đường xa...”

• Ba bài nhạc nổi tiếng: dân ca Lý Ngựa Ô do Nguyễn Hữu Ba ghi lại, Ngựa Phi Đường Xa của

Lê Yên, và Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang của Phạm Duy. Một số nhạc phẩm khác do nhiều

nhạc sĩ viết vẫn có hình bóng ngựa trong đó nhiều nhất phải nói là của Trịnh Công Sơn. Chẳng

hạn như “Ngựa hồng đã mỏi vó...” trong Xin Mặt Trời Ngủ Yên; “Ngày đầu thu nghe chân

ngựa về...” trong Một Cõi Đi Về; “Ngựa xa rồi, người vẫn ngồi, bụi về với mây...” trong Phúc

Âm Buồn; “Vó ngựa trên đồi hay dấu chim bay...” trong Xa Dấu Mặt Trời, ...

• Tiếng nhạc ngựa là tiếng rung của cái lục lạc đeo ở cổ con ngựa: “Ttiếng nhạc ngựa lần chen

tiếng trống. Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay.” (Chính Phụ Ngâm)

• Thú vui với ngựa: cờ cá ngựa là trò chơi rất hào hứng cho trẻ. Xem đua ngựa rồi đánh cá ngựa

đua là thú vui nguy hiểm của người lớn. Nhưng biết và được cưỡi ngựa thì rất thú vị. Người

cưỡi ngựa đua gọi là nài. Muốn làm nài ngựa phải ép xác theo kỷ luật khắt khe, hình như không

được nặng quá 30kg và phải học nhiều thế cúi, nhảy, chồm lên ... khác nhau.

Ở Montreal, gần metro Namur đã có một trường đua ngựa Hippodrome Montreal, còn gọi là

Blue Bonnet vừa có đua ngựa vừa có Casino. Bây giờ trường đua đóng cửa, nơi đây thành khu

shopping sang trọng Royal Mount. Casino mở lại dưới phố, ở Iles Notre- Dame với kiến trúc

tân kỳ mà theo thầy địa lý sẽ đem lại lại nhiều tiền cho chủ, nghĩa là ai đến đây giải trí thì trước

sau gì cũng từ sạch túi đến tán gia bại sản. Quý vị chỉ nên ghé xem qua thôi rồi vào ăn. Trong

này có nhiều tiệm ăn ngon với nhiều show đặc sắc.

• Ngựa 6 cẳng: được các ông rất ưa thích nhưng các bà rất căm thù. Đó không phải là con ngựa

mà là con người, quý vị đoán ra chưa? Chưa à, đó là tổng hợp của một cô 2 cẳng và con ngựa

4 cẳng đó! Các bà vợ gọi là “con đ... ngựa đó”. Người Huế cũng có “ngựa Thượng Tứ”, chỉ

các cô gái dữ tợn dễ nổi khùng như ngựa điên...

Trước thềm năm Bính Ngọ, Sao Khuê xin chúc quý vị phi nhanh qua khó khăn, đá bay mọi áp lực,

hý vang khúc khải hoàn ca, và không còn đơn thương độc mã, lại mã đáo công thành.

Sao Khuê, 25 tháng 12 năm 2025

(Tài liệu và hình ảnh từ internet)

No comments: