Saturday, February 7, 2026

HOA MAI VIỆT NAM QUA SỬ TÍCH NHÂN GIAN (LÊ TẤN DƯƠNG)

 


Tản Mạn Mùa Xuân

Hoa Mai Việt Nam qua Sử tích Nhân gian

Lê Tấn Dương

Sách vở từ ngàn xưa và những công trình nghiên cứu khoa học ca những nhà khảo sát thực vật hôm nay đều đi đến một kết luận tương đối giống nhau trong cách phân loại hoa Mai. Với tên gọi khoa học Dohna Harman, Mai được phân thành 3 loại là Hoàng Mai, Bạch Mai và Hồng Mai. 

Tại Việt Nam, bạch mai được tìm thấy tại Sài Gòn, Gia Định và các tỉnh phía Nam. Tuy nhiên nguồn gốc xuất xứ của giống mai trắng được xác định là từ xứ Chùa Tháp Cao Mên, được du nhập vào miền Nam nước Việt từ nhiều thế kỷ trước.

Hồng mai một thời được tìm thấy nhiều tại Cao nguyên Trung phần. Ngày nay còn lại rất ít tại Lâm Đồng, Đà Lạt. Riêng mai Trường An hay còn gọi là mai tứ quý, tuy có đặc điểm nở hoa nhiều mùa khác nhau nhưng vẫn được xếp vào dạng Hoàng mai vì màu sắc, mùi vị và quá trình sinh thái không khác với mai vàng. Mai tứ quý còn được hiểu như là biểu tượng của tình bằng hữu và được đặt tên từ một điển tích khá dễ thương trong văn học Trung Hoa. Về điển tích của mai Trường An, trong một số báo Xuân năm trước, tôi đã có dịp đề cập về sử tích và đặc tính của loại mai nầy  trong một bài viết về hoa mai và mùa Xuân.

 Inline image

Trong ba loại Mai vừa kể, Hoàng Mai mãi mãi vẫn là hoa Mai rực rỡ nhất, tươi đẹp nhất, đài các nhất và tốn nhiều tâm sức nhất cho các văn nhân, thi sĩ và họa sĩ . Do đâu và vì sao ? Câu giải đáp cũng tương đối giản dị vì mai vàng từ hàng ngàn năm nay, trong nếp sống văn hóa Đông phương, các nhà mỹ học và nghệ thuật dân gian đều mặc nhiên nhìn nhận mai là hoàng hậu trong các loài hoa.

Nét quyến rũ kín đáo, đài các nhưng mảnh mai gợi cảm của hoa mai đã nói lên đầy đủ những điều mà người đời muốn ca tụng loài hoa vương giả. Mai vàng giữ được màu sắc thuần khiết nhất - màu vàng rực rỡ thắm tươi như biểu tượng cho vương quyền và bản sắc cao ngạo - cho dù chỉ một lát nữa thôi, mai sẽ lìa cành rơi rụng theo từng cơn gió nhẹ mùa Xuân. Dù mảnh mai, nhỏ bé, Mai vẫn vươn thẳng và mạnh mẽ trong gió mưa, kiêu hảnh khoe sắc vàng tươi thắm. Đặc điểm của hoa mai là dù rơi rụng tơi tả trong gió mưa vẫn không phai nhạt màu sắc. Vì thế, Mai là biểu tượng cho người quân tử, kẻ sĩ bất khuất với cốt cách phi phàm, ẩn sâu một tâm hồn lãng mạn, thanh tân nhưng luôn luôn phảng phất mùi hương cao quý.

          Bên gốc Mai già Xuân vắng vẻ

          Âm thầm thiếu nữ khóc hoa mai.

 

Thiếu nữ khóc hoa mai vì thương tiếc cho một loài hoa vương giả nhưng suốt kiếp vẫn âm thầm và cô đơn. Thiếu nữ khóc thương loài hoa đẹp hay khóc thương cho thân phận lạc loài của chính mình. Đài các, rực rỡ tươi thắm biết bao mà phải cay đắng chịu cảnh sớm nở chóng tàn. Có phải vì hoa đẹp lộng lẩy quá, kiêu sa quá nên tạo hóa đố kỵ giở thói ghen tương. Và nếu “ Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”  là một điều có thực như đại thi hào Nguyễn Du đã viết trong truyện Kiều thì hoa mai âu cũng đành chịu chung số phận trước sự hờn ghen của hóa công mà thôi.

Suốt thời kỳ ấu thơ, tôi (người viết) có nhiều cơ hội theo cha và gia đình cư ngụ suốt dải đất miền Trung. Nhất là những năm cuối cùng của giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1950-1954) tôi theo gia đình về Bình Định và có dịp sống nay đây mai đó ở Hoài Ân, Kim Sơn, An Lão, Thiết Đính, Bồng Sơn dọc theo sông Lại Giang rồi An Nhơn, Phù Cát, Tuy Phước, Phù Mỹ...

Trong mớ ký ức hổn độn, nhỏ nhoi và lụn tàn của mình hiện tại. Tôi chỉ còn lưu lại chút ít hình ảnh những năm theo gia đình chạy xa vùng giao chiến để tránh lửa đạn, nhất là để tránh bom đạn do máy bay của thực dân Pháp bắn phá. Tuổi thơ ngày ấy vô tư không biết sợ chiến tranh và những hệ lụy bi thảm của nó. Tuổi thơ của tôi là những ngày rong chơi trên những cánh rừng mai bạt ngàn, những đồi sim bát ngát ở những địa danh vừa kể. Đến tận bây giờ, sau mấy chục năm bể dâu của lịch sử dân tộc với những thăng trầm của dòng đời, tôi vẫn nhớ như in, sắc vàng tươi thắm rực rỡ của những rừng mai bạt ngàn năm xưa vào những ngày đầu Xuân có gió về se lạnh nhưng đã ẩn chứa hơi ấm của mùa Xuân kề cận.

 
Có một điều rất thú vị mỗi khi đọc sử liệu và địa dư chí Việt Nam, ta lại bắt gặp rất nhiều thôn xã, núi non trùng tên như Bạch Mai, Hoàng Mai, Hoàng Sơn, Mai Sơn.... dẫu rằng chúng ở cách xa nhau cả ngàn vạn dặm, khác tỉnh, khác miền. Ông bà của chúng ta ngày xưa hình như có thói quen rất đơn sơ, giản dị và dễ thương khi đặt tên cho khu vực thôn làng mình đang ở. Điều gì đó đặc biệt đập vào mắt họ nhiều nhất trong cuộc sống hàng ngày, họ sẽ dùng nó đặt tên cho nơi mình cư ngụ để thể hiện tình cảm của mình đối với đất đai nơi chôn nhau cắt rốn và cũng là nơi trưởng thành của nhiều thế hệ tiếp nối.

 

Tôi nhớ ở Tuy Phước (Bình Định) có nhiều thắng cảnh thiên nhiên rất đẹp, gợi cảm, dễ lôi cuốn lòng người như Kỳ Sơn, Phụng Sơn. Đặc biệt gần Kỳ Sơn có thôn Hoàng Mai rất xinh đẹp nằm ven triền đồi thoai thoải dưới chân núi Mai Sơn bốn mùa xanh thẳm. Chỉ riêng tên gọi Hoàng Mai thôn và tên núi Mai Sơn không thôi, đã gợi cho ta biết bao hình ảnh xinh đẹp khiến ta hình dung được một điều rất rõ là khu vực ấy có rất nhiều mai vàng. 

Ngọn Mai Sơn không lớn, cũng không có nhiều cây to nhưng sắc núi xanh thẳm quanh năm. Dưới chân núi Mai Sơn có ngọn suối nhỏ nước trong veo, chảy từ từ trong lòng cát trắng. Dọc suốt triền đồi thôn Hoàng Mai có giống mai vàng mọc thành rừng.  Mỗi độ Xuân về, cả một không gian rộng lớn chìm ngập trong sắc vàng tươi thắm của hoa mai. Điểm đặc biệt hơn nữa là dưới chân ngọn Mai Sơn, nằm giữa rừng Mai xinh đẹp là mộ phần của nhà văn, nhà thơ Đào Tấn (1845-1907)nhà viết tuồng người Bình Định nổi danh trên văn đàn Việt Nam hơn trăm năm trước

Chuyện kể về nhà văn Đào Tấn thì có nhiều huyền thoại đẹp lắm. Nhưng qua những tác phẩm của ông còn để lại cho đời, chúng ta có thể hiểu rõ được một điều, Đào Tấn là người yêu thích hoa mai rất mực. Ông không giải thích lý do, nhưng qua những sáng tác văn học, ta thấy ông yêu hoa mai như yêu quê nhà, như yêu bằng hữu. Và theo tôi nghĩ, rất ít có người yêu hoa mai, gắn bó và thủy chung với hoa mai như học giả Đào Tấn. Nhiều bài thơ ông để lại cho đời ẩn chứa sâu sắc những hệ lụy về kiếp sống mong manh của con người. Tôi xin trích mấy câu thơ ông viết với nội dung giống như một lời từ biệt. Giống như một di ngôn thì đúng hơn vì ông muốn mai sau, một khi vĩnh biệt cuộc sống, sẽ được an táng trong rừng mai sắc vàng muôn thuở tại quê nhà để ông được mãi mãi ở bên cạnh loài hoa vương giả mà suốt đời ông yêu thích và đắm say.

 

          Non mai vườn thọ tìm xong,

          Đá cao đứng tựa ung dung mĩm cười.

          Mai Tăng ngày gởi xương mai

          Hồn mai cùng giấc mộng dài nở hương.

                         (Bản dịch của Quách Tấn)

Những câu thơ tuyệt đẹp chất chứa những điều mơ ước đơn sơ nhưng sâu thẳm. Nhẹ nhàng như chính cuộc sống hiền hòa với lòng yêu mến thiên nhiên của nhà thơ. 

Trong 4 câu thơ trích dẫn trên, ta đã thấy Đào tiên sinh sử dụng đến 4 chữ mai. Điều đó cho thấy ông yêu mai biết là nhường nào. Màu sắc và vẻ đẹp đài các của hoa mai hình như đã thấm rất sâu vào dòng thơ và cuộc đời của Đào tiên sinh. Chữ Mai Tăng trong câu thứ ba chính là bút hiệu của Đào Tấn. Nếu có dịp được về thăm quê hương của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ. Có dịp về lại Tuy Phước đầu mùa Xuân để thăm viếng mộ phần nhà văn nổi tiếng Đào Tấn giữa rừng mai nở vàng. Chắc hẳn chúng ta sẽ vô cùng yêu mến nhà thơ hiền lành đã sống một đời phong nhã đầy lãng mạn giữa thiên nhiên với một cốt cách phi phàm. Đào Nguyên trong nổi nhớ của Lưu Nguyễn ngày xưa, trong mộng tưởng của nhân gian chắc cũng không có gì khác biệt với Hoàng Mai Thôn dưới chân đỉnh núi Mai Sơn của Đào Tấn. Ta thử nghe lại hai câu hát gợi hình tuyệt hay trong tuồng Trầm Hương của Đào Tấn đã để lại cho đời:

 

          Gió hương thổi lọt hoàng bào

          Kiều mai tuyết điểm động Đào giăng mây.

                                         (Trầm Hương. Đào Tấn)

 

Nếu không yêu hoa mai, chắc chắn nhà soạn tuồng Đào Tấn đã không lấy bút hiệu Mai Tăng, Mộng Mai. Nếu không yêu hoa mai, ông đã không có những bài thơ ca tụng vẻ đẹp thanh thoát của hoa mai. Và nếu không quý trọng hoa mai như một bằng hữu thì Đào tiên sinh đã không có những dòng thơ từ biệt giống như lời di chúc cho gia đình và bạn bè để mai sau một khi lìa đời, được gởi thân xác của mình trong rừng mai yêu dấu.

 

Quay về lịch sử Việt Nam, tôi không rõ có phải hình tượng bất phàm của hoa mai đã thấm sâu trong tâm hồn của Cao Bá Quát khiến ông nuôi mộng sông hồ, nung chí lớn, đứng lên chiêu binh mãi mã nhằm mục đích tiêu diệt triều đình nhà Nguyễn (1854) đang vào giai đoạn suy tàn. Ông muốn canh tân đất nước và thay đổi bộ mặt già nua của Vương quyền.  Mặc dù chí lớn không thành nhưng việc làm và mộng ước của ông đã để lại dấu ấn sâu đậm cho Văn học sử và lòng khâm phục cho hậu thế.  Sau lần bị bạn bè, thân hữu phản bội ở chốn trường thi, ông chán ngán tình đời nên rất e dè trong việc kết giao bằng hữu.

 

          Thập tải luận giao cầu cổ kiếm

          Nhất sinh đề thủ bái mai hoa.

                               (Chu Thần Cao Bá Quát)

 

Giữa chốn nhân gian mịt mờ sương khói. Mười năm ròng rã đi tìm bằng hữu tri âm sao khó khăn như đi tìm thanh kiếm cổ. Trong tứ hữu Mai Lan Cúc Trúc, hoa mai đứng đầu, chữ “hữu trong sử thi còn được hiểu là bạn của con người. Một loài hoa được xem là hoàng hậu trong muôn hoa và được coi trọng như một bằng hữu thì quả thật loài hoa đó không phải tầm thường. Một đời tài hoa như Chu Thần chỉ chịu bái phục đóa mai vàng lung linh giữa gió xuân thì hoa Mai càng không phải tầm thường. Tôi phân vân tự hỏi có phải nét thanh tân và ngạo khí ngất trời của mai vàng đã đẩy nhà thơ tài hoa Chu Thần Cao Bá Quát vào những bi lụy của thế tục và đưa Cao Bá Quát vào hệ lụy bi thảm nhất của kiếp người? Cao Bá Quát bị triều đình giết chết lúc còn rất trẻ (47 tuổi).

 

Đứng trên phạm trù xã hội, trong một chừng mực nhất định, dòng máu cao ngạo của Cao Bá Quát đã làm cho cành mai vàng thêm tươi đẹp và lộng lẫy hơn. Là người yêu hoa mai, yêu thiên nhiên và non sông hoa gấm của quê cha đất tổ. Nhưng hình như Chu Thần đã thấy trước được những bi lụy của kiếp ngươi, nên một lần tìm về núi Yên Tử để mơ giấc mơ Công thần Nguyễn Trãi thời trước. Ông đã mơ hồ thấy định mệnh khắc nghiệt của chính mình mai sau.

 

Trở lại với hoa mai. Mai mãn khai chỉ rực rỡ với đời trong vài ngày là rụng bay theo từng cơn gió đầu Xuân nhưng mầm sống kế tục đã bắt đầu bằng những nụ hàm tiếu sơ khai cùng những nụ xanh căng tràn nhựa sống, vươn lên mạnh mẽ với lá xanh mượt mà để nối tiếp những mùa Xuân bất tận. Màu hoa vàng rực rỡ, tươi thắm trong sắc xanh đang đâm chồi của lá, là hình ảnh của dòng thời gian vĩnh cửu và bất tuyệt. Ngoại trừ mai Trường An có đặc tính nở bốn mùa. Vòng sinh thái của Mai là một chu kỳ khép kín. Mai ra nụ, nở hoa là khởi đầu cho một năm mới trong vòng xoay của vũ trụ.

 

          Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận

          Tiền đình tạc dạ nhất chi mai

                               ( Mãn Giác Thiền Sư – Cáo Thị Tật Chúng)

 

Chớ ngại Xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước một cành mai

                    ( Bản dịch của Ngô Tất Tố)

 

Viết về mùa Xuân và hoa mai thì vô cùng, mặc dầu đã có biết bao nhiêu người đề cập đến từ cả ngàn năm nay. Tôi chỉ gợi lại một vài điển tích về hoa mai để thấy được phần nào bản sắc đặc thù của văn hóa Đông phương và tình tự dân tộc. Mùa Xuân và hoa mai là hình ảnh tiêu biểu cho hành trình thăng hoa trong vòng xoay của vũ trụ. Cho nên cứ mỗi độ Xuân về, mơ ước đầu tiện của tôi là có được một cành mai đầu mùa tươi thắm để cắm trên bàn thờ Gia tiên với lời nguyện cầu cho sự trường tồn, hạnh phúc, thăng tiến của đất nước và dân tộc.

 

Lê Tấn Dương

 

No comments: