Monday, February 9, 2026

NĂM ĐĂC TÍNH CỦA NGÔN NGỮ VIỆT (THẦY- ĐẶNG NGỌC SINH & GS. TRẦN NGỌC DỤNG / ĐỒNG BIÊN SOẠN)

 

Trong ch đ GII THIU NGÔN NG VIT NAM. Thy s có 3 phn: phn 1 Tóm lược lch s ch viết ca ngôn ng Vit Nam ( thy  đã gi).

Hôm nay thy gi phn 2 ch đ NĂM ĐC TÍNH CA NGÔN NG VIT ( Trích T Đin Chú Gii  thy và GS Trn Ngc Dng đang biên son)

 

 




NĂM ĐẶC TÍNH CỦA NGÔN NGỮ VIỆT
FIVE CHARACTERISTICS OF
THE VIETNAMESE LANGUAGE

       Ngôn ngữ Việt Nam có năm đặc tính. Đó là: 

      The Vietnamese language has five major characteristics:

A.  Đơn Âm Tiết – Monosyllabic

      Về phương diện phát âm, ngôn ngữ Việt Nam thuộc dạng đơn âm tiết. Mỗi chữ - dài hay ngắn - đều chỉ một vần.

      The Vietnamese language is phonologically monosyllabic. Each word – short or long – is implosively articulated as one syllable.


a) Vần ngắn – Short words:  A! Ê!  em   ma   co  ưng  ắp  nợ       

b) Vần dài – Long words:  huỳnh   phường  Nguyễn   khuynh   nguệch   nghiêng  không  khuếch  quãng  


      Chữ dài nhất có lẽ là chữ nghiêng với 7 mẫu tự, nhưng cũng chỉ gồm 3 âm [[ηieη]. Chữ ngắn nhất là một mẫu tự, như [a].

      The longest word in Vietnamese may be nghiêng ‘inclined, inclining’ with 7 letters; still it has three main sounds [ηieη]. The shortest word is a single letter. For instance: [ah].

B.  Thanh Giọng – Tonal

     Việt ngữ có sáu thanh theo thứ tự dưới đây và trong suốt quyển tự điển này: không dấu, dấu sắc, dầu huyền, dấu hỏi, dấu ngã, và dấu nặng. Các chữ có ă  â có thêm dấu gạch để cho biết luôn luôn cần mẫu tự phụ.

     Vietnamese has six tones whose order as found in alphabetized dictionaries is as follows: unmarked, high rising, low falling, low rising, high broken and low broken. (Words that are phonotactically non-existent are followed by an underscore):


a) không dấu – ‘unmarked’ (     )   ta      tă_     tâ_     te      tê     ti        to                                           tô      tơ      tu       tư       ty

b) dấu sắc – ‘high rising’   ( image.png)    ta     tắ_   tấ_   té      tế     tí     tó      tố       tớ      tú      tứ       tý

c) dấu huyền  – ‘low falling’  ( image.png )   ta       tằ__     tầ__      tè      tề      tì     tò     tồ tờ      tù      từ      tỳ

d) dấu hỏi –‘low rising’   ( image.png)   ta      tẳ__      tẩ__      tẻ   tể       tỉ       tỏ      tổ tỗ       tủ         tử        tỷ

e) dấu ngã – ‘high broken’  image.png )    ta      tẵ__  tẫ__   tẻ        tẽ  tĩ      tõ      tỗ tở       tủ     tử      tỹ  

g) dấu nặng – ‘low broken’  (image.png)    ta      tặ__    tậ__    tẹ     tệ tị       tọ     tộ tợ      tụ       tự      tỵ


     Những dấu này giữ vai trò quan trọng trong việc xác định nghĩa của mỗi chữ. Thay đổi dấu làm thay đổi nghĩa của chữ đó! Đã có nhiều nỗ lực thay đổi hay bỏ hẳn các dấu này nhưng vô hiệu. Dưới đây là vài thí dụ về các chữ có dấu khác nhau cho ra các nghĩa khác nhau. 

These tonal marks play a crucial part in denoting the meaning of a word. Changing the mark significantly changes the meaning! Many attempts have been made to get rid of all of the tonal marks but in vain. Here is how these marks affect the meanings:


   ba           bá              bà               bả           bã              bạ         or

‘three’    ‘cling’    ‘grandma’     ‘she’     ‘waste’     ‘record’

   ma         má    mà           mả               mã             mạ

‘ghost’   ‘cheek’   ‘but’      ‘grave’    ‘appearance’   ‘rice seedling’

C.  Cách Thể – Non-inflectional

     Mặc dầu chữ Việt đã được La-tinh hoá, nhưng không có hình thức tiếp đầu tố hay tiếp vĩ tố như nhiều ngôn ngữ châu Âu. Nếu có thì là một chữ trọn vẹn đứng trước hay đứng sau, gọi là tiếp đầu ngữ hay tiếp vĩ ngữ.

     Although the Vietnamese language has been romanized, it has no “real” prefixes or suffixes as do European languages. Everything comes in the form of a word, or more specifically, a one-syllable word!


                                        Verb:  gặp ‘to meet’

        Verb phrase:  gặp ông ấy ‘to meet him’

         Sentence: Tôi gặp ông ấy. ‘I meet him.’

                                      Adverb: đã ‘already’ 

                                                          sẽ ‘will’ (tense marker):

                        Tôi đã gặp ông ấy‘I already met with him.’

                         Tôi sẽ gặp ông ấy. ‘I will meet with him.’
                  Tôi đang gặp ông ấy. ‘I am meeting him now.’

                            Noun:   việc làm ‘job’

                                              bàn ghế ‘furniture’                     
                                      sự làm việc ‘working’

                             Adjective:   đẹp ‘pretty’  

                                                      new ‘mới’

                      Sentence: Hoa đẹp. ‘Flowers (are) beautiful.’

                              bộ bàn ghế mới.  ‘A new set of table and chairs’

                                  Adverb:   giỏi well’ 
                                      nhanh chóng ‘quickly’

                               Nam làm giỏi. ‘Nam works well.’

                           Cô ta làm việc giỏi. ‘She works well.’

    Anh ấy làm việc nhanh chóng. ‘He does the work quickly.’

                      Preposition:   trong ‘in’ >
                                            trong nhà ‘inside the home

                                                          tại  ‘at’ >

                                                   tại nhà ‘at home’


     Tóm lại, ngôn ngữ Việt không có lối biến thể như thêm -ed, -ing, hay số nhiều -s, -es như của tiếng  Anh.

     In brief, Vietnamese does not have any inflectional forms like –ed,  –ing, and the plural –s, –es and so forth.

D.  Tiền Vị Ngữ – Head Initial

     Ngoại trừ trường hợp dùng số đếm luôn luôn đứng trước danh từ, tất cả các chữ bổ nghĩa đều đứng sau danh từ chính. Các thí dụ dưới đây cho thấy sự đối nhau như hình bên ngoài và hình trong gương. Những chữ đậm là chữ bổ nghĩa cho danh từ đứng trước.

     Except for cardinal numbers, which always appear before a noun, all other Vietnamese modifiers follow the head-noun they modify. The following examples show how the modifiers of the two languages mirror. The terms in bold type are modifiers:

                                                nhà ‘house’

                                     nhà mới  ‘new house’

            nhà mới màu trắng  ‘new white house’

                                                   xe  ‘car’

                                             xe   ‘old car’

                              xe cũ rẻ tiền  ‘inexpensive old car’

              xe cũ rẻ tiền màu đỏ  ‘red inexpensive old car’

E.  Ngôn Ngữ Tổng Hợp – Synthetic Language

      Ngôn ngữ Việt Nam là loại theo thứ vị. Thay đổi vị trí của chữ trong câu làm thay đổi nghĩa của cả câu. Ngoài ra, ngôn ngữ Việt phản ảnh tính cách duy tình của người Việt cùng với tính cách tổng hợp nội dung.

      Vietnamese is a word order language. Switching the position of a word in an utterance or a sentence generally means changing the context. In addition, this reflects perfectly the sentimentalism of the Vietnamese people: contextual and synthetic.

   1) Ngôn Ngữ Thứ Vị – Word Order Language

      Việt ngữ là thuộc dạng thứ tự. Nói cách khác, mỗi chữ trong một câu đóng vai trò riêng để diễn tả ý nghĩa nào đó của toàn câu. Thay đổi vị trí của một chữ có thể làm đổi nghĩa của nguyên câu. 

      Vietnamese is a word order language. In other words, words in a sentence play important roles in conveying their parts to complete the idea conveyed by the sentence. Changing the position of a word in a sentence would change the meaning of such  sentence:


Mẹ tôi đến thăm bà Ba‘My mom came to see Mrs. Ba.’

Bà Ba đến thăm mẹ tôi. ‘Mrs. Ba came to see my mom.’

Bé Tý thích con vịt. ‘Little Jill likes ducks.’

Bé Tý thích vịt con‘Little Jill likes ducklings.’

2)   Ngôn Ngữ Nội Dung – Contextual Language

      Ở chừng mực nào đó, Việt ngữ mang tính cách đẳng cấp và nội dung khá cao. Vì lý do này mà nhiều nhà ngữ pháp học cho rằng tiếng Việt không có văn phạm hay rõ hơn, không có từ loại. Hãy xem mẩu đối thoại dưới đây:

     To some extent, Vietnamese is highly hierarchical and contextual. For this reason, many grammarians maintain that the language has no grammar, or peculiarly, no word classes. Let’s view these dialogs:


AThưa bác, ở đây có ai tên Nam không ạ‘Sir/Ma’am, is there anyone named Nam here?’

B: Có. Cậu hỏi làm gì? ‘Yes. What do you want him for?’

A: Cho cháu gặp được không? ‘Can I see (him)?’

B: Nó không có nhà. ‘He’s not home.’


       Theo mẩu đối thoại trên, A rõ ràng là người nhỏ tuổi hơn người được hỏi là B. Chữ Bác dùng để chỉ người thân trong gia đình nay được dùng để nói chuyện với người ngoài với thái độ kính trọng. Trong khi đó B thì gọi người A là cậu vì B khá lớn tuổi hơn A. Qua cách dùng chữ đã thấy rõ vai vế thấp cao giữa hai người.

      According to the conversation, A appears to be a person much younger than the addressed. Bác is a term for kinship used to call a stranger to show respect to the elderly. B calls A cậu because he is much older than A. The use of the term indicates the hierarchical role between the two. 


C: Chị ơi, có Bình ở nhà không? ‘Hi sister, is Bình home?’

D: Mới về, ăn ba miếng, đi lại rồi. ‘Just came home, ate some then left.’ (He just came home, ate something then already left.) 

C: Chị biết mấy giờ Bình về không? ‘Do you know when Bình will be back?’

D: Ai mà biết. ‘Who knows?’ (I don’t know/I have no idea.)


      Qua mẩu đối thoại trên câu trả lời của D không có chủ từ. đây gọi là “chủ từ rỗng” nhưng người nghe vẫn hiểu. Câu nói cuối cùng “Ai mà biết” với ý nói là “Tôi không biết.” Hoặc:

      In this conversation, D’s answers have no subject. This is called “empty subject” and listeners are supposed to understand what the subject should be. The last utterance “Who knows” implies that “I” don’t know.” Or


Đang làm việc nói chuyện lâu không được. ‘Working cannot talk very long.’ (I) am working now; we can’t have a long conversation.)

Tát cho một cái bây giờ! ‘Give a slap at the face!’ (Behave! Otherwise I will give you a slap in the face.)

    Hai câu trên hoàn toàn không có chủ từ nhưng vẫn được hiểu một cách rõ ràng và chính xác. Ngôn ngữ gì mà kỳ quá!

   These sentences don’t have subjects; still, they are understood very well by the listener. What a language!

3) Tính Chất Bao Hàm – Implicative Characteristic

     Không giống tiếng Anh nặng phần phân tích, tiếng Việt mang tính chất bao hàm cao. Thí dụ giáo dục theo định nghĩa của Random House “là sinh hoạt có hai mặt: thu thập và trau giồi kiến thức, phát triển khả năng phân tích và phán đoán, và nói chung là giúp cho người ta có cái tri thức khi trưởng thành.” Trong khi đó giáo dục trong tiếng Việt có hai phần: giáo ‘trao truyền kiến thức, và dục nuôi dưỡng về mặt vật chất.’ Tương tự, ngăn chặn vừa có ý phòng bị lẫn chận đứng không cho việc gì đó xảy ra và nếu xảy ra thì phải làm cho việc đó chấm dứt.

     Unlike English, which is more analytical, Vietnamese is highly implicatory. For ‘education’: the act or process of imparting or acquiring general knowledge, developing the powers of reasoning and judgment, and generally of preparing oneself or others intellectually for mature life (Random House Dictionary, 3rd edition, CD rom, 1993), one can find just a half of its equivalent in Vietnamese: giáo dục. The term giáo dục has two parts: giáo ‘to train one’s knowledge’, and dục ‘to nurture one’s physical growth’. Or another: ngăn chặn ‘prevent and stop’ is a term for two ideas: ‘preventing someone from doing something or something to happen, and terminating someone’s action or something that is happening.’


      Tóm lại, ngôn ngữ Việt Nam có nhãn quan bao trùm trước rồi từ từ thu hẹp lại để có cái cụ thể.

      In short, the Vietnamese language views things from a broader range and gradually narrows them down to a focused existence.

HỆ THỐNG CHỮ VIẾT – THE WRITING SYSTEM

Bảng Mẫu Tự – The Alphabet 

       Bảng mẫu tự tiếng Việt có 29 mẫu tự – 12 mẫu tự chính và 17 mẫu tự phụ. Tuy nhiên có nhiều chữ mượn của ngôn ngữ châu Âu nên có thêm 4 mẫu tự nữa – F, J, W, Z được thêm vào để “chuyển tự” nên bảng mẫu tự mở rộng có tất cả 33 mẫu tự.

       Vietnamese basically has 29 letters – 12 single vowel letters and 17 single consonant letters; then 4 additional letters (in frame) are added to transliterate words borrowed from European languages, making the extended alphabet of 33 letters:

Aa   Ăă   Ââ   Bb  Cc   Dd  Đđ  Ee  Eê       Ff     Gg       Hh  Ii     Jj     Kk  Ll    Mm Nn  Oo  Ôô      Ơơ Pp  Qq     Rr Ss    Tt   Uu  Ưư Vv    Ww   Xx      Yy   Zz 

 Chữ Hoa* – The Cursive Form  

image.png

       Dưới đây là 12 chính tự : The 12 vowel letters are:  

12 mẫu tự chính này gồm 11 âm chính vì trong nhiều trường hợp I và Y là đồng âm.

       These 12 vowel letters comprise 11 vowel sounds, as the and y are đồng âm ‘homophones’ in many cases:

     a     ă     â     e     ê     i     o     ô     ơ    u    ư    y

      Bảng Âm Chính –The Vowel Sounds Chart

image.png

Ghi chú đặc biệt – Special note:

       Các mẫu tự sau OÔ và U có ảnh hưởng sâu đậm tới vài phụ tự cuối như _C, NG và phụ tự đầu PH_[f] > [ф]: pho, phô, phu. They bi-labialize these final consonants.

       The back vowels O, Ô and U have a crucial impact on a number of final consonants; especially on the final consonant letters _C and _NG, and the initial PH_ [f] > [ф] in pho, phô, phu. Các phụ tự cuối này đều bị âm môi hoá khi theo sau ba chính tự này.

Các phụ tự – The consonant letters

      Excluding the four additional letters – f, j, w, and  the 17 remaining consonant letters are:

b        c       d       đ       g       h       k       l       m      n        n        p      q       r       s        t       v      x 

Mẫu Tự và Âm – Letters & Sounds

              Mặc dầu tiếng Việt rất thuần nhất về cách đọc, nhưng
giữa cách đọc và cách viết nhiều khi cũng hơi khác. Do đó
điểu cần thiết là phải nắm vững sự khác nhau giữa mẫu tự và âm mà chúng được dùng để làm tiêu biểu. Chỉ cần kiên nhẫn một chút và sau bốn tiểu mục hướng dẫn này người học sẽ biết đọc TẤT CẢ các chữ Việt.

      Although the Vietnamese language is highly phonemic, the spelling of a word may be different from its pronun- ciation. It is a good idea to master the distinction between the letters and the sounds they represent. With a little hard work by the time a learner finishes four units s/he will definitely be able to read all Vietnamese words!

CHÍNH TỰ VÀ CHÍNH ÂM – THE VOWEL LETTERS & SOUNDS

  These 12 vowel letters comprise 11 vowel sounds:

     a     ă     â     e     ê     i     o     ô     ơ    u    ư     y

    [a]   [ɐ]    [ɤ]    [ɛ]     [e]   [i]     [כ]    [o]    [ǝ]    [u]  [ա]  [i, ij]

Ghi Chú 1 – Notes 1:

      Hai mẫu tự ă  â có âm là [ɐ] và [ɤ] được gọi là mẫu tự khuyết vì chúng không bao giờ:

       The two letters in frame – ă and â – are called ‘bound vowels’ for they never :

   ađứng một mình ‘stand alone by themselves as words’

 b) đứng cuối chữ (hay từ ) ‘occur at the end of any  words’.

PHỤ TỰ VÀ PHỤ ÂM ĐẦU – THE INITIAL CONSONANT LETTERS & SOUNDS

      Cách gọi tên những ký hiệu trong hệ thống ngữ âm tiếng Việt.

      General terms used for Vietnamese sound system:

Không kể 4 mẫu tự thêm vào – f, j, w, z, 17 mẫu tự phụ còn lại là:

Excluding the four additional letters – f, j, w, and  the 17 remaining consonant letters are:

image.png

Có 11 cặp phụ tự gồm 9 cặp phụ tự ghép hai, 1 cặp ghép 3 và 1 cặp mẫu tự phụ ghép 2. 10 cặp ghép này đọc thành 1 âm. Chỉ có cặp mẫu tự phụ ghép 2 đọc thành 2 âm. 

There are 11 compound consonant letters; most of them are - phụ tự ghép ‘digraph’ or ‘trigraph’ (A digraph hoặc trigraph là hai hoặc ba mẫu tự ghép lại với nhau nhưng đọc thành 1 âm: mea[mit]; ghost [gost], ghe [gε] nghe [ŋε], except qu_ [kw] is a consonantal cluster, called dyad (hai mẫu tự ghép và đọc thành 2 âm: > qua [kwa:], as in English quick, queen, quail, ...):

  ch    gh    gi    kh    ng    ngh    nh    ph    qu   th   tr        

Trong số 17 phụ tự đơn và 11 phụ tự ghép, TÁM phụ tự đơn lẫn ghép là phụ tự cuối.

Of   the 17 single consonant letters and 11 compound ones, EIGHT can occur finally:

   _c    _ch  _ng _nh _m   _n    _p    _t

image.png

Có cả thảy 17 phụ tự đơn và 11 phụ tự ghép tạo thành 23 âm phụ.

The 17 consonant letters and 11 compound ones comprise 23 consonant sounds:

image.png

Dưới đây là bảng mẫu tự đầy đủ với tên gọi và cách đọc.
The chart below is the complete alphabet with their names and pronunciation keys:

image.png

Thí dụ về những chữ dùng f, j, w, z: Examples of terms using f, j, w, z:

100 Fr.  Pháp, 1500 joule,  120wat, số zero (0)



No comments: