Thursday, May 3, 2018

GẶP LẠI THẦY XƯA (Quang "già")



GẶP LẠI THẦY XƯA
“Gặp Lại Thầy Xưa” là  hồi ký của một học trò tình cờ
nhận được tấm ảnh của những thầy cô cũ.   Anh Quang
“Già” đã viết lên ký ức của mình thời học sinh của một
trường Công Giáo, là nơi thầy cô rất khắt khe, nhưng
những kỷ niệm đó cho anh những kinh nghiệm quý giá và
cảm thấy thương mến thầy xưa của mình, và người thầy
đó chính là OX của Thukỳ, Nguyễn Thế Sáng khi anh dạy
học lúc còn là sinh viên của trường Quốc Gia Hành
Chánh.

*****
Em (Quang già) xin cảm ơn cô Oanh đã gửi một tấm ảnh xưa, đẹp và dễ thương, ngày Cô Thầy “mần” Cô Dâu Chú Rể. Đã nhiều năm trôi qua , cô Oanh vẫn còn giữ nét xinh xinh như ngày trước (lời bà Quang già nhận xét).

Trong tấm ảnh các Thầy tươi trẻ, trang nghiêm với nụ cười hiện ra từ ánh mắt: thầy Nguyễn Thế Sáng trẻ trung với bộ vest “à la mode française”, một vị Thầy nghiêm nghị, đầy tận tâm, sẵn sàng chia sẻ kiến thức từ học đường đến xã hội, khoa học thế giới như Apollo 11 đổ bộ lên chị Hằng ( O7/20/69), truyện kiếm hiệp Kim Dung “Cô Gái Đồ Long”, Đức Quốc Xã với Hitler trong Đệ Nhị Thế Chiến...từ lúc đó , học trò của Thầy có đứa  mang tên “Hít-Ne” (vì nó tên là Đức).

Thời học sinh có nhiều kỷ niệm đẹp, chuyện thầy, chuyện cô và bạn hữu... tiêu biểu có câu chuyện về bạn học cùng lớp, bên cạnh nhà, trong xóm có tiếng là học trò lục lăng (tiếng Miền Tây), một hôm hổng thuộc bài, bị thầy cho ăn hèo (hổng phải là cho ăn hèm nghe), gặp phân bua như: "quên học bài bị ông Thầy oánh banh càng, xém một chút là bàn tọa nở hoa"!...
Quang "già" ngày xưa
Tui đây là dân Cầu Muối, dân chơi Cầu Ba Cẳng, dân “tát-to” cũng phải sợ, ông Thầy dữ quá phải bỏ lớp ra đi...dân tát-to?

“Tat-too”  là dân xâm mình đó, tui xâm cả hai tay & ngay sau lưng với vài hàng chơi nè:

Chịu chơi chơi tới cùng
Một đi không trở lại
Trốn rồi không tìm được.

Hai ngày sau, gặp ngay bạn CHS Đồng Tâm đang đưa tay vẫy chiếc xe đò Gò Vấp -Hóc Môn từ xa tiến đến. Bước nhanh tới hỏi’ “Đi đâu vậy?”
”Đi học!”, rồi chỉ tay vào túi áo có phù hiệu trường Hoàng Gia Huệ.
- Học trường Hoàng Da Heo hả?
Nhà Thầy ở Trung Chánh,Trung Mỹ Tây, từ đó bước đến trường Hoàng Da Lợn, gia heo gì đó độ chừng vài phút, lúc đó Thầy sẽ tìm mầy vì bỏ học & nói xấu ... , với câu trả lời ngằn:- trốn nữa, người bạn CHS Đồng Tâm bước lên xe đò đưa tay từ biệt.
Tình là C'est l'amour
Đời là C'est la vie
C'est bon , C'est fini.

Trốn rồi không tìm được!
Đúng như vậy, từ năm 1971, Thầy lặng lặng bước đi, vào buổi đất nước loạn ly đến sau ngày Trời sập , không tín tức gì. Gặp bạn bè trong nước & hải ngoại đều hỏi thăm Thầy giờ này ở mô?  Tất cả với một câu trả lời “ne-pas”, biệt tăm, biệt tích, mãi đến cách đây 3 năm bạn bè được tin Thầy Cô.

CHS. Đồng Tâm vui mừng gặp nhau như ngày hội trên FB khi biết tin Thầy được mạnh khỏe. Thầy Cô định cư ở tiểu bang mang tên thành phố biển & du lịch. Biển trời hữu tình , đầy thơ mộng. Người ta cất chòi bên suối , Thầy Cô cất nhà bên biển.
Cuộc sống Thầy bình thản, ngày bơi lội, trưa từ ban công nhìn ra biển ngắm cảnh chim bay, cá nhảy; xa hơn một chút thấy Cuba, nhìn lâu một lát chỉ thấy trời, biển nhớ lại ngày xưa ở quê nhà đi dạy lũ học trò dăm bảy tám chục đứa nam 11,12 tuổi: “½ người, ½ ngợm, ½ đười ươi!”

Theo Tử Vi, luật tuần hoàn, thuyết hợp tan , Thầy trò chúng ta sẽ có ngày Tái Ngộ ... Why?
-Vì 3 năm nữa, đúng 50 năm.
Một lời nguyền năm xưa , sẽ trở về khi không còn bóng dáng “charlie”. Vẹm đã biết thành người vẹm , trở lại kiếp vẹm là điều khó thấy. Bùa mở tiệm Nail phát đạt, bùa bán nhà ... qua đại dương đều kém hiệu nghiệm của nó.

Kính chúc Thầy Cô & quý bạn nhiều vui , sức khỏe tốt... Hẹn Ngày Tái Ngộ.

Kính tặng bạn hữu , Thầy Cô
-Dạy một ngày dưới mái trường Đồng Tâm là Thầy, là Cô
-Học một ngày dưới mái trường Đồng Tâm là anh, là chị, là em.  
                      
CHS Đồng Tâm.

Quang “già”
Quang "già" ngày nay

ĐỌC TRANG CÁO PHÓ (Tuyết Vân)



Đọc Trang Cáo Phó

Tuyết Vân

Cũng trên mười năm nay tôi có thói quen mở tờ báo ra là đọc trang cáo phó trước hết.  Đối với tôi đọc trang cáo phó cũng thú vị như đọc một câu truyện.  Nói chữ thú vị thì cũng hơi quá đáng vì đây là sự mất mát người thân của một gia đình. Nhưng chữ thú vị tôi  dùng đây là một sự tôn vinh cho cuộc đời người đã khuất và gia đình của họ.

Tôi bắt đầu đọc từ lúc ở hãng ông chủ tôi có đặt mua báo LA Times để nhân viên đọc trong giờ giải lao. LA Times là tờ báo lớn. Trang cáo phó cũng lớn và in có nhiều màu sắc.  Hôm đó khi ra phòng giải lao uống cà phê tôi chú ý đến trang cáo phó có đăng hình một anh thủy thủ Mỹ rất dễ thương, tuổi độ khoảng hai mươi. Nhìn hình thì biết đó là người của những thập niên về trước. Đọc đến thì biết là người mất đã trên chín mươi. Tấm hình đó là khi anh vừa mới vào hải quân. Trang cáo phó dài viết lai lịch cuộc đời thuỷ thủ của anh qua mấy cuộc chiến và cuộc đời dân sự của anh sau này. Đọc trang cáo phó anh thay vì thấy buồn thì lại thấy vui và ngưỡng mộ cho cuộc sống dài anh trải qua với nhiều kinh nghiệm thử thách.
Và bắt đầu từ đó tôi luôn đọc trang cáo phó trước khi đọc những bản tin ở trang đầu.  Những người nổi tiếng trong xã hội thi trang cáo phó có nhiều chi tiết đã đành nhưng cũng có những người chỉ ngày hai buổi đi làm như chúng tôi đây cũng có những trang cáo phó đầy màu sắc linh động.  Như hôm nọ đây trang báo nói về cuộc đời một cụ bà tuổi trên chín mươi.  Bà di cư đến Mỹ sau đệ nhị thế chiến. Con trai bà là cựu quân nhân Việt Nam và cháu bà là cựu quân nhân trong cuộc chiến ở Trung Đông. Bà luôn tự hào con cháu bà đã đóng góp cho đất nước đã từng cưu mang gia đình bà.

Khi biết Người Việt On Line thì tôi vẫn giữ thói quen đọc trang Cáo Phó trước. Cũng nhờ vậy tôi thấy được cáo phó của ba người quen với gia đình chúng tôi đã đăng trên đó. Hai chị em tôi tới nhà quàng thăm họ.  Đám tang thì buồn những cái vui gặp lại người quen nhất là gặp ở tuổi đã lớn sau bao nhiêu năm xa cách thật hạnh phúc.  Bây giờ ở tuổi chúng tôi hình như nghe tin buồn nhiều hơn tin vui. Lớp con cháu đã lớn và lập gia đình.  Những người già còn lại từ từ ra đi. Cát bụi đã mệt nhoài (Trịnh Công Sơn).
Khi nào tên của người đã mất có thêm cụ ông hay cụ bà thì tôi cũng mừng một chút. Mừng vì cuộc đời người đã mất cũng phải là khá dài.  Gia đình người mất chắc cũng không phải đau đớn lắm. Nhưng nếu tên không có thêm những chữ đó hoặc có chữ em thì lòng tôi chùng lại. Người mất ra đi ở cái tuổi còn sớm. Gia đình chắc hẳn là phải xót xa.  Có gia đình con cháu đầy đàn nhưng cũng có gia đình neo đơn, con cháu ít. Tôi ước gì có thể gửi những gia đình neo đơn đó cái siết tay để nói lên lời chia xẻ thầm lặng của mình.

Mỗi một trang cáo phó đều cho tôi một câu chuyện. Tôi hay chú ý nhiều đến những người quê ở miền bắc như Phú Thọ, Sơn Tây, hay Thái Bình. Đó là những cái địa danh mà tôi biết được từ những cuốn sách đọc trên Tự Lực Văn Đoàn những năm Trung Học. 

Những người này đã phải hai lần ty nạn bỏ quê mà đi.  Có người mất đã từng là trong binh chủng Việt Nam Cộng Hoà.  Người lính năm nào bây giờ đã ra đi rồi.  Anh đã có những năm tháng bính lửa cùng với đồng đội mình.  Anh cũng có những khắc khoải khi xa gia đình vợ con và những cay đắng ngục tù sau năm bảy lăm. Cuộc đời khép lại. Những lớp con cháu lớn lên và cuộc hành trình lại bắt đầu.

Đôi khi đọc trang cáo phó nhưng nó không nằm ở trang cáo phó mà nó thuộc loại tưởng nhớ hay hồi tưởng.  Như vừa mới đây tôi có đọc những bài tưởng nhớ đến Trần Phong Giao hay Duyên Anh, Dương Nghiễm Mậu và Võ Hồng.  Đọc và cảm động lắm bởi vì bài viết không phải chỉ cho người mất mà còn có tác giả và những nhân vật nhà văn nhà thơ hay nhà báo được nhắc đến nửa. Trong đó là những câu chuyện thân tình riêng tư, rất riêng tư,  mà chỉ qua những bài viết như thế này người đọc mới biết được thêm. Tôi trân trong những câu chuyện như vầy lắm. Một đôi khi tôi có gửi comment cảm ơn. Tôi nhìn thấy những dấu giày của họ bước đi. Và tôi cũng nhìn thấy ngay cả dấu giày của tôi nữa. Phải rồi, tôi có đi qua cái quãng thời gian đó. Bây giờ quay quắt nhìn lại đã mấy mươi năm. Có phải nhà báo Bùi Bảo Trúc  đã nói chuyện mình bây giờ sao lại giống chuyện của người ly hương xưa?

Hình như ai cũng có một cõi trở về giống nhau. Có lẽ trang cáo phó là nơi để vinh danh cuộc đời người đã mất.

TUYẾT VÂN

EM ĐI TÌM MÙA THU (Diệu Lam)

“Em Đi Tìm Mùa Thu” nhạc phẩm êm ái, du dương đầy xúc cảm mà Diệu Lam mới sáng tác: “Mùa Thu bao giờ cũng là mùa của thi nhân. Nhưng cũng là mùa của .. Nông dân. Diệu Lam thích làm vườn vô cùng. Có lẽ lúc còn nhỏ, Lam sống gần gũi với Đồng Quê. Ba hay đưa Lam về Phú Lộc và Phú Ân để thăm Ông Ba Nội, Bà ngoại... Những cánh đồng lúa màu vàng, đẹp lắm các bạn ạ. Có bao giờ các bạn thấy ruộng lúa chín, mùa gặt không? Ở đây, Mùa Thu cũng là mùa để người ta ươm những hạt giống. Hoa Tulip, hoa xuân”. Đó là nguyên nhân bài hát ra đời.

Mời quý anh chị bấm vào hình dưới để thưởng thức một sáng tác mới
của Diệu Lam.




Cũng xin bấm vào hình dưới để đọc bài thơ “Thu” của Diệu Lam:


NGƯỜI VIỆT SAN FERNANDO VALLEY TƯỞNG NIỆM QUỐC HẬN (Sĩ Lương)



Hình ảnh lễ tưởng niệm Quốc hận 2018 của hội cựu chiến sĩ VNCH vùng San Fernando Valley.

Kính thưa quý thầy cô & các anh chị,

Vào ngày 30 tháng Tư vừa qua hội người Việt tại San Fernando Valley do anh Sĩ Lương (cựu HSNH)  làm chủ tịch, đã tổ chức lễ tưởng niệm Quốc hận, cùng với hội cựu chiến sĩ VNCH tại đây.

Với sự tham dự đông đảo của cộng đồng người Việt, và chính quyền địa phương, buổi lễ thật trang nghiêm, ý nghĩa.


Kính mời xem một số hình ảnh sẽ làm chúng ta vô cùng xúc động, xin bấm vào web chữ đỏ để xem thêm hình.

Chủ tịch Sĩ Lương.



























Xin bấm vào web chữ đỏ để xem thêm hình.




Xin bấm vào để thưởng thức nhạc phẩm “Thề Không Phản Bội Quê Hương”


TÁC GIẢ BÍ ẨN CỦA "THUYỀN VIỄN XỨ" (Trần Nguyễn Anh)



Tác giả bí ẩn của 'Thuyền viễn xứ'

TP - Lúc sinh thời, Phạm Duy rất tâm đắc tác phẩm “Thuyền viễn xứ” mà ông phổ nhạc từ bài thơ của một thi sĩ ẩn danh - bút danh Huyền Chi. Huyền Chi là ai và cô đang ở đâu?
Tôi đã gặp Phạm Duy lúc ông về Việt Nam, trong ngôi nhà khá vắng người, ông nói: “Bài nào viết ra tôi đều thích cả, nhưng trong đó “Thuyền viễn xứ” là một trong những bài tôi thích nhất. Tiếc là tôi không gặp lại được tác giả bài thơ hay đó. Nó là kỷ niệm của một thời đất nước loạn ly, những kẻ xa quê lòng luôn hướng về quê cha đất tổ”.

Nói về thơ và nghệ thuật làm thơ, nhà thơ Huyền Chi cho biết: “Tôi thích tất cả các nhà thơ. Trong thơ, tôi rất trọng vần điệu. Không có bài nào của tôi không có điệu. Có người hỏi tôi thế nào là bài thơ hay?  Tôi nói rằng: ý thì nhiều mà không có vần điệu thì bài thơ vẫn phải là bài thơ hay. Trong thơ phải có nhạc. Không có vần điệu, thơ chỉ như câu văn ngắn, không phải thơ. Có vần điệu mới có nhạc, có thơ”.


Tranh: Nguyễn Văn Hổ.


Một đời ẩn dật
Có một vài bài báo viết về tác giả Huyền Chi nhưng việc gặp được bà không hề dễ dàng bởi hầu như chưa bao giờ thấy Huyền Chi xuất hiện trong một sự kiện âm nhạc hay thơ văn nào mấy chục năm qua. Một lần tình cờ, một nghệ sĩ nhiếp ảnh là con người bạn của bà Huyền Chi nói với tôi về tác giả “Thuyền viễn xứ”: “Theo mình biết, cô Huyền Chi vẫn làm thơ, nhưng cô ấy không xuất bản”.

Nhờ có sự giới thiệu, tôi đã tìm gặp được tác giả bài thơ đã trở thành lời nhạc đi vào lòng nhiều thế hệ, nhưng vừa gặp cô đã bảo: “Tôi chẳng có gì mà kể cả đâu”. Rồi câu chuyện trở nên nóng hơn xung quanh tập thơ duy nhất ấy. Cô bảo: “Từ năm 1975 tới nay tôi thất lạc tập thơ của mình và cũng chẳng hy vọng một ngày lại nhìn thấy nó. Sau khi chồng tôi mất, tôi buồn lắm, các con tôi bảo tôi nên chơi facebook. Tôi vào thế giới ảo, không lấy tên thật, nhưng có đưa tác phẩm của mình lên, ấy thế mà một số bạn đọc nhận ra tôi và họ từ Mỹ gửi tặng tôi một bản phô tô tập thơ của mình. Tôi không còn gì sung sướng hơn khi hơn 40 năm mới nhìn lại tác phẩm tâm huyết của cuộc đời mình, dù chỉ là bản phô tô từ giấy in rất xấu thời đó”.

Tác giả Huyền Chi năm nay đã 84 tuổi. Cô vẫn dạy Anh văn, một cách để rèn luyện trí nhớ, theo cách cô nói. Cô vẫn làm thơ, viết hồi ký, nhưng không phải để in mà để ghi lại những nỗi lòng mình. Cầm tập thơ của mình trên tay, cô lật giở cho tôi đến trang thơ in bài “Thuyền viễn xứ”. Giọng đọc của cô du dương, vần điệu, nhưng rất khúc chiết, mạnh mẽ:
Lên khơi, sương khói một chiều
Thùy - dương rũ bến tiêu - điều ven sông
Lơ - thơ rớt nhẹ men lòng
Mây trời pha dáng lụa hồng giăng ngang
Có thuyền viễn xứ Đà - Giang
Một lần dạt bến qua ngàn lau thưa
                        (Thuyền viễn xứ)
 
Thi sĩ Huyền Chi (12/2017). Ảnh: Trần Nguyễn Anh.
Lòng già mong con
“Những năm 1951-1952, lúc ấy cô làm thư ký tòa soạn mục thơ cho một tờ báo, cô vừa làm vừa học. Lúc đó cô có in tập thơ đầu tiên. Thình lình ông Phạm Duy vào. Ông ấy quen bà chủ nhà in, bà ấy giới thiệu. Cô mới đưa cho ông tập thơ vừa in xong. Ông Duy mới nói cô viết ký tặng cho ông ấy và sau này ông thích ông sẽ xin phép phổ nhạc. Đó cũng là lần gặp gỡ duy nhất giữa hai chúng tôi”. Tác giả “Thuyền viễn xứ” kể về những ngày tháng lúc cô mới 18 tuổi và tự bỏ tiền ra in tập thơ đầu tiên.
Một nhà thơ nữ mới 18 tuổi đã in thơ, phụ trách mục thơ của một tờ báo là chuyện khá hiếm vào những năm 1950. Thi sĩ Huyền Chi yêu thơ từ nhỏ: “7 tuổi đã biết chép thơ rồi” – cô nói. Bố cô làm giám đốc hỏa xa 3 tỉnh, ông tên Hồ Văn Ánh. Cô quê gốc Bắc Ninh, sinh năm 1934, khi ấy ông cụ do công việc duy trì đường hỏa xa, ông đi từ Bắc vào Nam. Đi tỉnh này mấy năm, qua tỉnh khác mấy năm. Sinh cô ở Sài Gòn mà gia đình thì ở Phan Thiết. Ông cụ yêu thơ nên đặt tên các con là Nghiên, Thư. Đến cô con gái nhỏ này ông đặt tên là Hồ Thị Ngọc Bút. Cô bảo: “Khi làm thơ, ban đầu tôi lấy bút danh Khánh Ngọc, sau đó lấy bút danh Huyền Chi”.

Cuộc đời gia đình cô ly tán như biết bao gia đình thời kỳ chống Pháp. Cô kể: “Cha cô về Bắc và chết ngoài Bắc năm 1947. Ngoài Bắc khi ấy còn bà nội ở Bắc Ninh. Bà hấp hối, kêu cả nhà về. Lúc đó anh của cô bị bệnh, má cô nói là để về sau, để chồng ra Bắc trước. Ngoài Bắc có chiến sự giữa Việt Minh và Pháp, cha không vào Nam được. Năm 1954 cha viết thư vào bảo “Mình (má cô) phải về, con thì đứa nào về được thì về”. Lúc đó mình má cô về Phù Lưu (Bắc Ninh). Sau bà cụ mất trước, bà cụ mất sau. Còn cô thì ở lại Sài Gòn, cha mẹ mất mà không nhìn thấy mặt”.

Về bài thơ, tác giả cho tâm sự: “Cô buồn mà viết bài đó, trước khi sông Gianh chia đôi đất nước. Cô viết khoảng năm 1951-1952. Đà Giang là mình tưởng tượng thôi, chứ lúc viết thì không ra Bắc được. Hồi đó chính trị khó khăn nên mình không nói rõ hết mọi sự về thân phận của cô là người gốc Bắc”.
“Có người nghe bài hát của Phạm Duy phổ nhạc, hỏi rằng “cố lý” có phải một địa danh ở Bắc không, xin thưa, cố lý chỉ có nghĩa là quê xa thôi. Phù Lưu, Bắc Ninh mới là quê của tôi. Lúc nhỏ vì bố làm nghề hỏa xa nên năm nào cũng được ra Bắc nghỉ hè, về quê. Trong bài hát có hình ảnh mái đầu bạc là mô tả mẹ của cô”.

“Sáu mùa mưa gió phũ phàng
Bến sông quay lại hướng làng nẻo xa
Lệ nhòa như nước sông Đà
Mái đầu sương tuyết mẹ già mong con”.
                                                 (Thuyền viễn xứ)

Cô Huyền Chi trầm ngâm: “Sau khi nhận thư của bố tôi bảo má tôi phải ra Bắc, bà đã bỏ sạp vải trong chợ Bến Thành ra với chồng, kể từ đó, tôi một thân một mình ở Sài Gòn, thương cha, nhớ mẹ, một mình lủi thủi nơi đất khách quê người. Tôi lập gia đình và bỏ luôn nghiệp làm thơ vì phải bận rộn cùng chồng nuôi 7 đứa con dại”.
 
Tác giả bài viết và nhà thơ Huyền Chi.

Một đời ẩn dật
Năm 1954 thi sĩ lập gia đình khi mới đôi mươi. Chồng nhà giáo, đông con, phải giúp chồng làm kinh tế. Cô mở hiệu sách bán và dạy Anh văn.
Trong cuộc đời ta, ai cũng muốn trở thành người nổi tiếng và nổi tiếng đôi khi cũng có nhiều cái lợi. Huyền Chi không nghĩ như vậy. Cô bảo: “Tôi rất sợ hư danh, tôi không muốn nổi tiếng. Sau khi Phạm Duy phổ nhạc, bài hát rất nổi tiếng, những bản in của bài hát được bán khắp nơi, ai cũng hỏi Huyền Chi là ai vậy? tôi không bao giờ xuất hiện và tôi cũng không nhận một đồng tác quyền nào từ bài hát này trước 1975, mặc dù tôi biết rằng số tiền nhuận bút khi ấy rất lớn. Phạm Duy không tìm được tôi, nên trên nhiều bản in của bài hát ấy có ghi dòng chữ Phạm Duy nhắn gửi: Huyền Chi cô ở đâu?”.

Tôi nói với cô Huyền Chi rằng khi Phạm Duy còn sống, trong vài lần trò chuyện cùng tôi, ông cũng nói rằng bài “Thuyền viễn xứ” là một trong những bài hát mà ông viết ra rất nhanh, cảm xúc và rất yêu thích. Tiếc rằng không gặp lại được tác giả bài thơ.

Cô Huyền Chi tủm tỉm cười, gật đầu bảo: “Tôi biết nhạc sĩ Phạm Duy đi Mỹ rồi trở về định cư ở Việt Nam. Thông qua một người bạn, ông ấy viết thư cho tôi, bày tỏ ý định muốn gặp lại tôi. Nhận được thư, đọc xong, tôi xé quẳng vào thùng rác. Tôi không muốn gặp ông ấy, hay đúng hơn là tôi không muốn trở thành một người nổi tiếng làm gì”.

Cuộc đời của thi sĩ Huyền Chi thật không dễ dàng. Sau khi lấy chồng, cô phải làm đủ thứ việc để nuôi con và không làm thơ nữa. Sau năm 1975, cô được ông anh cho một ít ruộng để làm, mưu sinh, bởi khi ấy không ai cho dạy thêm, dạy kèm. Cô bảo: “Vì chúng tôi có ruộng nên không vào diện được cấp gạo. Tiếng có ruộng mà có ai biết cấy trồng gì đâu, trong nhà có lúc không còn gì ăn. May rồi cuộc sống cũng dần thay đổi, tôi lại được đi dạy Anh văn ở các trung tâm, từ đó cuộc sống dần qua lúc cùng cực”.

Tuổi 84, cô Huyền Chi vẫn đọc, vẫn viết, như thỏa mãn niềm đam mê đã bị bỏ lỡ một thời. Cô bảo: “Tôi viết thơ và đăng trên facebook của mình, nhờ thế mà tôi tìm được đứa cháu bên Pháp hơn 40 năm không gặp. Nó về Việt Nam nhiều lần tìm tôi, đăng báo tìm tôi mà không gặp nhau. Nhờ mò mẫm trên mạng mà nó tìm ra tôi, cũng nhờ tôi đăng lại bài “Thuyền viễn xứ” trên facebook, nhiều người vào bình luận mà nó tìm được tôi”.

Người cháu ấy là con anh trai của cô Huyền Chi. Người anh trai đã mất từ lâu, đứa cháu chỉ biết thông tin về cô của mình chính là tác giả bài thơ “Thuyền viễn xứ”, cứ thế mà nó mò mẫm tìm cô. Lúc tôi tới gặp cô, người cháu cũng đang ở Việt Nam. Cô Huyền Chi vui vẻ bảo: “Cháu tôi đã có cả quốc tịch Pháp và Việt Nam, nó rất hay về Việt Nam thăm, ở cùng tôi. Tôi rất vui vì nhờ bài thơ Thuyền viễn xứ mà cô cháu tôi đã tìm được nhau sau gần nửa thế kỷ thất lạc”.

12/2017
Không làm thơ tình
Tập thơ của tác giả Huyền Chi có tên “Cởi mở” do Nxb Xây Dựng, Huế in. Tập gồm 24 bài thơ, do tác giả tự xuất bản, tự biên tập và tự mang đi bán. “Lúc đó thơ người ta nói về tình thôi. Lúc ấy cô viết tập thơ này không có bài nào là thơ tình, một phần vì chưa yêu, một phần vì muốn làm những vấn đề thời sự” - nhà thơ tiết lộ.
Cô ở trong một nhóm thơ văn nhạc gồm những người trẻ, cô làm phó hội thơ, mọi người gửi thơ tới, cô sửa để đăng. Sau khi lấy chồng vẫn viết thơ và truyện ngắn một thời gian nữa, rồi lo việc gia đình nên bỏ hẳn sáng tác.

Hơn 40 năm mới nhìn thấy lại tập thơ của mình, nhà thơ Huyền Chi bùi ngùi: “Thời đó chỉ dám in 500 cuốn, không dám in nhiều. Cô làm cô tự in tự bán. Lúc đầu bán chậm, sau lần lần người ta biết họ mua, họ tìm cô xin chữ ký, cô sợ mình thành người nổi tiếng nên lánh đi, không gặp độc giả nữa”.
Tập “Cởi mở” được viết trong thời điểm mà cô gọi là “thời kỳ máu lửa”: “Người Việt Nam ta bắt đầu đứng lên công khai mà chống Pháp, cô ủng hộ phong trào dân ta nổi lên chống Pháp, lúc đó phong trào đang máu lửa. Người Bắc vào Nam nhiều, nên người ta rất thích thơ của cô. Thời chiến tranh mình không thể nói thẳng ra, phải mượn hình ảnh để nói, chẳng hạn trong bài “Thuyền viễn xứ” có câu: Ngàn câu hát buổi quân hành/ Dặm trường vó ngựa đăng - trình nẻo xưa”.

Trần Nguyễn Anh

TÔI VỚI ANH (Nguyễn Thế Duyên)


Vài lời xin lỗi gửi đến tác giả bài thơ.
Tôi hứa với anh viết tặng anh một bài bình nhưng không hiểu sao những suy tư trăn trở của anh cứ lôi tôi vào những
những suy tư mà bài thơ anh chưa nói đến. Cho tôi xin lỗi! Nhưng một bài thơ có thể lôi người đọc vào những suy tư có lẽ đó là lời khen lớn nhất rồi phải không anh ./.
 

Đã có lần tôi gởi đến các bạn một truyện ngắn tựa đề "Bản năng gốc" của nhà văn Nguyễn thế Duyên , ông là một bộ đội phục viên(giải ngữ), viết rất nhiều tác phẩm có chiều sâu nhân bản
Bài thơ này tôi đã đọc xong,chuyển cho các bạn vào ngày 30/4 này , một ngày mà tất cả những người Việt Nam đều không quên ,một ngày đã lột lên được hai chữ mà suốt ngày được ra rả trên đài phát thanh "ĐỒNG BÀO" , hai chữ đồng bào này giống như bài thơ "Củi đậu hạt đậu" của Tào Thực bị người anh ruột "Tào Phi" muốn ép cho chết.
        Củi đậu đun hột đậu
        Đậu trong nồi khóc kêu:
        Cùng sinh trong một gốc,
        Bức nhau chi đến điều.
    Nguyên văn:
        Chữ đậu nhiên đậu cơ,
        Đậu tại phẩu trung khấp.
        Bản thị đồng căn sinh,
        Tương tiễn hà thái cấp.

Bài đọc làm tôi xúc động , gởi đến các bạn gọi là "tưởng niệm tháng tư đen"

Tản mạn từ một bài thơ trong ngày chiến thắng
Nguyễn Thế Duyên
Tôi với anh
Hai mái đầu xanh
Xanh như màu quân phục...
Làng tôi sông Hồng nước đục
Quê anh Vàm Cỏ lở bồi
Mẹ nhớ tôi, hết đứng, lại ngồi
Má mong anh, vào nhà, ra ngõ

Tôi đã ngỏ lời vào một đêm trăng tỏ-Trước lúc lên đường
Ba lô anh có kỷ vật người thương-Đêm giở ngắm trên đường hành tiến
Người ta bảo anh đi bảo vệ quốc gia
Người ta bảo tôi vào nam cứu nước
Tôi và anh
Có bao giờ tính suy mất được
Cho bản thân mình, cho mẹ, cho em
Chỉ nghe kèn trống nổi lên
Người hối thúc đưa ta vào chiến trận
Đồng quê tôi cỏ mọc xác xơ
Nước quê anh cá chết dạt bờ
Người con gái quê anh, quê tôi héo hắt đợi chờ
Mình mê mải với giấc mơ bạo chúa
Tôi và anh
Hai mái đầu còn xanh
Xanh như màu quân phục
Nào...!
Hãy khoác vai nhau ta cùng chúc phúc
Để tôi về ngoài ấy đắp đê
Nước Vàm Cỏ cũng đang gọi anh về
Cùng cày cấy nuôi mẹ già anh nhé
Mê muội qua rồi, chia tay trên lối rẽ
Gửi cho nhau lời xin lỗi muộn màng
Một cánh mai tươi, một nén hương vàng
Ta về tặng cho những người đồng đội
Ta bá vai nhau để những người kia xóa tội
Dưới suối vàng
Họ...!
Chắc cũng đã ôm nhau...!

Sắp đến ngày 30/4 trên các phương tiện truyền thông người ta bắt đầu tuyền truyền cho ngày chiến thắng. Chính trong những ngày này, tôi tình cờ đọc được bài thơ của một người lính đã từng cầm súng đổ máu trong cuộc chiến tranh này đi kèm một tấm hình hai người lính trẻ của hai phía đứng bên nhau. Tôi đọc bài thơ và rưng rưng xúc động. Bài thơ trĩu nặng suy tư về một thời đã qua. Cái thời mà lẽ ra người ta phải đóng băng nó lại, Cất nó vào những trang sách sử để cho các đời sau của dân tộc Việt đọc lại, suy ngẫm rút ra những kinh nghiệm quý báu từ những sai lầm của cha ông thì người ta lại trương nó ra, dùng tay vạch lại những vết thương chưa kín miệng trong tâm hồn dân tộc và làm cho vết thương lại rỉ máu. Bốn mươi năm rồi vết thương ấy chưa bao giờ kín miệng.

Không hiểu sao đọc xong bài thơ, trong đầu tôi lại hiện lên cái lễ tiếp nhận đầu hàng của quân đội miền bắc và miền nam trong cuộc chiến tranh nam bắc mĩ cách đây hơn hai trăm năm. Không một tiếng hò reo vui mừng của người chiến thắng. Không một tiến trống thúc. Khi những người lính miền bắc, kẻ chiến thắng định bắn các loạt đại bác chào mừng thì tướng Grant đã ra lệnh ngừng ngay những hoạt động chào mừng lại . Ông bảo với họ “ Chiến tranh đã kết thúc bây giờ họ là đồng bào của chúng ta” . Hai đội quân hiên ngang đứng đối mặt nhau trong con mắt họ ánh lên một sự kính trọng đối thủ. Im lặng! Một sự im lặng thiêng liêng trùm lên hai đạo quân. Đây không phải là một lễ đầu hàng . Họ! Hai đứa con Mĩ hư hỏng đánh lộn nhau và giờ đây Mẹ Mĩ choàng ôm lấy hai đứa con hư, kéo chúng vào bầu vú căng sữa của mình để mặt chúng giáp lại bên nhau, cùng hít thở mùi sữa mẹ để chúng nhận ra “ Chúng là hai anh em”. Tôi bỗng hiểu vì sao nước mĩ lại hùng mạnh đến thế và bỗng hiểu vì sao chúng ta cứ mãi mãi là một nước nhược tiểu. Nước Mĩ hùng mạnh bởi những nhà lãnh đạo Mĩ là những người có tầm cao văn hóa. Ngay sau chiến tranh, người Mĩ đã đánh tan mối thù hận giữa hai miền nam bắc. Cả nước trở thành một khối không còn cái mặc cảm của kẻ chiến bại và cũng không còn cái vui mừng của người chiến thắng. Nước Mỹ có 11 lễ hội kỷ niệm cấp quốc gia nhưng trong đó không có ngày kỉ niệm chiến thắng nam bắc mĩ. Còn chúng ta? Những ngày tháng tư này tôi cứ nghe ra rả những lời ngợi ca chiến thắng. Chúng ta chiến thắng ư? Chiến thắng ai? Khi phảỉ nghe những lời ca ngợi ấy, trong tôi lại vang lên câu thơ của Tào Thực cách đây đã hơn một nghìn năm
Cành đậu đun hạt đậu
Hạt đậu khóc hu hu
Cùng sinh ra một gốc
Thiêu nhau nỡ thế ru

Không! Chúng ta! Hai miền nam Bắc đều là kẻ chiến bại. Có kẻ chiến thắng nhưng kẻ đó không phải là chúng tôi. Đó là kẻ mà ông Lê Duẩn đã nói “Chúng ta đánh mĩ là đánh cho Liên Xô, Trung quốc” Họ đã thắng mà không phải đổ chút xương máu nào. Họ quyết tâm chống Mĩ đến người Việt nam cuối cùng. Chao ơi! Có gì để hãnh diện! Có gì để tự hào khi mà ta, cả miền nam, miền bắc chỉ là những tên lính đánh thuê. Ta cầm súng lao vào bắn giết lẫn nhau mà chẳng biết vì cái gì
Người ta bảo anh đi bảo vệ quốc gia
Người ta bảo tôi vào nam cứu nước

. “Người ta”! Người ấy xa lạ lắm chẳng liên quan gì đến anh và tôi, chẳng quan tâm gì đến lợi ích của anh và tôi . Còn tôi và anh nói như nhà thơ chế Lan Viên đều trở thành” con rối cho cuộc đời giật dây” mà là những con rối thì đã tốt. Hai chúng ta chỉ là những con tốt bị thí một cách không thương tiếc cho những giá trị mơ hồ dối trá .”Người ta” Xa lạ quá và cũng mơ hồ quá!Ngày xưa, cách đây bốn mươi năm khi tác giả bài thơ này còn trẻ, còn bị cái chính sách ngu dân dối trá bưng bít khiến cho hai mươi triệu người dân miền bắc ai cũng nghĩ “Mình đang cứu nước” Cái “Người ta” lúc ấy gần gũi lắm, cụ thể lắm.
Bác bảo đi là đi
Bác bảo thắng là thắng.
Tố hữu
Chọn thời mà sống chăng? Anh sẽ chọn thời gian nào thế nhỉ
Cho tôi được sinh trong buổi đảng dựng xây đời.
Chế lan Viên
Còn nay ! sau bốn mươi năm, khi sự thật không thể che dấu mãi làm chúng ta bừng tỉnh.Chúng ta ân hận. Một nỗi ân hận muộn màng
Gửi cho nhau lời xin lỗi muộn màng.
Và đấy cũng là lúc những thứ cụ thể, thiêng liêng, gần gũi ngày xưa trở nên nhòa nhạt trong chúng tôi, biến thành thứ “Người ta” xa lạ
Anh được gì trong cuộc chiến ấy ? Tôi được gì trong cuộc chiến ấy?
Đồng quê tôi cỏ mọc xác xơ
Nước quê anh cá chết dạt bờ
Người con gái quê anh, quê tôi héo hắt đợi chờ
Và cái « Người ta » xa lạ ấy đã quan tâm gì đến những mất mát đau thương của gia đình tôi và gia đình anh ?
Hình như Đại việt sử kí toàn thư đã nhầm. Không phải là mẹ Âu Cơ mang năm mươi người con xuống biển mà là sau khi li hôn mẹ Âu Cơ mang năm mươi người con vào Miền nam còn bố Lạc Long Quân giữ năm mươi người con ở lại miền bắc . Trong sự tức giận , Lạc Long Quân đã đốt chiếc bọc chứa một trăm quả trứng thành than, rắc tro của nó xuống biển đông và bảo với các con rằng : « Từ nay, chúng nó không còn là « Đồng bào » của ta nữa » và thế là năm mươi đứa con của mẹ âu cơ với năm mươi đứa con của bố lạc long quân trở thành kẻ thù không đội trời chung. Mối hận thù tiền kiếp ấy cho đến bây giờ vẫn chưa tan.

Có những dân tộc trong một thời điểm hiếm hoi nào đó của lịch sử, dưới sự dẫn dắt của lòng tự tôn dân tộc, và sự dối trá, lừa bịp của những kẻ cầm quyền mà trở nên cuồng tín. Khi đó gần như toàn bộ dân tộc đó trở nên độc ác và tàn bạo. Nhưng họ chỉ tàn bạo và độc ác với những người khác chủng tộc với họ còn với dân tộc họ họ vẫn là những con người mà Đức và Nhật trong đại chiến thế giới lần thứ hai là hai ví dụ diển hình. Còn chúng ta? Chúng ta độc ác với chính dân tộc mình. May mắn cho hai dân tộc đó, họ đã bại trận. Niềm tự hào man dại của họ đã buộc phải quỳ gối trước cái thiện, cái tốt đẹp của con người. Ngọn lửa ấy tắt ngấm trong tâm hồn họ để cho họ nhận ra rằng « Máu người không phải nước lã » và « Sinh mạng và phẩm giá là hai thứ trân quý nhất mà tạo hóa đã dành cho con người”. Tiếc thay dân tộc ta không có được cái may mắn của dân tộc Đức và Nhật. Chúng tôi đã chiến thắng. Chúng tôi đã chiến thắng các anh, người anh em của tôi. “Đồng bào” của tôi Và cái ngọn lửa man dại đó đã được tiếp thêm nhiên liệu để cho nó tiếp tục cháy không biết đến bao giờ.

Đọc bài thơ này, đọc những comment trong bài thơ này, tôi lại ngậm ngùi cho số phận những người lính các anh trong những trại “Cải tạo” của chúng tôi. Dưới ánh sáng của ngọn lửa chiến thắng man dại, Cái “Người ta “ ấy đã “Cải tạo” các anh bằng cách thắp lên trong các anh một ngọn lửa hận thù.
Tôi đọc lại bài Cáo Bình Ngô mà trong lòng bỗng nhiên ngờ ngợ. Dân tộc này kì lạ quá, rất nhân đạo với kẻ thù nhưng lại tàn nhẫn với chính mình
Thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền,
Ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa,
Chao ôi! người ta vẫn tự hào rằng “Người ta” nhân đạo. Không có cuộc tắm máu nào sau chiến thắng. Cũng đúng!So với phát xít Hít le, với Pinôchê , với pôn pốt thì quả “ Người ta” nhân đạo hơn thật. Nhưng sao con mắt của “người ta” chỉ luôn cắm đầu nhìn xuống đám bùn đen dưới chân mình mà không ngửa mặt lên nhìn bầu trời cao lồng lộng? Hay đấy là tâm thức của văn hóa việt? Chỉ luôn so sánh mình với những cái kém hơn. Mà ta ở đâu trong thế giới rộng lớn này? Ta ở gần đáy của nó. Đáy cách ta một gang tay, bầu trời cách ta cả ngàn cây số thế mà ta chỉ nhìn xuống dưới chân mình thì làm sao ta có thể cất mình lên .
Đọc bài thơ tôi lại liên tưởng đến những nước Đông Âu đã bị sụp đổ. Bao nhiêu nước nhưng duy nhất có hai người bị kết án tử hình vì kẻ đó đã ra lệnh cho quân đội bắn vào đoàn biểu tình còn lại tất cả đều được tha thứ . Không một ai bị tù đầy và nó cũng là một trong những nguyên nhân khiến những nươóc đó tiến những bước dài trong kinh tế.
Mê muội qua rồi, chia tay trên lối rẽ
Mê muội qua chưa? Chưa qua đâu! Có thể với nhà thơ , người viết bài thơ này đã thoát khỏi cơn mê sảng nhưng sâu trong tiềm thức của bao nhiêu người dân miền bắc cái ngọn lửa hào hùng chiến thắng vẫn cháy và trong hàng triệu người miền nam ngọn lửa hận thù vẫn cháy. Và vết rạn của dân tộc vẫn cứ hiện hữu trong mỗi chúng ta.

Bao giờ chúng ta mới có thể ôm nhau trong vòng tay mẹ Việt để cho cái ước mơ của người viết bài thơ này trở thành hiện thực.
Ta bá vai nhau để những người kia xóa tội
Dưới suối vàng
Họ...!
Chắc cũng đã ôm nhau...!
Hà nội 8/4/2015

TÔI VÀ SÀI GÒN (Đỗ Duy Ngọc)


TÔI VÀ SÀI GÒN
 
Tôi vốn không phải là dân Sài Gòn. Tôi là thằng con trai miền Trung vô Sài Gòn kiếm cái chữ từ những năm cuối của thập niên sáu mươi, đầu bảy mươi của thế kỷ trước. Là thằng sinh viên nghèo tự lập chẳng ai nuôi nên tôi chỉ quanh quẩn ở những xóm lao động của Sài Gòn hoa lệ thời ấy. Để tiện việc học hành, và vì lúc đấy cũng chẳng có phương tiện di chuyển, tôi bám trụ khu Trương Minh Giảng suốt quãng đời đi học. Cho đến khi đi làm mua nhà, tôi vẫn quanh quẩn khu vực ấy. Thế nên Sài Gòn trong tôi là những xóm nghèo, Sài Gòn với tôi là những người lao động nghèo, những căn nhà nho nhỏ, lụp xụp bên bờ kinh Nhiêu Lộc mà bây giờ không còn nữa. Ngay đống rác ngay chân cầu Trương Minh Giảng thuở xưa cũng là nơi ghi dấu nhiều ký ức cùa tôi một thời đã đi qua không trở lại.

Lúc mới vào Sài Gòn, tôi mê những hàng cây. Những cây me đường Nguyễn Du với những quán cà phê ven vỉa hè. Tôi và bè bạn rong chơi ở đấy suốt đời sinh viên để ngắm những hàng me, để đón những lá me nhỏ xíu rớt trên vai mình, để nhìn những hạt mưa bay bay trên những vòm lá xanh biếc màu ngọc bích và để yêu một thành phố. Tôi cũng mê những buổi chiều đi lang thang sau giờ học ở Đại học Văn khoa, đến cuối đường Gia Long, ở gần nhà thương Grall để ngắm hai hàng cây giao nhau và cuối con đường là chủng viện Công giáo với tường màu gạch đỏ.

Cảnh đó giống như một tác phẩm nghệ thuật và lúc đó tôi nghĩ đây là con đường đẹp nhất Sài Gòn. Đi thêm một đoạn nữa, ta ngỡ ngàng với hàng cây cổ thụ vươn cao từ khu Ba Son chạy ra Đinh Tiên Hoàng, những hàng cây thẳng tắp luôn khiến con đường nhiều bóng mát điểm những bóng nắng loang lổ như một bức ảnh đẹp được chụp bởi một tay máy nghệ sĩ.
Tôi cũng thích bách bộ lang thang đến đường Đoàn Thị Điểm(bây giờ là Trương Định) để ngắm những ngôi nhà sang trọng nhưng rất thanh lịch thấp thoáng sau hàng rào đầy hoa và con đường nhiều bóng râm.

Nhiều lần đi kiếm cơm ăn ké bạn bè ở Đại học xá Minh Mạng, tôi cũng ngắm nhìn những hàng cây cao vút cạnh ngôi nhà thờ màu đỏ như gợi nhớ một bức tranh nào đó đầy màu sắc của hoạ sĩ Đinh Cường.

Có nhiều đêm, đi qua ngôi nhà lớn ở đầu đường Trương Minh Giảng tôi nghe tiếng dế gáy ở bụi cỏ và hương ngọc lan thơm ngát từ ngững cây ngọc lan cổ thụ trong sân toà nhà dưới ánh đèn đường mờ đục.

Tiếng dế và hương thơm ngọc lan vẫn năm trong ký ức của tôi đến tận bây giờ bởi con đường đó gắn với tôi biết bao kỷ niệm không thể quên.

Kể nhiều vòm cây khóm lá để thấy ấn tượng đầu tiên của một chàng học trò tỉnh lẻ đến Sài Gòn chính là những con đường với những hàng cây rợp bóng.

Đến bây giờ, tôi đã ở Sài Gòn được gần nửa thế kỷ. Chưa bao giờ có ai hỏi tôi là người gốc Sài Gòn hay là dân Sài Gòn xịn, dù đã ở lâu xứ này, tôi vẫn nói giọng Quảng dù đã nhẹ hơn người chánh gồc Quảng. Ở đất này, ai đã đến và sinh sống ở đây đều là người Sài Gòn. Sài Gòn có nhiều người Bắc di cư năm 1954. Sài Gòn cũng có nhiều người miền Trung từ Quảng Nam, Ngãi, Quy nhơn, Bình Định. Sài Gòn còn có rất nhiều người miền Tây lên, từ miền Đông Nam bộ đến. Nhưng dù họ đến từ đâu, họ ở đây đã là dân Sài Gòn, chẳng có ai phân biệt, chẳng có ai thắc mắc. Và đó cũng là đặc điểm đặc biệt của người Sài Gòn khác với Hà Nội.

Đêm đầu tiên khi đặt chân đến Sài Gòn, tôi ngủ trên ghế đá chỗ vườn hoa Tao Đàn. Nửa đêm tôi bị đánh thức bởi hai người cảnh sát. Bởi thời đó thiết quân luật từ nửa đêm, không ai được ra đường. Sau khi đưa giấy tờ và kể lể hoàn cảnh vừa mới từ miền Trung vào đi học, chưa kiếm được người quen. Một anh cảnh sát bảo: Miền Trung à? Ái chà chà, mấy ông sinh viên quê ngoài ấy khoái theo Việt cộng lắm. Tui chẳng biết nói sao đành chịu bị giải về cái bót cảnh sát ở ngay góc chợ Bến Thành. Tui nằm ở đó một đêm, sáng ra có một ông sĩ quan cảnh sát đến, bảo tôi đi học thì gắng mà học hành, đừng nghe lới mấy tay Việt Cộng mà tiêu đời. Ông ta móc bóp, cho tôi tiền ăn sáng và uống cà phê. Đó là cái tình của ngưởi Sài Gòn đầu tiên trong đời tôi và gây cho tôi ấn tượng về con người ở xứ này.

Trong những ngày đói rách, khó khăn của cuộc đời, những người Sài Gòn, những người nghèo Sài Gòn đã bảo bọc, giúp đỡ tôi qua cơn khốn khó. Tôi không quên được cô gái bán cơm ở chợ Trương Minh Giảng. Thuở đó, tôi thất nghiệp, chẳng kiếm ra tiền, chắt bóp, vơ vét túi chỉ đủ gọi dĩa cơm trắng rồi xin miếng xì dầu ăn qua bữa. Ăn được ba hôm như thế thì cô bán cơm hỏi sao không thấy anh ăn thức ăn, đành nói dối tôi ăn chay. Cô ấy chỉ cười, không nói. Nhưng mấy hôm sau, dĩa cơm xì đâu của tôi luôn có dưới lớp cơm trắng khi thì miếng đậu hủ, lúc thì miếng thịt hoặc cái hột vịt kho. Được mấy hôm, tôi mắc cỡ, không dám ra ăn nữa. Sau đó lại kiếm được việc bán báo ở tận đường Phạm Ngũ Lão, tôi không ăn cơm ở đó. Thời gian sau tìm lại thì quán đã đổi chủ rồi, tôi chẳng tìm được lại cô gái bán cơm có nụ cười rất tươi và tấm lòng nhân hậu.

Ăn uống thiếu thốn lại tạng người không khoẻ, tôi hay bệnh vặt. Chính những người hàng xóm rất nghèo của tôi đã giúp tôi qua được những cơn bệnh, giúp tôi có chén cháo, viên thuốc. Cái tình đó tôi làm sao quên. Sau này ở lâu, tôi mới hiểu ra đó là bản chất của người Sài Gòn. Là cái tính ưa giúp người hoạn nạn, giúp kẻ sa cơ, tính ưa làm việc thiện của người Sài Gòn.

Mỗi lần đi xa rời Sài Gòn lâu, nhớ về Sài Gòn tôi chỉ nhớ những hàng cây và những người Sài Gòn tôi đã gặp, đã sống chung với họ một quãng đời. Người ta hay khen Sài Gòn với những cao ốc, những dinh thự, những khu ăn chơi bốc trời, những hàng quán xa hoa, những chiếc xe đắt tiền, những thú vui hoan lạc. Riêng tôi, trong tôi, Sài Gòn là vòm cây xanh lá, là những ngôi nhà bên dòng nước đen và ở đó tôi tìm thấy tình người.

Bây giờ, Sài Gòn đã đổi tên. Thế nhưng tôi vẫn gọi là Sài Gòn như một thói quen, cái tên của ký ức không thể nhạt phai. Người ta đang tìm đủ cách để thành phố này không còn ký ức của Sài Gòn. Nhưng với người Sài Gòn, Sài Gòn mãi mãi là Sài Gòn mà không có một cái tên nào khác có thể thay thế được.

15.4.2018
Đỗ Duy Ngọc
Nguồn: Tác giả gửi

TÌNH ĐỜI (Thukỳ)



TÌNH ĐỜI (Thukỳ)


Ba tháng sau ngày 30 tháng Tư đau thương ấy, tôi phải bồng con về nhà mẹ chồng sinh sống, thì 2 người chị em bạn dâu (vợ của 2 anh chồng Vinh và Hiển) cũng đưa con về.  Căn nhà bà cụ trở nên nhộn nhịp vì nhiều con nít; phụ nữ ngơ ngác, vì gia đình không còn ai đàn ông, sau khi lệnh “cải tạo” được ban hành, tiệm vàng của gia đình phải đóng cửa...

Chú chồng của tôi (đã giải ngũ) là người đàn ông duy nhất, nên mọi quyết định đều do ông lo. Tôi còn trẻ quá chưa hiểu thấu tâm trạng của cô chú và mẹ chồng tôi lúc ấy, suốt ngày ra vào thở ngắn than dài, rồi chỉ biết cầu nguyện.  

Tôi nghe phong phanh là gia đình chồng tôi bị một người bạn rất thân với chú lừa gạt hết gia sản ở Long Khánh, nên chú hay than “Sông sâu còn có kẻ dò, nào ai lấy thước mà đo lòng người…”

Lúc đầu gia đình bên cô chú chồng (chú Viên) dự định sẽ giữ lại nhà Sài Gòn, đưa nửa số con chú và một chị em dâu lên Long Khánh làm ăn, nhằm “giữ 2 chân”, nếu có gì khó khăn thì sẽ rút hết về Long Khánh, vì dù sao cũng gần Sài Gòn và gia đình có cơ sở làm ăn trên đó, một cửa tiệm lớn sát quốc lộ để mua bán nông sản, khai thác đồn điền trồng tiêu, chuối...cũng như làm than đun bếp, hàng hóa chuyển về SG bán, công việc phát đạt và tiển triển tốt…

Nhưng!
Chú Viên có đồng đạo Công Giáo, tên là Ánh, rất thân từ lúc hai người còn làm việc chung ở “anh ninh tình báo”.  Họ thân nhau còn hơn anh em ruột thịt.  Ông rất thánh thiện và đạo đức.  Khi cả hai giải ngũ thì chú Viên thấy gia đình ông ta nghèo quá, con đông...Chú mới đề nghị với mẹ chồng tôi bỏ vốn làm đồn điền ở Long Khánh, và cho ông làm quản lý, vì tin ông ta còn hơn là tin... “Chúa”.

Đâu ngờ những lúc làm ở đồ điền ông Ánh đã là “Việt Cộng nằm vùng”, nên sau 30 tháng 4, ông đương nhiên ông có chức vụ khá lớn tại Long Khánh, rồi trở mặt với chú Viên và mẹ chồng tôi.  Thế là tất cả tài sản nhà cửa đất đai làm ăn ở Long Khánh là của ông ta hết. Nếu không phải là người Công Giáo, có lẽ chú chồng tôi chỉ còn biết cắn lưỡi mà chết.  Chú đã học một bài học thật giá trị sâu sắc về tình đời, về long dạ con người, sự tin tưởng ngây thơ…

Sau vụ đánh “tư sản mại bản” vào tiệm vàng Kim Quang và làm ăn của chú ở Long Khánh, chú trở thành trắng tay, nhìn 1 đàn con, cháu… nheo nhóc khi cha của chúng ở trong “tù”.

Kế tiếp là bị đổi tiền.  Vì không có hộ khẩu nên 3 con dâu và mẹ chồng chỉ được 200 đồng tiền mới, mẹ phải chia đều cho mỗi người 50 đồng.  Những ai bị kẹt lại sau 30 tháng Tư thì đều biết cái ngày đau đớn ấy, nước mắt không còn để khóc, nhìn đàn cháu nhỏ dại đang từ trên cao rơi xuống vực sâu, mẹ chồng tôi chỉ còn buồn rầu ủ rũ chẳng có bao lâu mà tóc đã bạc phơ!

Nhiều đau thương dập dồn nên cô chú và mẹ chồng tôi quyết định đưa cả gia đình đi về Cờ Đỏ, Cần Thơ, nơi mà bác chồng tôi (Cha Nghị) đang làm linh mục: một quyết định vội vàng vì không còn gì để ở lại, chắc chưa có gia đình nào mà đớn đau bằng gia đình chồng tôi lúc ấy, một căn nhà lầu 2 tầng tại chợ Trung Mỹ Tây buôn bán sầm uất, giờ kêu bán 2 lượng vàng cũng không ai dám mua, cuối cùng thì cũng bán xong cho người hàng xóm, đùm túm nhau trên một chuyến xe giã từ thành phố đi về nơi mà chúng tôi chưa bao giờ biết đó là đâu, lúc đó chắc vào khoảng 1976.

Từ đây lại một trang sách mới không những cho bản thân tôi mà cả gia đình nhà chồng, một ngã rẽ to lớn đớn đau, chẳng còn bút mực nào tả hết nỗi lòng tôi lúc ấy, nhất là nỗi đau khi nhìn chú tôi; giờ này nghĩ lại tôi còn rơi nước mắt.  Lúc ấy ông còn trẻ hơn tôi bây giờ mà đã phải quyết định cho tất cả mọi người, phải làm chủ cột trụ chở che cho con và các cháu…

Giờ này mẹ chồng, cô chú đều đã qua đời, bên kia thế giới chú có nghĩ đến bài học ở đời vì sự bác ai thương người, sự đạo đức, lòng tin của chú trong tình nghĩa bạn bè, mà mất cả cơ nghiệp, rồi con cháu phải đớn đau khổ sở, bản thân chú dằn vặt hằng đêm, lớn lên tôi cũng trải qua kinh nghiệm về tình đời bạc bẽo, dù không đáng kể so với chuyện nhà chồng tôi; nhưng tôi thương mẹ và cô chú quá, nguyện xin cho linh hồn mọi người an nghỉ nơi đầy yêu thương không lọc lừa gian dối, xin chúc giấc ngủ an bình.

Thukỳ

*** Tuần tới kế tiếp với những chuyện đời qua khúc rẽ mới quá nhiều sóng gió, phong ba...

Wednesday, May 2, 2018

ĐÊM LẠNH (Thanh Trần)


Thơ tâm trạng buồn về đêm

ĐÊM LẠNH

Thanh Trần

Đông gõ cửa bên ngoài hiên vắng
Đưa thu và giọt nắng trôi xa
Mây giăng sương trắng nhạt nhòa
Gió đem hơi lạnh ghé qua ngoài thềm

Nhớ giây phút bên rèm ngóng đợi
Giữa đêm khuya vời vợi nhớ thương
Giọt châu tô ướt má hường
Giờ người xa cách ở phương trời nào

Trăng hiu hắt ngó vào song cửa
Nét mi gầy một nửa xanh xao
Bờ mi níu giấc chiêm bao
Vòng tay ân ái theo vào giấc mơ

Chợt tỉnh giấc không giờ rồi đó
Tái tê lòng cơn gió tràn qua
Để ai nước mắt nhạt nhòa

Cô đơn gối chiếc...tình qua lâu rồi.

NHỮNG MẢNH ĐỜI PHIÊU BẠT (Ngư Sĩ)