Thursday, November 7, 2019

NẾU ANH CÒN TRẺ (PHẠM ANH DŨNG)



NẾU ANH CÒN TRẺ

Nếu anh còn trẻ như năm ấy 
Quyết đón em về sống với anh 
Những khoảng chiều buồn phơ phất lại 
Anh đàn em hát níu xuân xanh 

Nhưng thuyền em buộc sai duyên phận 
Anh lụy đời quên bến khói sương 
Năm tháng... năm cung mờ cách biệt 
Bao giờ em hết nợ Tầm Dương? 

Nếu có ngày mai anh trở gót 
Quay về lãng đãng bến sông xa 
Thì em còn đấy hay đâu mất? 
Cuối xóm buồn teo một tiếng gà...” 

(Nếu Anh Còn Trẻ/thơ Hoàng Cầm) 


Trên đời này có biết bao nhiêu người gặp nhau, hay gặp lại nhau, yêu nhau muộn màng lúc đã... già? Muộn màng! 
Bài thơ lãng mạn do thi sĩ Hoàng Cầm viết năm 1941, diễn tả nỗi buồn vì một cuộc tình dở dang của người không còn... trẻ nữa.
Có nhiều chữ, nhiều câu thật tuyệt vờị Lấy vài thí dụ giản dị trong bài, để xem tài làm thơ của Hoàng Cầm. 

Mở đầu bài thơ, chữ “Nếu” cho thấy đây một chuyện mong ước, giả dụ. Đọc tiếp cho hết câu đầu, “anh còn trẻ như năm ấy”, sẽ thấy rõ đó chỉ là một chuyện không thể có thực. 

Nhưng, chữ “Quyết” ở đầu câu thứ hai cho thấy dù chỉ là chuyện giả tưởng, ý tưởng người đàn ông vẫn mạnh mẽ, khi có ý “đón em về sống”. 

Có một chữ hơi lạ là “khoảng” của câu thứ ba. Thường người ta sẽ viết là “buổi”. Nhưng đọc “khoảng chiều” nghe thấm thía hơn là “buổi chiều”. Cái cảm giác khi đọc “khoảng chiều” sẽ là những lúc hoàng hôn về, không được trọn vẹn được thành cả buổi chiều, mà chỉ có những khoảng thời gian của một buổi chiều mà thôi. Kết quả làm cả câu thơ buồn hơn, hay hơn. 

Chữ “níu” ở trong “níu xuân xanh” phải nói là rất hay, cho thấy tình trạng gần như là tuyệt vọng của mối tình... già, dù đây vẫn chỉ là nói chuyện giả tưởng. Mặc dù chuyện đón người yêu về chỉ là chuyện không có thực, mà tình yêu đã mong manh như vậy rồi!
Đoạn cuối của bài thơ, câu đầu cũng bắt đầu bằng “Nếu”, do đó cũng chỉ là chuyện giả dụ. Tuy vậy, khi đọc tiếp có “ngày mai anh trở gót” thì thấy câu chuyện lại có thể xẩy ra trong tương lai và không phải là chuyện không thật như ở đoạn đầu bài thơ. 

Nhưng, lúc đó người “lãng đãng” có thể hiểu là người đàn ông đã mất hồn vì mất... tình đi lang thang khắp nơi, rồi tìm về “bến sông xa” vắng với cái buồn cô đơn. 

Câu áp chót của bài thơ là một câu hỏi, “em còn đấy hay đâu mất?”. Và, chữ “Thì” đặt khéo léo ở đầu câu làm cả câu mạnh hẳn lên với ý nghĩa thậm xưng hơn nhiều. Câu thơ, câu hỏi nhưng có vẻ đã biết câu trả lời rồi, gần như thành một nỗi niềm trách móc, ai oán. 

Câu cuối cùng của bài thơ, thật hay, đã làm bật ra được cái cảm giác buồn cô độc của thi sĩ. Hai chữ “buồn teo” là buồn hoang vắng. “Cuối xóm buồn teo một tiếng gà” nhấn mạnh đến sự vắng vẻ và buồn. Hoàng Cầm viết “một tiếng gà”, một tiếng động chứ không phải tiếng gáy của gà. Chỉ có một tiếng động nhỏ của một con gà, không có tiếng thứ haị Thi sĩ Hoàng Cầm không viết là một đàn gà, không viết là hai con gà. Đọc câu thơ sẽ có cảm giác chỉ có một con gà mà thôị Tiếng động nhỏ của một con gà từ cuối xóm còn vọng lên nghe thấy được cho thấy xóm buồn vắng vẻ như thế nào!

Mãi đến năm 1985, tức là 44 năm sau, nhạc sĩ Phạm Duy mới phổ nhạc bài thơ. Chắc lúc đó, tuổi đã về chiều, Phạm Duy mới cảm được bài thơ? Ông cho biết bài thơ không có tựa đề và đặt tên bài hát là Tình Cầm. Thật ra, bài thơ có tên Nếu Anh Còn Trẻ (99 Tình Khúc - Thơ Hoàng Cầm, trang 175). Có lẽ, đề tựa bài thơ chỉ được đặt về sau này và Phạm Duy đã không hề biết đến. 
Bài thơ tình Nếu Anh Còn Trẻ đã trở thành bài nhạc Tình Cầm. 
Sau khi được phổ nhạc, âm giai chính là Sol Trưởng, lời bài hát trở thành như sau: 

Nếu anh còn trẻ như năm cũ... 

Quyết đón em về sống với anh! 

Những khi chiều vàng phơ phất đến... 

Anh đàn em hát níu xuân xanh...” 

Bốn câu khá hay trong đoạn thứ hai của bài hát, không có trong bài thơ, do chính Phạm Duy “liều lĩnh phang” (chữ của Phạm Duy dùng khi viết về bài hát này) thêm vào: 

Có mây bàng bạc gây thương nhớ 

Có ánh trăng vàng soi giấc mơ... 

Có anh ngồi lại so phím cũ 

Mong chờ em hát khúc xuân xưa!!! 

Đoạn thứ ba, điệp khúc, lời khác hẳn bài thơ và nhạc chuyển trùng hẳn xuống, buồn hơn vì đổi qua âm giai Sol Thứ: 

Nhưng thuyền em buộc trên sông hận... 

Anh chẳng quay về với trúc tơ! 

Ngày tháng tỳ bà vương ánh nguyệt 

Mộng héo bên song vẫn đợi chờ! 

Đoạn kết, nhạc trở về với Sol Trưởng, lại rộng rãi hơn nhưng có lời hát với ý tưởng khác đoạn thơ nguyên thủy: 

Nếu có ngày nào em quay gót 

Lui về thăm lại bến thu xa 

Thì đôi mái tóc không còn xanh nữẳ 

Mây bạc trăng vàng vẫn thướt tha” 

(Tình Cầm/thơ Hoàng Cầm, nhạc Phạm Duy) 

Có nhạc điệu uyển chuyển, thật hay, bài tình ca Tình Cầm là một trong những bài nhạc được gọi là Hoàng Cầm Ca của Phạm Duy.

Đó là chuyện bài thơ nhạc Nếu Anh Còn Trẻ-Tình Cầm. 
Để kết thúc, lại nói thêm một chút chuyện già trẻ ở ngoài đờị Thế nào là già? Như thế nào là trẻ? Vấn đề này chỉ tương đối thôi và tùy theo cảm quan của con người mà thôi.

Thật ra có nhiều người nhiều người trông qua có vẻ trẻ nhưng tình cảm, bên trong lại không trẻ chút nào hết và có những người khác, bên ngoài nhìn thấy là già, mà tâm hồn vẫn trẻ trung. 
Những “người thơ” có đầu óc, được tâm hồn như Hoàng Cầm hay Phạm Duy, có thể nói không có tuổi và vẫn trẻ mãi mãi...

Phạm Anh Dũng

Santa Maria, California USA


CHÚ THÍCH: 
Tầm Dương và tỳ bà.
Tỳ bà tuy là nhạc cụ cổ truyền của VN nhưng có nguồn gốc từ đàn pipa của Trung Hoa.
Tầm Dương là tên một con sông bên Trung Hoa.
Câu thơ của Hoàng Cầm có chữ "Tầm Dương" và từ đó câu của Phạm Duy có chữ "tỳ bà" là do câu chuyện sau: 
Tầm Dương là một con sông thuộc tỉnh Giang Tây, Trung Quốc chảy qua huyện Cửu Giang.
Vào đời Đường, nhà thơ Bạch Cư Dị đang làm quan ở kinh đô, bị giáng chức về làm Tư Mã quận Cửu Giang (tức quận Giang Châu).
Ở đây, trong một lần tiễn bạn ở bến sông Tầm Dương, nhà thơ gặp một cô gái giang hồ trên sông, cô gái vốn là một tay đánh đàn tỳ bà nổi tiếng ở kinh đô Tràng An lưu lạc về.
Nghe đàn tỳ bà, lại nghe cô gái kể lể về cảnh ngộ rũi ro, nhà thơ cảm khái làm bài "Tỳ Bà Hành" nổi tiếng được truyền tụng đến ngày nay và đã được Phan Huy ích dịch ra tiếng Việt.
Trong Chinh Phụ Ngâm (nguyên tác Hán Văn của Đặng Trần Côn dịch sang tiếng Việt do Phan Huy Ích hay Đoàn Thị Điểm, đến nay vẫn không biết chắc chắn là người nào) có câu: Bến Tầm Dương chàng còn ngoảnh lại. Chốn Tiêu Tương thiếp hãy trông theo... 
Bài thơ Tỳ Bà Hành của Phan Huy Ích dịch thơ Bạch Cư Dị cũng được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành một bài nhạc (khác).




CÔ BÉ BÁN HOA HỒNG (LÝ THỤY Ý)




Cô bé bán hoa hồng.  (Tièn Phong 1968 Sài Gòn )..
Cô bé bán hoa hồng.


Một bài thơ tình hay, tả mối tình đẹp giữa anh lính chiến tiền phương và em gái hậu cứ thật cảm động ❤️


"Bán cho tôi một bông hồng đi, cô bé!

Đó nào tươi còn búp nụ mịn màng."

Tôi ngước lên: "Xin ông chờ tôi lựa.

Một bông hồng vừa ý nghĩa, vừa sang !"


Khách mỉm cười: "Cô thật tài quảng cáo !

Thế... Hoa hồng mang ý nghĩa sao, cô?"

Tôi bối rối: "Hình như người ta bảo:

Nó tượng trưng tình nồng thắm vô bờ..."


"Cám ơn cô! Giá bao nhiêu đấy nhỉ ?"

Tôi lắc đầu: "Thôi, xin biếu không ông,

Một đóa hoa không đáng bao nhiêu cả

Rất mong ông làm Người đẹp vừa lòng !."


Khách bỗng nhìn tôi, mắt như xoáy lốc.

"Cô bé lầm! Tôi không tặng người yêu.

Thằng bạn thân chiều qua vào nghĩa địa

Một bông hồng cho nó bớt quạnh hiu...


Nhưng cô bé phải nhận tiền tôi chứ,

Hoa cho không, rồi mẹ mắng làm sao ?"

Tôi cúi mặt: "Xin gửi người xấu số,

Chuyện của ông làm tôi bỗng nghẹn ngào !"


Khách quay đi, áo hoa rừng đã bạc,

Dáng cao gầy khuất hẳn bóng chiều nghiêng.

Tôi bất chợt đưa tay làm dấu Thánh

Mẹ giữ gìn cho người ấy bình yên !


Trời đầu Xuân còn vương vương sắc lạnh,

Nắng vàng mơ, má con gái thêm hồng.

Tôi bâng khuâng nhớ đến người khách lạ.

Mình nhớ Người, Người có nhớ mình không?


Chiều Hai Chín phố phường sao tấp nập

Người ta vui từng cặp đẹp bên nhau.

Mắt tôi lạc... rồi bỗng dưng bừng sáng

"Phải anh không? Người khách của hôm nào?"


Tim đập mạnh sau áo hàng lụa mỏng,

Anh đến gần, lời nói cũng reo vui:

"...Sao cô bé... Hàng hôm nay đắt chứ?

Còn nhớ tôi... hay cô đã quên rồi ?


Hành quân xong, tôi vừa về hậu cứ,

Ghé ngang đây xin cô một bông hồng

Và mong cô cho tôi xin lời chúc:

"Rất mong ông làm Người đẹp vừa lòng…."


Tôi bỗng nghe như tim mình thắt lại,

Gượng tìm hoa, rồi trao tặng tay Người.

Khách nhìn tôi, mắt bỗng dưng dịu xuống,

Đầy đăm chiêu và nghiêm lại nụ cười:...


"- Xin lỗi cô, nếu lời tôi đường đột,

Nhưng thật tình tôi không thể nào quên

Người con gái trong một lần gặp gỡ,

Nhớ thật nhiều... dù chưa được biết tên...


Một bông hồng - như hôm nào cô nói:

Là tượng trưng tình nồng thắm vô bờ."

Tôi run tay, nhận hoa hồng Người tặng

Sự thật rồi... mà cứ ngỡ đang mơ….


Lý Thuỵ Ý.

(Đăng trong Tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong Sài Gòn 1968).

NGƯỜI NỮ TU TRONG CÔ NHI VIỆN PLEIKU (PHẠM TÍN AN NINH)


Người nữ tu trong cô nhi viện Pleiku
 
Hơn sáu tháng sống chết với chiến trường và giữ vững được Kontum, đầu tháng 10 1972, đơn vị tôi nhận lệnh kéo về Pleiku dưỡng quân và bổ sung quân số.

Đây là phần thưởng đặc biệt dành cho một đơn vị đã tạo nên kỳ tích trong trận chiến đẫm máu để có một “Kontum Kiêu Hùng”. Một tháng đóng trên Đồi Đức Mẹ lại là một tháng “gió lạnh mưa mùa”. Hình ảnh của bao nhiêu bạn bè đồng đội vừa hy sinh trên chiến trường lúc nào cũng hiện ra trước mặt, đau đớn tựa hồ như những vết chém đang còn rỉ máu trong lòng.

Muốn tạm quên trong chốc lát đã là một điều không dễ, nên bọn tôi thèm những cơn say. Rất may, tôi có một anh bạn – phải nói ông anh mới đúng – là Liên Đoàn Trưởng của một liên đoàn Biệt Động Quân, có căn cứ tại Biển Hồ. Vợ và hai đứa con bị chết thảm tại Quảng Đức hơn một năm trước, khi xe bị VC giật mìn, nên bây giờ anh chỉ còn làm người tình với rượu.

 
Những ngày không bận hành quân, anh đến đón tôi đi uống rượu trong một cái quán nằm trong Khu Chợ Mới, đã vậy mỗi khi trở về, anh còn dúi cho tôi một chai Henessey. Trước kia anh từng là một cấp chỉ huy có tiếng trong binh chủng này, nhưng vì bản tính ngang bướng bất cần, nên nhân một lý do phe phái chính trị nào đó, anh bị ngồi tù một thời gian ngắn. Ra tù, anh bị thuyên chuyển về đơn vị tôi với cái lệnh “không được giữ bất cứ chức vụ chỉ huy nào”.

Biết anh là một niên trưởng và từng dạn dày lửa đạn, tôi tận tình giúp đỡ, an ủi anh và kéo anh về ở chung nhà trong khu cư xá, vợ tôi lo chuyện cơm nước cho anh. Một thời gian sau, bỗng dưng anh được xét cho “vô tội”, trở lại binh chủng, thăng cấp và chỉ huy một liên đoàn Biệt Động Quân. Do cái ân tình đó mà anh quý mến tôi, kéo tôi theo các cuộc giải sầu này.

Dường như ngoài quán rượu ra, thỉnh thoảng anh chỉ ghé đến thăm một cô nhi viện. Nói là viện nhưng thực ra đây chỉ là một ngôi trường cũ, được chỉnh trang lại, tạm đáp ứng nhu cầu cần thiết cho một trại cô nhi. Có lẽ anh muốn tìm lại bóng dáng của hai đứa con đã phải chết oan một cách đau đớn qua hình ảnh các cháu cô nhi mà đa số là con của tử sĩ, có cả con của những người lính Biệt Động Quân của anh, mà cả người mẹ cũng chết, hay vì một lý do nào đó không có khả năng nuôi dưỡng, nên đành phải gởi lại nơi đây, nương nhờ vào bàn tay và tấm lòng nhân ái của những bà sœur. Anh bảo là từ sau trận chiến Tân Cảnh và Kontum, cô nhi viện này nhận thêm khá nhiều cô nhi. Hằng tháng. anh ghé lại đây thăm và tặng cho viện một số tiền, bởi bây giờ anh sống độc thân, không còn phải chu cấp cho ai. Biết điều này, tôi càng kính quí anh hơn. Một người ngang tàng không biết sợ ai, sống bất cần đời, nhưng bên trong là cả một tấm lòng vị tha nhân ái.



Một hôm theo anh đến đây, chúng tôi được một bà sœur ra tiếp và mời vào văn phòng uống trà.. Anh bạn tôi thì đã là người quen biết từ lâu, trong cách giao tiếp, anh được các sœur xem như một ân nhân bảo trợ, chỉ có tôi là người lạ. Nhưng khi chào tôi, sœur bảo thấy tôi giống một người thân quen nào đó. Còn tôi, thì cũng mơ hồ như đã từng gặp người nữ tu này ở đâu rồi. Cũng có thể vì khuôn mặt khả ái, hiền thục của sœur phảng phất gương mặt của Đức Mẹ Maria mà tôi thường thấy trên các bức ảnh hay bức tượng trong các nhà thờ. Được giới thiệu là sœur Anna, tôi biết đây chỉ là tên thánh của bà. Khi tôi vừa ngồi xuống phía đối diện, sœur nhìn chăm chú vào cái bảng tên của tôi trên nắp túi áo, bỗng mắt sœur như sáng lên:

– Có phải lúc trước đại úy ở Tiểu Đoàn 3/44?

Tôi khựng lại, ngạc nhiên:
– Dạ, đúng là trước kia có mấy năm tôi ở tiểu đoàn này. Nhưng cách nay đã 6, 7 năm rồi!

– Đại úy còn nhớ trận Quảng Nhiêu. Hình như đại úy suýt chết trong trận ấy?

Tôi càng ngạc nhiên hơn, không hiểu tại sao người nữ tu này biết rõ mình như thế. Tôi vừa trả lời vừa nghĩ ngợi, thăm dò:
– Dạ đúng, nhưng sao sœur biết. Chuyện đã xảy ra lâu lắm rồi mà.

Sœur Anna không trả lời mà hỏi lại tôi:
– Đại úy thoát chết, nhưng người nằm hố bên cạnh thì bị nguyên một quả đạn súng cối 60 hay 80 gì đó, phải không?

Tôi giật mình, từ ký ức hiện ra rất nhanh hình ảnh hãi hùng này, và ngay lúc ấy, trước mắt tôi sœur Anna cũng phảng phất bóng dáng của một người con gái khác.

Vào khoảng đầu mùa hè năm 1966, tôi đang làm đại đội phó Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn 3/44. Thời gian này hậu cứ tại Ban Mê Thuột, nhưng tiểu đoàn được chọn làm đơn vị trừ bị lưu động cho Sư đoàn và Khu 23 Chiến Thuật. Thời ấy chưa có các đại đội trinh sát. Đơn vị tôi có mặt gần như trên khắp lãnh thổ Khu 23 Chiến Thuật, kéo dài từ vùng cao nguyên có biên giới với Cam Bốt cho đến tận miền duyên hải. Có khi hôm trước còn hành quân ở Quảng Đức, Lâm Đồng, hôm sau lại có mặt ở Bình Tuy, Tuy Hòa, Phan Thiết…

Một hôm, sau cuộc hành quân dài hạn ở khu Cà Ná, thuộc tỉnh Ninh Thuận, tiểu đoàn được lệnh di chuyển về Cam Ranh, vừa nghỉ dưỡng quân vừa giữ an ninh các đảo ngoài khơi để lực lượng Hoa Kỳ bắt đầu đổ quân xuống đây thiết lập căn cứ.

Trong một đợt bổ sung quân số, đại đội tiếp nhận ba hạ sĩ quan và gần hai mươi tân binh vừa rời khỏi quân trường. Tôi đến bộ chỉ huy tiểu đoàn nhận lãnh và đưa về trình diện anh đại đội trưởng. Trong ba trung sĩ, một anh có dáng dấp, nói năng hiền lành như một thầy tu. Xem qua lý lịch và nhất là sau khi nói chuyện, tôi biết anh là thầy giáo một trường dòng và cũng là trưởng ca đoàn của một nhà thờ ở ngoại ô thành phố Nha Trang, quê hương tôi. Tôi không phải là người Công giáo, nên không mấy am tường các sinh hoạt này, nhưng biết chắc một điều, trưởng ca đoàn phải là một người hát hay và giỏi về nhạc lý. Vốn có máu văn nghệ, lại là người đồng hương, nên tôi dễ thân tình và thường bắt anh hát cho cả đại đội nghe. Tôi đề nghi anh đại đội trưởng cho anh làm Hạ Sĩ Quan Tâm Lý Chiến của đại đội. Từ đó chúng tôi rất thân nhau, ăn cơm chung và treo võng ngủ gần nhau dưới một vòm cây dương liễu.

Thấy anh có cái tên hơi lạ, Nguyễn Phú Hùng Em, tôi đoán và hỏi anh có phải anh có người anh tên Nguyễn Phú Hùng Anh. Anh cười mà nét mặt không vui:

– Dạ, đúng là có một người là Nguyễn Phú Hùng Anh, nhưng không phải là anh ruột. Chúng tôi lớn lên trong viện mồ côi, vì trùng tên, và anh ấy lớn hơn tôi ba tuổi, nên các sœur đặt lại tên chúng tôi như thế. Bọn tôi cũng rất thân nhau và xem như anh em. Điều buồn, là anh ấy đi lính trước, vào Trường Sĩ QuanThủ Đức và tử trận cách nay hơn một năm rồi.

Thời gian này, đơn vị chúng tôi rất may mắn, chẳng khác nào được đi nghỉ mát. Hải đảo này là nơi thực tập cho các toán Biệt kích của Trung Tâm Huấn Luyện Lực Lượng Đặc Biệt Đồng Bà Thìn, nên khá an toàn. Suốt ngày bọn tôi chỉ tắm biển, câu cá, ban đêm nằm nghe sóng vỗ, đàn hát nghêu ngao. Có lẽ đây là thời gian đặc biệt thoải mái nhất trong cuộc đời làm lính của tôi. Nhân cơ hội hiếm hoi này, ông Tiểu đoàn trưởng cho phép binh sĩ được luân phiên đón vợ con ra thăm và được ở lại trong hai tuần lễ.

Một hôm anh Trung sĩ Hùng Em xin tôi cho được đón người yêu mà anh cho biết, nếu anh không bị động viên thì chắc hai người đã làm đám cưới. Tôi sắp xếp, dọn sang nằm với người lính ô-đô và nhường chiếc võng lại cho anh.. Cả bọn tôi khá bất ngờ khi anh đưa người yêu đến chào. Một cô gái đẹp, làn da trắng, khuôn mặt phúc hậu, đôi môi mọng đỏ với nụ cười hiền lành, lễ độ. So với anh, cô còn khá trẻ và có cái tên cũng rất khả ái: Thụy Khanh. Đặc biệt cô có giọng hát rất hay. Mỗi lần cô hát, cả đám lính tráng bọn tôi ngồi nghe mê mẩn.

Sau đó, cô đến đảo thăm anh vài lần nữa. Những ngày có bóng dáng cô, núi rừng trên đảo dường như bỗng trở nên đẹp, thơ mộng và vui vẻ hơn, sóng biển thì êm ả hơn như để cùng hòa theo tiếng hát của cô. Ngoài ra cô còn có tài nấu ăn, thường đãi bọn tôi những bữa cơm rất ngon miệng. Tất cả đơn vị, từ quan tới lính ai cũng nghĩ anh Trung sĩ Hùng Em thật là tốt phước, ông trời đã cho anh một người tình, một người vợ lý tưởng sau này. Qua tâm tình, chúng tôi được biết, hai người quen biết nhau trong viện mồ côi từ khi còn rất nhỏ. Sau này anh vừa là thầy dạy học, dạy nhạc vừa là trưởng ca đoàn của cô trong cùng một nhà thờ. Hai người đều chơi dương cầm và hát hay nhất trong ca đoàn. Tình yêu bắt đầu nẩy nở từ môi trường cô nhi và âm nhạc. Và cuộc tình của hai người được các vị linh mục cùng các sœur đồng tình, khuyến khích, như là một sự kết hợp nhiệm màu của Thiên Chúa.

Hơn ba tháng thần tiên ở đảo Cam Ranh, khi các đơn vị tiền trạm của Hoa Kỳ được ào ạt đổ xuống thành lập “Cam Ranh Air Base”, tiểu đoàn tôi có lệnh rời khỏi đảo, di chuyển để tiếp tục lưu động khắp nơi. Lâm Đồng, Bình Thuận rồi Ninh Thuận,  Sau những cuộc hành quân dài hạn trong rừng, mỗi lần đơn vị được về phố ít ngày hoặc đóng quân trong các làng mạc ở khu ngoại ô tương đối an toàn, chúng tôi lại thấy người con gái xinh đẹp Thụy Khanh đến thăm và ở lại với người yêu.  Đó là một đôi tình nhân gắn bó, đẹp và lãng mạn nhất mà bọn tôi chứng kiến, và có lẽ ai cũng thèm thuồng có được một hạnh phúc như thế.

Tháng bảy năm 1966, khi đơn vị nghỉ quân ở Tháp Chàm – Phan Rang, Trung sĩ Hùng Em xin một tuần phép đặc biệt để về Nha Trang làm đám hỏi. Anh bảo cả hai người đều không có cha mẹ anh em, nên lễ đính hôn đều do các vị linh mục và các sœur đỡ đầu tổ chức.

Đúng lúc anh vừa mãn phép trở lại, thì đơn vị có lệnh không vận khẩn cấp lên Ban Mê Thuột để tiếp viện cho một đơn vị Biệt Động Quân và Thiết Giáp bị thiệt hại khá nặng tại trận chiến Quảng Nhiêu, nằm phía Tây Bắc, cách thành phố Ban Mê Thuột khoảng hơn mười cây số. Trận chiến khá cam go, ác liệt. Một lực lượng địch cấp trung đoàn, sau khi tổ chức phục kích gây tổn thất cho chi đoàn Thiết Quân Vận và một đại đội Biệt Động Quân tùng thiết, bọn chúng đào nhiều giao thông hào và hầm hố cá nhân  kiên cố trong các vườn cà phê, để chặn đánh các cánh quân của ta tiếp viện. Tiểu đoàn tôi cùng một chi đoàn Thiết Vận Xa khác được tăng phái cho Trung Đoàn 45, đặt dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Võ Văn Cảnh, đảm trách cuộc hành quân phản công, bao vây tiêu diệt địch..

Địch chiếm ưu thế về vị trí, chuẩn bị trận địa, bên ta có sức mạnh của thiết giáp và không yểm. Sau suốt năm ngày đêm không ngủ, lăn mình trong mịt mù lửa đạn quần thảo với địch, cuối cùng chúng tôi đã đạt được chiến thắng. Một số lớn địch quân bị tiêu diệt và bắt sống, nhưng bên ta cũng phải trả một cái giá không nhỏ. Đại đội tôi may mắn, chỉ có ba quân nhân tử trận và khoảng mười người bị thương, trong đó có anh đại đội trưởng. Tôi được chỉ định tạm thời chỉ huy đại đội.

Cuộc hành quân vẫn chưa kết thúc, một số đơn vị tiếp tục truy kích địch, riêng tiểu đoàn tôi được lệnh ở lại Quảng Nhiêu. Ban ngày tung các cuộc hành quân tảo thanh chung quanh, ban đêm phòng thủ bảo vệ khu vực dân cư, mà đa số là người Công giáo, đề phòng địch quay lại quấy rối, phục thù. Đại đội tôi được chỉ định bảo vệ một Pháo đội Pháo Binh 105 ly. Điều tồi tệ là vị trí Pháo đội này nằm trên một khu đất trống trải, trong phòng tuyến và cả phía bên ngoài cũng không có một cành cây, dưới đất chỉ toàn là bụi đỏ, dày cả một gang tay. Mỗi lần Pháo binh tác xạ, cả đất trời gần như chỉ toàn là bụi. Đám lính chúng tôi từ đầu tới chân cũng phủ đầy bụi đỏ. Đơn vị Pháo Binh thì đã có sẵn hầm hố kiên cố từ trước, còn đại đội tôi phải tự đào lấy những hố cá nhân, nhưng không thể đào sâu được, vì dưới đất chỉ toàn bụi và bụi, đào đến đâu bụi đỏ tràn theo tới đó, và mỗi lần Pháo Binh tác xạ, những cái hố này bị bụi lấp cạn thêm.

Ban đêm, chúng tôi nằm trong những chiếc hố ấy, nhưng không che đủ nửa thân người. Cái hố của tôi dành cho hai người nằm, tôi và anh Hạ sĩ mang máy truyền tin. Hố kế bên trái là Trung sĩ Hùng Em và anh lính ô-đô của tôi.

Một hôm, khoảng hai giờ sáng, khi tôi đang ngủ chập chờn, bỗng một tiếng nổ chát chúa ngay bên cạnh, mảnh đạn và bụi phủ đầy người, tôi bật dậy chụp vội cây súng Carbine M2 chạy ra hàng rào phòng thủ, nơi vọng gác có đặt khẩu đại liên. Rờ nắn vội qua khắp người xem có thương tích gì không, tôi thở phào vì không thấy dấu hiệu đau đớn nào, nhưng khi các trái sáng bắn lên, nhìn bụi đỏ phủ đầy người tôi giật mình cứ ngỡ là máu. Địch quân đã pháo kích chúng tôi hơn 10 quả bằng hai khẩu súng cối 61 ly từ hai địa điểm khác nhau. Pháo Binh đã phản pháo chính xác làm bọn chúng câm họng. Khi tình hình ổn định, trở về hố, tôi bàng hoàng nghe anh lính ô-đô báo là Trung sĩ Hùng Em đã chết. Anh đã lãnh nguyên một quả đạn 61 ly, rớt ngay sát bên cạnh, ruột đổ ra ngoài và thân thể nhuộm đầy máu. Điều kỳ lạ, là anh lính ô-đô của tôi nằm ngay một bên mà không hề hấn gì, chỉ có áo quần dính đầy máu và thịt của người đồng đội xấu số. Tôi theo hai người lính khiêng thi thể Trung sĩ Hùng Em, được gói tạm trong tấm poncho, vào hầm cứu thương của Pháo Đội.. Anh chết thật thê thảm. Tôi đứng lặng người, sau khi vuốt đôi mắt cho anh.

Từ khi ấy cho đến sáng, tôi không hề chợp mắt. Tôi nghĩ đến Thụy Khanh, cô con gái xinh đẹp hiền thục, có giọng hát khuấy động cả trái tim người, vừa trở thành vị hôn thê của anh chỉ mới hai tuần trước. Trưa hôm qua, khi rủ nhau vào thăm ông cha xứ trong xóm đạo và để xin được tắm giặt ở cái giếng sâu phía sau nhà thờ, anh đã khoe tôi tấm hình anh chị chụp chung trong lễ đính hôn, và bảo rằng cuối năm này hai người sẽ làm đám cưới. Anh còn nói nhỏ với tôi, ông cha xứ của anh hứa sẽ giới thiệu anh với vị Linh mục Tuyên Úy của Sư Đoàn để xin anh về làm ở Phòng Tuyên Úy, vì hai ngài là bạn tu với nhau và được thụ phong cùng một ngày.

Nhớ tới hai khuôn mặt hiền lành với nụ cười rạng rỡ trong tấm hình đính hôn, lòng tôi se lại. Chiến tranh tàn ác quá, đã chia ly biết bao nhiêu người, và làm dang dở biết bao mối tình đẹp đẽ như anh Hùng Em và cô gái Thụy Khanh. Tôi bỗng chạnh lòng, nhớ tới người yêu, cũng là vị hôn thê của chính mình, hằng đêm cầu nguyện cho tôi, từ một thị trấn nhỏ, mà giờ đây đang xa tít mịt mùng.

Một năm sau đó, tôi được nghỉ mười lăm ngày phép về Nha Trang làm đám cưới. Nhớ đến Hùng Em, tôi rủ vợ cùng tìm đến nhà thờ gần khu Đồng Đế để hỏi thăm tin tức về nơi chôn cất anh. Chúng tôi được một vị linh mục trẻ đón tiếp niềm nở và hướng dẫn đến thăm mộ Hùng Em, nằm trong một nghĩa trang nhỏ của giáo xứ, gần biển. Từ đó, tôi có thể nhìn thấy Hòn Chồng, nơi chôn giấu nhiều hang động của tuổi thơ tôi. Đọc trên tấm bia, tôi thấy tên người lập mộ được ghi vỏn vẹn hai chữ: Thụy Khanh.

Nhớ tới người con gái xinh đẹp, phúc hậu, có giọng hát rất hay ấy, tôi hỏi vị linh mục:

– Thưa cha, chị Thụy Khanh, vị hôn thê của anh Hùng Em có khỏe không, và bây giờ chị đang ở đâu?

Vị linh mục buồn bã:
– Chị ấy đã di chuyển đến một nơi khác, khoảng ba tháng sau khi anh Hùng Em qua đời, nhưng thi thoảng chị có ghé về đây ít hôm thăm giáo xứ và viếng mộ anh ấy.

Tôi không dám tò mò thêm nữa. Cám ơn cha và đưa ngài về lại nhà thờ rồi xin phép cáo từ.

Sau đó, cuộc chiến ngày càng khốc liệt, tôi theo đơn vị hành quân liên miên, bao nhiêu lần thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Người lính chiến, chuyện sống chết chỉ tùy vào số mệnh, không ai có thể tránh được lằn tên mũi đạn. Đồng đội tôi đã có biết bao người ngã xuống. Có những cái chết còn thê thảm hơn cả cái chết của anh Trung sĩ Hùng Em lúc trước. Tôi đã chứng kiến cảnh một người vợ trẻ ngất xỉu khi đến nhận xác chồng mà không tìm thầy cái đầu, một bà mẹ đã lăn đùng ra chết ngất khi thi thể đứa con hy sinh chỉ còn lại một phần và bà không thể nhận diện được con mình. Những khủng khiếp của chiến tranh sau này, cùng với thời gian, dần dà làm tôi tạm quên nhiều chuyện đau đớn cũ.

- Ông Trung úy Điệp, người Huế, làm đại đội trưởng lúc ở ngoài Cam Ranh, bây giờ ra sao rồi, đại úy?

Câu hỏi của sœur Anna làm tôi giật mình, trở về thực tại:

– Dạ, anh Điệp đã chết lâu rồi. Anh tử trận tại Thiện Giáo – Phan Thiết, chỉ sau hai tuần làm đám cưới với cô giáo Diệu, cũng người Huế, nhưng sống ở Ninh Hòa. Hai người quen nhau khi đơn vị tôi về thụ huấn bổ túc tại TTHL Lam Sơn. Không ngờ sœur vẫn còn nhớ tên anh ấy.
Sœur cúi xuống, trầm ngâm giây lát. Khi ngước lên, bà lấy khăn tay lau nước mắt.

– Tôi và anh Hùng Em cũng làm đám hỏi đúng hai tuần. Cô giáo Diệu nào đó không biết may mắn hay là bất hạnh hơn tôi khi đã được làm vợ, cũng chỉ mới hai tuần?

Vừa nói xong, sœur vội vàng nói lời xin lỗi, bảo đúng ra, một người đi tu, không nên suy nghĩ đến những điều như thế.

Bốn tháng sau lần gặp gỡ bất ngờ đó, tôi đến thăm cô nhi viện một lần nữa, nhưng lần này, tôi cùng đi với cô Trung úy Trưởng Ban Xã Hội, để giới thiệu với sœur Anna, nhờ cô nhi viện tạm chăm sóc hai đứa bé, con của một anh chuẩn úy. Cả hai vợ chồng bị chết bởi đạn pháo ở Kontum. Sœur Anna rất vui vẻ, ân cần, sẵn sàng nhận giúp và bảo tôi bất cứ khi nào có dịp về Pleiku, nhớ ghé lại thăm. Chúng tôi cám ơn, biếu cô nhi viện một ít tiền, và hứa nhất định sẽ trở lại thăm sœur và hai đứa bé.

Nhưng rồi tôi đã không giữ được lời hứa ấy. Từ đầu năm 1973, sau khi Mỹ ký hiệp định Paris trên xương máu của người bạn đồng minh, những người lính VNCH đã phải chống đỡ làn sóng xâm lăng của Cộng sản phương Bắc, ồ ạt đưa đại quân, xe pháo vào quyết chiếm miền Nam, tôi đã cùng đồng đội miệt mài với chiến trường, súng đạn, mà sự viện trợ ngày một cạn dần, nên xương máu anh em lại càng đổ ra nhiều hơn nữa.

 
Ngày 11.3.75, Ban Mê Thuột thất thủ. Đơn vị tôi đang hành quân ở khu vực Tây Nam Pleiku, có lệnh kéo về Hàm Rồng để được trực thăng vận xuống Phước An, quân lỵ cuối cùng còn lại của tỉnh Đắc Lắc, nhằm tái chiếm Ban Mê Thuột, nơi có bản doanh Sư Đoàn và hậu cứ của đơn vị chúng tôi. Khi BCH Trung Đoàn và một tiểu đoàn cùng đại đội Trinh Sát vừa được đổ xuống Phước An thì Pleiku có lệnh di tản. Hai tiểu đoàn còn lại của chúng tôi phải di chuyển theo đoàn quân di tản trên Tỉnh Lộ 7B. Một kế hoạch triệt thoái tồi tệ đã đưa đến thất bại nặng nề bi thảm. Cả hai tiểu đoàn khi về đến Tuy Hòa chỉ còn lại một phần tư quân số, hai anh tiểu đoàn trưởng đã phải tự sát để không lọt vào tay giặt.

Cuối cùng, miền Nam cũng mất. Tôi và cả cha tôi đều bị tù đày khốn khổ. Cha tôi, tuổi già sức yếu, không đủ sức để chịu đựng bao đòn thù tra tấn, hành hạ, nên đã chết trong trại tù Đá Bàn vào tháng 6 năm 1976, còn tôi bị đày ải qua nhiều trại tù, từ Nam ra Bắc. Sau gần tám năm tôi được thả về để chứng kiến một quê hương nghèo khổ điêu tàn, vợ con nheo nhóc.

Tôi quyết định vượt biên, dù có phải chấp nhận bao hệ lụy khôn lường. Tôi rủ vài người bạn tù cùng tổ chức vượt biển, trong số này có một anh bạn nguyên là sĩ quan Hải quân có nhiều kinh nghiệm hải hành. Nơi bọn tôi hẹn gặp gỡ là một cái quán nhỏ của gia đình người bạn tù khác nằm gần khu Hòn Chồng. Một hôm, sau khi bàn công việc và ăn uống xong, tôi bỗng nghĩ tới anh Trung sĩ Hùng Em, khi chợt nhớ ngôi mộ của anh cũng nằm gần nơi này. Tôi nhờ anh bạn chở tôi đến đó. Vì nghĩa trang nhỏ, nên tôi dễ dàng tìm ra ngôi mộ của anh Hùng Em. Điều làm tôi sững sờ là ngôi mộ nằm bên cạnh có tấm bia ghi đậm tên người quá cố: Sœur Anna Phan Thụy Khanh, được Chúa gọi về ngày 15.3.1975. Tôi không biết vì sao cô chết, chỉ còn nhớ thời gian này đã từng xảy ra cuộc di tản kinh hoàng trên Tỉnh Lộ 7B. Chúng tôi tìm đến nhà thờ với ý định hỏi thăm cha xứ, nhưng rất tiếc ngài đi vắng, trong nhà thờ chỉ có hai thiếu niên rất trẻ, không hề biết sœur Anna là ai. Khi rời khỏi nơi này, trong cái man mác buồn tôi bất chợt thấy vui vui, và buột miệng như để nói với chính mình:


– Cuối cùng thì hai người cũng được ở bên nhau.

Tôi chưa (và có lẽ không) có cơ hội nào để trở lại Pleiku. Ngày xưa, tôi chỉ ghé lại thành phố bụi đỏ này một đôi lần ngắn ngủi, như chỉ một thoáng chợt đến chợt đi, chưa hề làm quen với một “em Pleiku má đỏ môi hồng” nào. Ngoài Đồi Đức Mẹ, nơi đơn vị đóng quân một tháng, cả một tháng gió mưa lầy lội, tôi chỉ còn nhớ cái quán rượu trong Khu Chợ Mới, nơi anh bạn Biệt Động Quân đưa tôi đến để tìm những cơn say, và một ngôi trường được dùng làm cô nhi viện, nơi có sœur Anna xinh đẹp, đã gợi lại trong tôi hình ảnh của những đồng đội đáng mến mà vắn số như Nguyễn Phú Hùng Em. Tôi da diết nhớ đơn vị cũ, thời chúng tôi còn trai trẻ, nhớ từng khuôn mặt bạn bè đã nằm lại trên các chiến trường xưa hay đang lưu lạc muôn phương, tiếc thương cho cuộc tình đẹp của những người lính trẻ, lãng mạn, thơ mộng, nồng nàn nhưng sớm chia lìa đớn đau bởi cuộc chiến tranh oan nghiệt.


Phạm Tín An Ninh


Wednesday, November 6, 2019

CÁ THÁNG TƯ

Cá Tháng Tư



Giật mình ” Em đã đính hôn ”
Đá bông gạo đỏ bôn chồn lòng đau
Giày tây hoen lấm huyết màu
Làu bầu đùa ác, đánh lau lại giày
Cá tháng tư chửa đến ngày

Biết đùa mà vẫn nhíu mày … Đã yêu ?!

LIÊN TIẾP XẢY RA NHIỀU VỤ CHẾT NGUỜI DO GIẢI PHẨU THẨM MỸ ƠA SÀI GÒN (TR. N)


Liên tiếp xảy ra nhiều vụ chết người do giải phẫu thẩm mỹ ở Sài Gòn
October 29, 2019
 
Thẩm mỹ viện EMCAS, quận 10, nơi đã làm một phụ nữ chết khi đến đây nâng ngực hôm 17 Tháng Mười, 2019. (Hình: Zing)

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Chỉ trong vòng hai tuần, Sở Y Tế ở Sài Gòn đã ghi nhận có ít nhất bốn ca biến chứng sau khi giải phẫu làm đẹp tại các thẩm mỹ viện, trong đó có ba ca gây chết người.
Theo báo Thanh Niên, Bác Sĩ Nguyễn Thị Huỳnh Mai, chánh văn phòng kiêm người phát ngôn Sở Y Tế ở Sài Gòn, cho biết Thanh Tra Sở Y Tế đang phối hợp với Phòng Y Tế các quận, huyện làm việc với các cơ sở thẩm mỹ để “chấn chỉnh” lại các dịch vụ làm đẹp.
Sự việc này chỉ được thực hiện khi hàng loạt các thẩm mỹ viện ở Sài Gòn liên tục gây ra nhiều tai nạn chết người cho các khách hàng đến làm đẹp.
Cụ thể vào lúc 5 giờ chiều 27 Tháng Mười, bệnh viện Nhân Dân Gia Định ở quận Bình Thạnh, tiếp nhận ca cấp cứu ngoại viện. Bệnh nhân là một phụ nữ 65 tuổi được chuyển đến trong tình trạng hôn mê sau khi xăm chân mày tại thẩm mỹ viện Hoài Anh ở quận 1.
Theo báo Zing, sau khi tiếp nhận cấp cứu, bệnh viện Nhân Dân Gia Định đã tổ chức hội chẩn và xác định bệnh nhân bị “xuất huyết não.” Sau gần ba ngày điều trị tích cực tại Khoa Nội Thần Kinh, đến khoảng 9 giờ 15 phút sáng 29 Tháng Mười thì nữ bệnh nhân này qua đời.
Thẩm mỹ viện Hoài Anh xăm chân mày gây biến chứng. (Hình: Một Thế Giới)
Trước đó, ngày 17 Tháng Mười, chị VNAT (33 tuổi) đến bệnh viện thẩm mỹ EMCAS (phường 12, quận 10) đặt túi nâng ngực. Đến 8 giờ 45 phút tối, chị T. đột ngột khó thở, mạch nhanh, huyết áp hạ. Bệnh viện thẩm mỹ EMCAS tiến hành hồi sức cấp cứu, nhưng thấy tình trạng càng lúc càng nặng nên đã chuyển chị T. đến bệnh viện Nhân Dân 115. Thế nhưng, khi được đưa đến bệnh viện này chừng 15 phút thì chị T. tắt thở.
Trong lúc thông tin về hai ca biến chứng gây chết người do làm đẹp thẩm mỹ chưa kịp lắng thì ngày 18 Tháng Mười, Sở Y Tế Thành Phố lại tiếp nhận đơn của chị Nguyễn Thị Phương H. (ngụ quận 7) tố cáo thẩm mỹ viện Sophie International (quận 1).
Theo báo Người Lao Động, trong đơn tố cáo chị H. cho biết ngày 29 Tháng Sáu, 2019, chị có đến thẩm mỹ viện Sophie International để cắt mắt theo combo “mở tròng, mở góc mắt, cắt mí song song” với giá 19 triệu đồng ($818). Mổ xong, bác sĩ giải phẫu nơi này kê đơn thuốc và hẹn sáu ngày sau đến cắt chỉ.
Đến ngày 2 Tháng Bảy, chị H. thấy mắt phải “tụ máu, sưng và nóng” nên liên hệ với bác sĩ giải phẫu, nhưng bác sĩ cho rằng: “Sưng là chuyện bình thường, chờ một thời gian sau sẽ hết.”
Tuy nhiên, dù vẫn dùng các loại thuốc do bác sĩ kê đơn nhưng mắt phải của chị H. sưng ngày càng nhiều hơn. Lo sợ, chị H. vội đến bệnh viện khác để kiểm tra thì các bác sĩ chẩn đoán “vết mổ bị nhiễm trùng,” phải nhanh chóng điều trị.
Sau khi điều trị ổn định, chị H. đến thẩm mỹ viện Sophie International yêu cầu giải quyết “tình trạng mí mắt không đều.” Tại đây, bác sĩ giải phẫu thừa nhận do lỗi của mình và sẽ chịu trách nhiệm “bảo hành” nhưng sau đó đã trở mặt, đưa ra nhiều lý do để kéo dài mà không giải quyết.
Bị dọa sẽ tố cáo, ngày 27 Tháng Tám, thẩm mỹ viện Sophie International cử một nhân viên đến đưa chị H. đến bệnh viện Mắt Sài Gòn thăm khám. Tại đây, nạn nhân được bác sĩ chẩn đoán “sụp mí nhẹ, mắt lờ đờ do phẫu thuật xâm lấn cơ nâng mi.”
Tuy có kết quả khám của bệnh viện Mắt Sài Gòn, nhưng suốt thời gian dài phía thẩm mỹ viện “trời ơi” này vẫn không đưa ra hướng giải quyết, không trả lại tiền. Đến lúc này, chị H. dành phải làm đơn tố cáo.
Nữ Việt kiều Mỹ giải phẫu thẩm mỹ tại bệnh viện thẩm mỹ Kangnam, sau đó thiệt mạng. (Hình: Zing)
Trước đó sáu ngày, ngày 11 Tháng Mười, bà LTC (59 tuổi, Việt kiều Mỹ) tìm đến giải phẫu căng da mặt tại bệnh viện thẩm mỹ Kangnam, ở phường 9, quận 3.
Chiều cùng ngày, bệnh viện thẩm mỹ Kangnam tiến hành căng da mặt cho bà C. Sau ca giải phẫu, tình hình bệnh nhân ổn định. Tuy nhiên đến 9 giờ tối, bà C. “đột ngột khó thở, khan tiếng, phù môi, tím tái, lơ mơ.” Lúc này, các bác sĩ của bệnh viện thẩm mỹ Kangnam chẩn đoán sơ bộ “bệnh nhân bị sốc phản vệ sau giải phẫu căng da mặt” và hội chẩn toàn viện.
Các bác sĩ tại đây đã đặt nội khí quản, ép tim ngoài lồng ngực, sốc điện… nhưng tình trạng bệnh nhân diễn biến xấu. Và rồi buộc phải gọi Trung Tâm Cấp Cứu 115 hỗ trợ và chuyển nạn nhân sang bệnh viện Chợ Rẫy. Tại đây, bà C. được điều trị ở Khoa Hồi Sức Cấp Cứu. Đến tối 14 Tháng Mười, thì tắt thở.
Như vậy chỉ trong vòng 15 ngày qua tại Sài Gòn đã có ít nhất bốn ca biến chứng sau khi làm đẹp, trong đó có ba ca gây chết người.
Trước tình trạng trên, ông Lê Thanh Liêm, phó chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố, đã ký công văn gửi các sở, ngành liên quan chỉ đạo yêu cầu “lập đoàn kiểm tra, đánh giá về an toàn phẫu thuật đối với toàn bộ các bệnh viện thẩm mỹ, phòng khám chuyên khoa trên toàn thành phố và công khai kết quả xử lý trên các phương tiện thông tin đại chúng để người dân biết, phòng tránh.”

Ngoài ra, Sở Thông Tin và Truyền Thông được giao nhiệm vụ tiến hành “rà soát, xử lý các trang web quảng cáo có vi phạm, đặc biệt xử lý nghiêm vi phạm về quảng cáo trong lĩnh vực khám, chữa bệnh, dịch vụ thẩm mỹ…” (Tr.N)




Tuesday, November 5, 2019

SÀI GÒN DỄ THƯƠNG DÃ MAN (MẠNH KIM)



Sài Gòn dễ thương dã man ! 
Mạnh Kim  
 

(Ảnh: trang Lê Nguyễn Hương Trà)  

Dễ thương, đặc biệt dễ thương, là những người lao động bình dân, như thể họ càng sống “thấp” ở tầng đáy xã hội thì tâm hồn họ càng cao, như thể họ muốn chồi lên, không phải để tìm ánh nắng, mà để cho người ta thấy họ đẹp như thế nào, đáng chiêm ngưỡng và đáng ngắm nhìn như thế nào. Sài Gòn chắc không bao giờ có anh xe ôm nào không chỉ đường khi được hỏi. Chắc ít có bà bán xôi nào mà không biết bán thiếu. Tôi thích lang thang vào những hẻm sâu hun hút ở Sài Gòn. Đó là những nơi còn lưu lại nhiều nét sinh hoạt của Sài Gòn xưa – Sài Gòn của Bình Thạnh, Sài Gòn của Gò Vấp, Sài Gòn của Thị Nghè - mỗi nơi mỗi khác, trong cái giống chung của “đặc tính Sài Gòn”. Có những buổi trưa tôi “khám phá” cái Sài Gòn mà mình sống từ lúc mới sinh bằng cách sộc vào những con đường lạ hoắc, len vào những con hẻm nhỏ hẹp chưa từng đến, và dừng ở quán café “cóc” nào đó để thấy những thanh niên mình trần vừa đánh cờ vừa chửi thề ỏm tỏi. 

Tiếng chửi thề Sài Gòn thì ở đâu cũng nghe nhưng phải nghe tiếng chửi thề trong các hẻm lao động thì mới cảm nhận được cái nét đặc thù của Sài Gòn. “Đụ má, mày chơi dzậy hổng được nha mậy”… Tiếng chửi thề Sài Gòn, khi vui đùa bông lơn, nghe không bị “khét”. Nó mượt. “Mẹ bà bây, làm cái giọng gì kỳ quá nha”. Sài Gòn chửi thề không chỉ do bực hay giận. Sài Gòn chửi thề có khi là “nựng”. “Đồ quỷ hà!” – “hà” là cái gì? Đừng hỏi “hà” là gì. Cũng đừng thắc mắc tại sao phải có “hà”. “Hà” là cái tinh cốt của “bộ tự vị” Sài Gòn. Nó là vậy đó. Thiếu “hà” thì mất dáng Sài Gòn rồi. Khỏi hỏi ha!

Sài Gòn cà chớn. Sài Gòn xớn xa xớn xác. Sài Gòn láu cá. Sài Gòn lừa gạt… Nhưng Sài Gòn “mua đi cưng” hay “Sài Gòn vá xe miễn phí nha bà con” mới là những định tính tạo nên cốt lõi của văn hóa Sài Gòn. Sài Gòn chưa bao giờ hết mang lại “cảm hứng” để nói về nó. Sài Gòn luôn dễ thương. “Dễ thương thấy… mẹ!” - kiểu Sài Gòn là phải nói như vậy. Tại sao “thấy mẹ”? Khỏi hỏi ha!

Mạnh Kim
7/2019

TT TRUMP CHẤP THUẬN GIẢM SỐ NGƯỜI TỊ NẠN VÀO MỸ NĂM 2020 CÒN 18,000 (V. GIANG)



TT Trump chấp thuận giảm số người tị nạn vào Mỹ năm 2020 còn 18,000
November 3, 2019
(Hình minh họa: Getty Images)

WASHINGTON, D.C. (AP) – Tổng Thống Donald Trump vừa chấp thuận kế hoạch giảm mạnh số người tị nạn được cho vào Mỹ trong tài khóa 2020, theo đó số người được nhận sẽ không hơn 18,000.

Khi Bộ Ngoại Giao Mỹ mới loan báo kế hoạch này hồi Tháng Chín năm nay, các tổ chức tôn giáo và các nhóm thiện nguyện đã mạnh mẽ lên tiếng phản đối.

Trong năm cuối của chính quyền Tổng Thống Barack Obama, con số tối đa để nhận vào Mỹ là 85,000. Năm nay, chính phủ của Tổng Thống Donald Trump ấn định con số tối đa 30,000. Đây là mức thấp nhất kể từ khi chương trình định cư người tị nạn được đưa ra năm 1980.

Trong bản thông cáo phổ biến hôm Thứ Bảy, 2 Tháng Mười Một, Ngoại Trưởng Mike Pompeo nói rằng “chương trình định cư người tị nạn chỉ là một phần của các nỗ lực di trú nhân đạo của chính phủ Mỹ.”

Ông Pompeo nói rằng chính phủ Mỹ cũng có các nỗ lực ngoại giao nhằm giải quyết các cuộc khủng hoảng và cung cấp các trợ giúp nhân đạo để không ai phải ra đi.

Theo những tổ chức tranh đấu cho người tị nạn thì tuy con số ấn định đã xuống thấp, nhưng số người tị nạn đặt chân được đến Mỹ lại còn có thể thấp hơn nhiều, do mọi bước tiến hành của thủ tục nhận vào Mỹ nay đang bị chậm lại và không ai muốn có nỗ lực để giải quyết nhanh chóng hơn.

Một thí dụ được nêu ra là có khoảng 4,000 người Iraq, rất nhiều người trong số này từng cộng tác với chính phủ Mỹ, được phép vào Mỹ, nhưng chỉ có 465 người đến Mỹ năm ngoái, do các thủ tục hành chánh, do có thêm các biện pháp kiểm soát an ninh cùng là những lý do khác. (V.Giang)