Tuesday, November 24, 2015

RANH NGÔN THỜI ĐẠI


  • Kẻ thù lớn nhất của con là vợ con.
  • Ngu dốt lớn nhất của đời con là không hiểu được nó.
  • Thất bại lớn nhất của đời con là không bỏ được nó....
  • Bi ai lớn nhất của đời con là phải sống với nó.
  • Sai lầm lớn nhất của đời con là quyết định lấy nó.
  • Tội lỗi lớn nhất của đời con là nghe lời nó.
  • Ðáng thương lớn nhất của đời con là bị nó sai khiến.
  • Ðáng khâm phục lớn nhất của đời con là con vẫn chịu được nó.
  • Khờ dại nhất của đời con là con giao tất cả tiền bạc cho nó giữ.
  • Khiếm khuyết lớn nhất của đời con là con không lấy được hai vợ... 


·        Tình yêu là mù quáng và hôn nhân là cặp kính làm sáng mắt ra.
·        Lầm bầm vài tiếng trong nhà thờ, rồi sau đó thấy mình có vợ; một năm sau lầm bầm gì đó trong giấc mơ, và thấy mình bị li dị.
·        Nắm tay một phụ nữ trước hôn nhân thì đó là tình yêu; nắm tay sau hôn nhân là tự vệ.
·        Mới cưới vợ mà trông vui vẻ, ta hiểu vì sao. Nhưng đã lập gia đình 10 năm vẫn vui vẻ, ta khó mà hiểu… vì sao.
·        Hắn nói sẽ vào địa ngục để cưới được nàng, nhưng bây giờ hắn muốn ra lại hổng được,




·        Muốn nhớ ngày sinh nhật của vợ thì hãy thử quên nó một lần. 
·        Vợ xưa “nâng khăn, sửa túi”; vợ nay “ngửi khăn, lục túi”.
·        “Một nụ cười bằng 10 thang thuốc bổ”; nhưng nếu cười với một ả nào tước mặt vợ mình thì bằng 100 thang thuốc… độc!
·        Người cho ta tiền là bố, người cho ra mượn tiền là bạn, người muốn lấy tiền của ta là…vợ.
·        Nhậu nhiều thì vợ buồn, nhậu ít thì bạn bè buồn, không nhậu thì… mình buồn.

·        Hạnh phúc là nghệ thuật sống chung zới zợ mà vẫn zui như khi còn độc thân.





·        Dùng lửa để thử vàng, dùng vàng thử đàn bà, dùng đàn bà thử đàn ông, và dùng đàn ông để thử... lửa.
·        Ðược tăng lương cũng giống như uống ly rượu, nó làm mình “hưng phấn” chỉ vài phút trước khi gặp vợ.
·        Lương tâm là cái buộc phải kể với vợ tất cả mọi chuyện, trước khi có người “méc” zới bả!
·        Phụ nữ luôn tha thứ; nhưng họ không bao giờ quên những gì đã tha thứ.
·        Đàn ông có vợ cũng như đứa trẻ, 1 năm đầu hắn được dậy bò và nói; 1 năm sau, hắn được ra lệnh phải ngồi yên và câm miệng lại.   



·        Ba giai đọan của đời người: -1: Tin ông già Noel, -2: Không tin ông già Noel và -3: Làm ông già Noel!
·        Ðàn ông tốt có ở khắp mọi nơi trên thế giới, trừ dưới mái nhà của vợ mình.
·        Tất cả đàn ông đều có lúc lầm lỗi, nhưng người đã có vợ bao giờ cũng nhận ra sai lầm của mình nhanh hơn.
·        Nói tiếng Anh như gió, gặp từ khó, ló ra tiếng… Ziệc!
Không phải người đàn bà nào cũng đẹp, và không phải người đẹp nào cũng là đàn bà.
·        Không có  phụ nữ xấu, chỉ có  phụ nữ không biết mình rất xấu.




·        Con đường tới vinh quang không có dấu chân của kẻ lười biếng; vì kẻ lười biếng thì đâu có chịu đi bộ mà có dấu chân!
·        Thượng đế tạo ra trái đất rồi ngài nghỉ ngơi một lúc; sau đó, ngài tạo ra đàn ông, rồi ngài lại nghỉ ngơi. Cuối cùng, sau khi tạo ra đàn bà thì cả ngài và đàn ông đều chẳng ai còn được nghỉ ngơi.

·        Cái gì không mua được bằng tiền thì mua được bằng... đô la. 
Ngưòi nào mắng ta sai, khi ta KHÔNG ĐÚNG là thầy ta;  người nào chửi ta sai khi ta ĐÚNG… là vợ ta!!



·        Chết vì yêu: người vĩ đại. Yêu mà chết: thằng ngu dại.
·        Thà hun em một lần rồi ăn tát; còn hơn cả đời nhìn thằng khác hun em!
·        Để có một bữa ăn ngon, hãy xem thật nhiều chương trình dạy nấu ăn trên tivi, tham khảo nhiều sách dạy nấu ăn, và sau đó cùng cả nhà đi ăn tiệm.
·        Ga-lăng (gallant) là cử chỉ đẹp của người đàn ông trước những phụ nữ không phải là vợ mình. 

·        Tại gia tòng phụ,  xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử,  tử tử tòng ....tân phu.





·        Chồng em áo rách em thương. Chồng người áo gấm em thương hơn nhiều.
·        Học không chơi - đánh rơi tuổi trẻ; chơi không học - zừa phẻ, zừa zui!.
·        Chết cho người phụ nữ mình yêu vẫn dễ hơn là phải sống chung với họ.
·        Một người phụ nữ toàn diện: sáng diện, trưa diện, chiều diện, tối diện, đi ngủ cũng…diện.
·        Khôn ba năm dại nửa giờ ...  Biết dzậy zại sớm .... khỏi chờ 3 năm.
   



TÌNH CHUNG VÁCH (Nancy Hồng Phương)

Hình minh họa
Kính thưa quý Thầy Cô & các anh chị,

Trong bài phóng sự vui “Sực Lẫu và Thăm Nẫu”, Thukỳ có mô tả tâm sự “đôi trẻ” chung vách, từng cố gắng đục tường  đến với nhau, nhưng  chẳng thành, đành hát bài  “anh đi đường anh, em đi đường em, tình nghĩa đôi ta có thế thôi”. Thế rồi, 40 năm sau, khi “em tay bế tay bồng” anh “tay xách, nách mang”, hai đứa tình cờ gặp lại mới có dịp  than câu "chuyện xưa giờ mới kể!" 

Quá cảm động cho tình cảnh nghiệt ngã của "đôi trai tài, gái sắc" chị  Nancy Hồng Phương đã cảm tác một bài thơ tặng "Nẫu"; nhưng không biết "nẫu này" hay "nẫu kia", vì nghe đâu ngày xưa, cũng có một anh chàng chung tường với chị trên đường Trần Hưng Đạo đã tìm cách đục vách chui sang…; mời quý thầy cô và các anh chị "giải mã" bài thơ "TÌNH CHUNG VÁCH" để xem "nẫu người" hay "nẫu ta".


Trân trọng giới thiệu, 

Thukỳ.


Ngàn xưa cho đến ngày nay
Chuyện tình chung vách thật hay khôn lường
Chỉ ngăn có mỗi bức tường
Khiến cho trắc trở con đường tình yêu
Khoét tường đục vách bao nhiêu
Trộm nhìn, bớt nhớ người yêu bên nhà
Thế mà sao nỡ cha già,
Xi măng cha trám thế là toi công
Chuyện tình giờ đã không xong
Càng tăng nổi nhớ niềm mong trong lòng
Nhưng tình giờ đã trôi sông
Cố nhân gặp lại, còn trông mong gì
Chỉ còn tình bạn khắc ghi
"Không quân hàng xóm", vẫn "chì" như xưa
Khác chăng tóc bạc lưa thưa
Vẫn "handsome" lắm, không thua thuở nào
Dẫu cho giờ có thế nào
Có chăng cũng chỉ chiêm bao mộng thường
Ngày xưa đã chẳng chung đường
Giờ thì mỗi đứa một phương an bình.

Nancy Hồng Phương

TÌNH THƠ (Lê Thị Hoài Niệm)

Kính thưa quý Thầy Cô & các anh chị,

Theo yêu cầu của “Chim Về Núi Nhạn”, chị Lê Phan Tuyết, tức nhà thơ Lê Thị Hoài Niệm, và cũng là tác giả của tuyển tập truyện ngắn “Vén Mây Tìm Lại Nửa Vầng Trăng”,  đã gởi tặng những tác phẩm mới của chị để giới thiệu đến quý thầy cô và các anh chị.
 
Xin cám ơn chị Hoài Niệm, chúc chị sớm bình phục để cung cấp những món ăn tinh thần cho thầy cô và đồng môn Phú Yên nói riêng, và cho nền văn học hải ngoại nói chung.

“Chim Về Núi Nhạn” sẽ lần lượt giới thiệu những tác phẩm của chị; và nhân “Lễ Tạ Ơn”, mời quý thầy cô và các anh chị cùng thưởng thức “Tình Thơ” mang nặng tình yêu “Núi Nhạn, Sông Đà”.

Trân trọng giới thiệu,
Thukỳ





THẦY TÔI (Cẩm Loan)

Tặng thầy HOÀNG THẾ HÀO
Thầy ơi! em sẽ bắt đầu bằng lời nào đây! Hơn bốn mươi năm xa cách. Mà hình bóng của một người thầy luôn đọng mãi trong ký ức người học trò năm xưa của thầy.
 Bước ngoặt lịch sử bốn mươi năm không biết thầy ra sao? -    dấu ấn quê hương, muôn vàn nhức nhối, vết thương chưa lành…!-  Mấy chục năm em luôn tìm kiếm hỏi thăm về thầy, cho đến bây giờ. Thầy ơi!...
       Em tạm gác lại bốn mươi năm. Chúng ta ngược dòng thời gian quay về những ngày xưa cũ dưới mái trường Nguyễn Huệ, tìm về kỷ niệm - Ở đấy, có thầy, có em, có bạn bè “trường cũ tình xưa”,  với những bình minh ngọt ngào…ký ức đẹp làm hồng đời nhau ở cái tuổi quá nửa đời người, thầy trò chúng ta tình cờ gặp lại.

**


Hình minh họa
Hồi đó, GS Hoàng Thế Hào dạy ở trường PTTH Nguyễn Huệ Tuy Hòa, thầy cũng là nhạc sĩ, vừa là họa sĩ . Thầy độc tấu guitare rất tuyệt, vẽ tranh rất có hồn…Tính thầy trầm lặng có vẻ lập dị, nhưng thầy hiền lành và sống tử tế. Thầy đi dạy, thường đi bộ đến trường và cũng hay vào tiệm sách như tôi… - Có một hôm thầy giáo bệnh nghỉ học,  tôi vào tiệm sách Vạn Kim, mua sách, đọc sách (nhưng hầu như tiệm sách nào cũng không lạ mặt tôi) Lần này, tôi ở ngoài quầy báo, thầy vào sau tôi, tôi cúi chào thầy. Hai thầy trò mạnh ai nấy xem báo, tôi chợt thấy tờ báo “Trắng Đen” có đăng bài nói về nhà thơ Quang Dũng – Tôi xem hết phần đó và để lại chỗ cũ ôm cặp quay ra đi về,  nhưng cũng không quên chào thầy! Bỗng thầy gọi tôi, giọng bắc nhẹ nhàng…
-Em… này!...chờ đã…
Tôi quay lại, thấy thầy cầm tờ báo “Trắng Đen” trên tay và đang trả tiền cho chị Huê, tôi dạ nhỏ, lễ phép chờ thầy. Hai thầy trò cùng bước xuống bực thềm, thầy đưa cho tôi tờ báo thầy nói với vẻ mặt tươi một chút nhưng không cười:
-Em cầm về đọc cho vui…
Tôi ngạc nhiên có chút ngại ngùng tôi đón nhận hai tay rất cung kính, tôi lễ phép nói:
-Dạ! em cảm ơn thầy, thưa thầy, thật ra em chỉ xem chỗ NT Quang Dũng mà thôi, nên em không mua…
Thầy cười nhẹ, hai thầy trò vừa đi vừa nói về thơ QD…Tản bộ về nhà, đến ngã rẽ, thầy  thuê nhà trọ gần trường Bồ Đề, còn tôi băng qua đường Trần Hưng Đạo qua con đường Trần bình Trọng, nhà tôi cách nhà thầy cũng không xa mấy – Cũng từ đó tôi thân với thầy hơn. Đôi khi tôi đến nhà thầy chơi (nhưng lúc nào cũng đi hai chị em, Lưu và tôi). Thầy hay hát cho tôi nghe, nhất là bài “Thu Quyến Rũ” có khi thầy đệm đàn cho tôi hát…Căn phòng thầy ở rộng,  tranh và cọ, mực ngổn ngang, có khi tôi xếp lại cho ngăn nắp giùm thầy, nhưng thầy lại sợ vạt áo dài trắng của tôi dính phải sơn…Thầy hay nhắc chừng:
-Em coi chừng dính sơn, mực vào áo bẩn đấy, để đó chút thầy dọn.
Thầy hay đem tranh ra cùng bàn bạc với tôi, thầy nói:
-Có khi tối ngủ thấy nguyên bức tranh, sáng lấy cọ pha mực vẽ ngay!
Nghe thầy nói vậy, nhưng lúc đó tôi chưa hình dung được cái cảm xúc thầy nói, đến tận bây giờ tôi mới suy nghiệm được, tôi làm thơ cũng có lúc như thầy.
Có lần thầy đưa bức tranh thầy mới vẽ thầy hỏi tôi:
-Em xem bức tranh thầy mới vẽ xong em đoán thử:
Tôi như đồng cảm với tác giả nên nhìn qua ứng xử cũng nhanh nhẹn
-Dạ! đây là bài thơ “Ngậm Ngùi”…
Thầy tươi nét mặt một chút và chỉ mỉm cười:
-Em cũng có tâm hồn nghệ sĩ đấy…
Nhớ cũng một lần nữa, thầy mang tranh hỏi tôi, lần này tôi đoán lâu hơn, nhưng thấy trong tranh có dòng sông xanh, em bé và cái thuyền giấy, tôi nói ngay:
-Dạ! em nhận ra rồi đây là bài thơ của Tagore.

Vào trại hè năm tôi học Đệ Tam, đêm văn nghệ tổ chức tại hội trường Nguyễn Huệ, lần này có NS Nguyễn Đức Quang từ Huế vào thăm đoàn HSPT NH cũng có mặt đêm văn nghệ, đêm đó tôi hát bài “Mưa Hồng” (của TCS) Anh Trần Hữu Bình đệm guitare cho tôi hát (do là anh tập bài này cho tôi), tiết mục kế là thầy HTH độc tấu guitare, khi thầy thả hồn theo từng nốt nhạc réo rắt, một số học sinh lắng nghe, còn một số cứ đi qua lại ồn ào không chú tâm; bỗng giữa chừng thầy bỏ đàn đứng lên đi xuống nét mặt buồn, thầy đi chậm rãi ra sân, tôi biết thầy buồn, tôi vội vàng chạy theo và cùng tản bộ về với thầy…Sáng đó tôi qua nhà anh Bình, anh Bình nói: “Tính gọi em đi về cùng, thì em đi với thầy Hào, anh tản bộ một mình” – Tôi cười để xoa dịu anh: “Anh thiệt tình, sao không gọi em ba người cùng đi luôn cho vui…” – Anh Bình tròn đôi mắt tinh nghịch cười : “Trời! sao mà ngây thơ vậy cô bé…”
Cũng vào năm này tôi và Nguyễn Hữu cùng đến nhà thầy nhờ thầy “biên tập” giùm tờ báo trường ... Thầy cũng tận tụy giúp chúng tôi hoàn thành tờ báo.

Tôi rất quý mến thầy, vì bản chất thật thà chân chính của một người thầy, còn có cái chất nghệ sĩ sâu sắc và phong cách đáng nể…
Những kỷ niệm tình thầy trò của một thời, dù cho lớp bụi thời gian kia có phủ mờ cuộc đời chăng nữa,  cũng khó mà quên được!

TUY HÒA 24. 11. 2015
CẨM LOAN (NGUYỄN THỊ TUYẾT 12A2 NH)



NỖI BUỒN MÙA TẠ ƠN (Phạm Hồng Ân)


Năm nào cũng vậy, cứ đến ngày lễ Tạ Ơn, sau khi đi nhà thờ, tôi liền phóng xe một hơi đến đường 50, ở tận East-San Diego. Tới căn nhà nhỏ cổ kính, có đám bìm bịp xác xơ thả ngọn phủ kín mái sau, tôi mới tấp vào lề, tắt máy xe, rồi buồn bã ngó vào căn nhà mà trầm ngâm nhớ đến những người ơn, bây giờ đã biệt tăm, không biết chừng nào mới gặp lại.
Tháng Chín năm 1993, gia đình tôi qua Mỹ theo diện HO. Những ngày đầu tiên ở San Diego, trong căn apartment rộng rãi đầy đủ tiện nghi, gia đình tôi có cảm giác như vừa đến một xứ sở thần tiên nào đó. Vài ngày sau, một bà Mỹ già đến gõ cửa. Bà tự nhiên tiến đến bắt tay chúng tôi và ôm từng người một vào lòng.
- Sao? Các con thế nào? Có khỏe không?

Tôi ngơ ngáo như người từ cung trăng vừa rớt xuống. Bà già Mỹ nào đây? Bà đi lộn nhà? Bà nhìn lầm người chăng? Tại sao bà tự nhiên quá cỡ thợ mộc, và thân thiết với mình quá đột ngột như đã từng quen biết với nhau từ lúc nào? Vợ tôi cũng hoảng lên, chạy vội đến bên tôi, nói nhỏ:
- Ông ơi! Ông phải cảnh giác nha! Không chừng ở đây cũng giống như ở Sài Gòn. Người ta lường gạt nhau ghê lắm!
Bà Mỹ già vẫn nhoẻn miệng cười với chúng tôi. Bà âu yếm xoa đầu thằng con tôi, và chầm chậm nói:
- Sao? Các con thế nào? Các con không biết nói tiếng Anh à? Good or no good?
Tôi lạnh nhạt nhìn Bà:
- Bà có lầm ai với chúng tôi không? Chúng tôi vừa mới đến đây, từ Việt Nam.
- Đúng rồi. Các con gồm ba người. Có phải các con tên này không?
Bà móc trong túi ra tờ giấy, lật lên, đưa tôi coi:
- Tên các con này! Đây, đúng không?
Tên của chúng tôi thật rồi. Trong giấy, người ta còn ghi rõ địa chỉ và số phòng apartment của chúng tôi nữa. Tôi chưa kịp rõ nguồn cơn, bà già Mỹ đã tiếp lời:
- Mẹ ở cơ quan thiện nguyện, có nhiệm vụ giúp đỡ các con . Mẹ tên là Maurice. Còn con, tên là “en” phải không?
Mẹ Maurice tự nhiên quá, thân mật quá, khiến tôi gọi trả lại bà la “mom” chẳng chút ngượng ngùng.
- Con xin lỗi Mẹ. Mẹ tới thăm chúng con, vậy mà chúng con vô tình không biết. Tên con là AN, không phải đọc là EN, Mẹ ạ!
Bà xuýt xoa quay qua vợ và thằng con tôi:
- Còn cô này và thằng này? Cái tên cũng khó kêu quá!
- Vợ con tên là T…U…Y…E…T…Còn thằng con tên là C…U…O…N…G…

Mẹ Maurice vừa cười vừa lắc đầu. Bà đọc tới đọc lui, vẫn lọng cọng, vẫn không thể gọi tên vợ và thằng con tôi một cách chính xác. Cuối cùng, Mẹ dắt tôi ra xe, mang vào nhà lỉnh kỉnh những túi xách. Mẹ vui vẻ bày từng món lên chiếc thảm màu vàng rực.


- Đây là bình trà và sáu cái tách dễ thương. Đây là lô dĩa chén cho các con dùng bữa. đây là chậu rửa rau, bình pha cà phê, máy xay sinh tố, máy xay thịt. Còn cái này là nồi nấu cơm, nồi hầm thịt, chảo chiên trứng…
Vợ tôi trố mắt nhìn từng cái. Nàng rất đỗi vui mừng vì được làm chủ những vật dụng mà từ trước tới giờ nàng chưa bao giờ chạm tay tới.
- Con rất cám ơn Mẹ. Mẹ đã tặng các con những vật dụng quí giá. Khi xài chúng, chắc con sẽ luôn nhớ đến Mẹ.
- Mẹ không cần các con nhớ Mẹ đâu. Mẹ muốn phần nào hàn gắn lại vết thương mà thời gian qua chính phủ Mỹ đã bạc đãi các con trong chiến tranh Việt Nam.

Tôi cảm động đến rưng rưng nước mắt. Mẹ Maurice đã làm tôi nhớ lại chiến trường, nhớ đến đồng đội. Tội nghiệp cho tuổi trẻ chúng tôi, vừa lớn lên, xếp bỏ bút nghiên để hiến thân bảo vệ đất nước. Và đau đớn thay, chúng tôi bị bức tử, bị lùa vào ngục tù một cách tức tưởi.
- Bây giờ Mẹ có việc phải đi ngay. Ngày mai hai đứa con của Mẹ: thằng David và con Ann sẽ đến đây dẫn các con đi chợ. Chào các con nha! Chúc các con một ngày tốt đẹp.

Tôi đưa Mẹ Maurice ra cổng. Nhìn dáng Mẹ tất bật, vội vã– tôi chợt nhớ đến Mẹ tôi ở Việt Nam. Ôi! Những bà Mẹ, dù khác giống nòi, khác màu da…đều có chung một tấm lòng giống nhau – một tấm lòng bao dung, độ lượng… cao như núi non, rộng như biển cả.
Đúng như lời Mẹ Maurice hứa, trưa hôm sau, có hai vợ chồng trẻ người Mỹ đến gõ cửa phòng tôi.
- Chào ông bà. Xin giới thiệu tôi là David, còn vợ tôi là Ann. Chúng tôi đến đây để đưa ông bà đi chợ. Mời ông bà ra xe.
Ann đưa vợ tôi vào một ngôi chợ Mỹ. Còn David chở tôi đi lòng vòng. Hắn tắp xe vào những khu có cộng đồng người Việt sinh hoạt, giới thiệu với tôi từng chi tiết. Trò chuyện một lát, hắn và tôi thân thiện nhau ngay.
- Mày có thích ra biên giới Mễ nhìn cho biết không?
Tôi ngập ngừng, ngần ngại:
- Ở gần đây không? Xa thì thôi. Sợ làm phiền mày.
- Gần đây. San Diego sát với biên giới Mễ mà. Mày chưa coi bản đồ sao?
David chạy một hơi đến biên giới. Hắn lái xe giỏi thật! Hắn xàng qua lách lại điêu luyện như tên nài chơi ngựa trong trường đua. Cuối cùng, hắn dừng lại trên một đỉnh cao.
- Nhìn kìa! Mày có thấy border/biên giới phía tay phải không? Bên kia là Mễ. Mày sẽ có dịp qua đó du lịch, khi mày cầm thẻ xanh trong tay.

Tôi nhìn border phía trước. Border chỉ là một cánh cổng rộng cho sự ra vào hợp pháp giữa hai bên. Mù mờ tít xa là nước Mễ bao la. Cũng những cụm mây xám sà xuống với hàng loạt dãy núi kéo dài.
David đưa tôi về Apartment cũng vừa lúc Ann và vợ tôi xách lỉnh kỉnh những túi thức ăn vào nhà. Vợ tôi không giấu được nỗi vui mừng, cứ cười toe toét:
- Gần năm chục đồng thức ăn đó anh ạ! Mình không dám mua nhiều, nhưng chị Ann cứ bảo: lấy đi, lấy đi! Chị sẽ trả tiền cho. Mình ngại quá anh à!


Từ đấy, gia đình tôi và gia đình Mẹ Maurice gắn liền với nhau như bóng với hình. Cuối tuần, David lái chiếc truck đến nhà gọi tôi đi làm công tác thiện nguyện. Công tác chỉ vỏn vẹn vài tiếng đồng hồ. Chúng tôi thường đến giúp đỡ những người già neo đơn. Đôi khi giúp họ ăn uống. Đôi khi dọn dẹp rác rến trong garage. Đôi khi cắt cỏ xung quanh nhà. Đôi khi di chuyển một món đồ nào đó qua nơi khác… Lần đi nào, Mẹ Maurice cũng dành cho tôi một phần ăn to tổ bố.

Và sau chuyến công tác, Mẹ luôn thân thiện đặt vào túi tôi những tờ giấy bạc mười đồng.
Một hôm, David lù lù tới, trao tận tay tôi một chiếc xe đạp mới toanh, và một tấm giấy của Mẹ Maurice:
“Certificate chứng nhận chiếc xe đạp này của AN do Mẹ Maurice thân tặng.”

Trước khi về, David còn nhấn mạnh:
- Mẹ có dặn, mày nhớ đạp xe đến thăm Mẹ vào mỗi ngày cuối tuần.
Nghe lời Mẹ, cứ mỗi cuối tuần, tôi đạp xe từ đường 43 đến đường 50 thăm Mẹ. Mẹ ở với vợ chồng David trong một ngôi nhà nhỏ nhắn, nhưng rất xinh xắn. Tôi thích những hàng cây xung quanh nhà, David trồng đủ loại, từ cam, quít, chanh… đến nho, lê, táo.

Buổi sáng, Mẹ Maurice thường ngồi uống cà phê với Ann nơi chiếc bàn bằng đá, dưới bóng mát của tàng cam xum xuê trái. Lúc nào Mẹ cũng để dành cho tôi một phần hot dog với tách cà phê sóng sánh hương vị. Mẹ luôn xem tôi như một người con trong gia đình. Tôi cũng vậy. Tôi tự nhiên như anh em với David từ lâu, tôi cần cù bầu từng nhánh cam, chiết từ cành quít cho David trồng thêm trên phần đất trống xung quanh nhà. Nhìn những nhánh cây mọc rễ trắng xóa trong bầu, Mẹ Maurice thích chí cười ha hả:
- Thằng này giỏi thật! Vậy mà thằng David không biết cứ xách tiền đi mua từng cây về trồng. Nhờ con, bây giờ Mẹ chỉ cần chiết nhánh, rồi chờ ngày bén rễ đem xuống đất vun phân tưới nước. Vừa tiết kiệm tiền, vừa tiết kiệm công. Hay quá!

Ngày qua ngày, tám tháng trợ cấp của chính phủ Mỹ vùn vụt trôi qua. Tôi chưa kịp có ý định tìm việc làm thì Mẹ Maurice đã nhắc David:
- Thằng An sắp hết trợ cấp. Ngày mai con dắt nó xin việc làm đi!
David nheo mắt, ngó tôi từ đầu tới chân:
- Ê, ở Việt Nam mày làm nghề gì?
Tôi cười hề hề, rồi đưa ngón tay trỏ lên, cong lại:
- Bóp cò.
- Trời đất! Mày đùa hay nói thật, thằng quỷ?
Mẹ Maurice chêm vào:
- Thì nó đi lính, ngày xưa…
David nhảy chồm lên, hớn hở:
- Vậy, tao có job cho mày rồi.
- Job gì?
- Security.
Ngày mai, sáng sớm, chưa kịp nhâm nhi ly cà phê đầu ngày, tôi đã thấy chiếc truck của David sà ngay cổng apartment. Hắn tức tốc bốc tôi lên xe, chạy một mạch đến các hãng security nằm trong vùng San Diego. Đi tới đâu, khi nhìn bộ vó chưa đầy 48kg của tôi, ai ai cũng lắc đầu từ chối. Tức quá, David nổi khí xung thiên, vừa chỉ vào người tôi, vừa lớn tiếng với ông Mỹ, chỉ huy toán security:
- Ê! Mấy ông đừng coi thường thằng này nha! Nó chuyên môn bóp cò ở xứ nó đó. Ê! Nó là sĩ quan chỉ huy, thâm niên công vụ… Mấy ông biết không?
Toán security lao nhao, tên chỉ huy phải chạy đến gần David, xuống nước nhỏ:
- Khi nào opening job, tôi hứa, tôi sẽ gọi điện thoại cho ông.
David lôi tôi phóng lên xe, trước khi rồ máy chạy, hắn còn nói vói theo tên chỉ huy:
- Ê! Hứa giữ lời nha! Tao chờ điện thoại tụi bây đó.
Mẹ Maurice buồn rầu khi nghe David kể lại chuyện tìm job của tôi. Mẹ cũng rưng rưng nước mắt khi nhìn lại thân thể gầy gò ốm nhách ốm nhom của tôi.
- Con phải uống sữa, ăn thịt bò hàng ngày… để có da có thịt một chút. Có sức khoẻ, con mới làm việc được.
Nghe lời Mẹ dặn, sau vài tuần tẩm bổ, tôi đã lên cân vù vù. Và kế đó, tôi cũng đã tìm được việc làm ở một hãng golf. Mặc dù đồng lương giới hạn, nhưng công việc bận rộn liên miên. Tôi làm overtime lu bù. Có khi làm luôn cả ngày chủ nhật.

Lần đầu tiên là nhân viên một hãng xưởng, nên tôi rất thích thú và đam mê công việc, vì vậy một thời gian dài tôi đã không đến viếng thăm Mẹ Maurice.  Có lẽ vì bặt tin tôi, nên ngày chủ nhật hôm đó, Mẹ Maurice lọ mọ đến tìm tôi. Trời ơi! Mẹ Maurice đây sao? Một bà già Mỹ yếu ớt, chống gậy liêu xiêu gõ cửa apartment.
- Mẹ ơi! Làm sao Mẹ ra nông nỗi này hỡi Mẹ?
- Mẹ bị stroke con ạ! Mẹ đến thăm con lần này, rồi Mẹ sẽ về New York, gần gũi với đứa con gái của Mẹ.
- Chuyện gì đã xảy ra cho Mẹ?
- Không. Chẳng có chuyện gì hết. Mẹ muốn đi thăm con gái.

Tôi ôm Mẹ Maurice vào lòng, và chợt nghĩ đến những nỗi đau âm thầm mà những người Mẹ đã một mình gánh chịu. Sự hy sinh vô bờ bến đó chỉ có trong trái tim, trong tấm lòng người Mẹ. Mẹ Maurice và Mẹ ruột của tôi giống nhau ở điểm này.

Thời gian dài sau nữa, tôi hoàn toàn mất liên lạc với Mẹ Maurice, David và cả Ann. Rồi một hôm, trong lòng tôi bỗng xốn xang bức rức, như có linh tính báo về điềm xấu nào đó, tôi vội xách xe chạy lên đường 50. Căn nhà xinh xắn vẫn còn đây. Những hàng cây xum xuê trái vẫn dày đặc bóng mát. Cái bàn đá vẫn ở chỗ cũ. Những nhánh cây do bàn tay tôi chiết cho David giờ đã mơn mởn xanh, phơi phới đón gió chiều. Chỉ có căn nhà là đổi chủ.

Người ra tiếp tôi là một ông Mễ bụng phệ. Ông ta cho tôi biết David và Ann đã ly dị nhau, và họ đồng ý bán căn nhà này lại cho ông. Còn bà Maurice mất rồi, hình như bà mất lúc đang ở New York thăm con gái. Tôi xin phép hỏi thêm vài câu nữa, nhưng ông ta lắc đầu và khép cánh cửa lại.

Như có ai cầm dao đâm thấu tim gan mình, tôi lảo đảo ra xe, gục mặt vào tay lái, thổn thức từng cơn. Trời ơi! Tôi đã vô ơn với Mẹ Maurice. Tôi đã bội nghĩa với David và Ann. Niềm hối hận này, không biết bao giờ mới xoa dịu được. 
Thưa Mẹ Maurice,
Hôm nay, con viết bài này như nén nhang kính dâng lên Mẹ, như ngàn lời  tạ lỗi cùng Mẹ, và rất mong Mẹ rộng lượng thứ tha cho đứa con nuôi vô ơn và bạc nghĩa này.

Cho tới bây giờ, tôi vẫn chưa gặp lại David và Ann. Chẳng biết họ đã nối lại tình xưa hay mỗi người mỗi nơi với cảnh ngộ khác nhau?

Và mùa lễ Tạ Ơn nào cũng vậy, tôi luôn phóng xe đến đây với chai rượu trong tay, cố gắng xóa đi nỗi buồn khi tưởng nhớ.
Phạm Hồng Ân