Thursday, April 26, 2018

THIẾU TƯỚNG TRẦN BÁ DI: NIỀM HẢNH DIỆN CỦA QLVNCH (Hương Nam)


Thiếu Tướng Trần Bá Di: Niềm hãnh diện của QLVNCH
Hương Nam
 
Cựu Thiếu Tướng Trần Bá Di
Nguyên Tư Lệnh Sư Đoàn 9 Bộ Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. 

Nguyên Tư Lệnh Phó Quân Đoàn 4, Nguyên Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Ông là một trong những vị tướng sau cùng rời khỏi Viet Nam sau khi bị Việt cộng cầm tù hơn 17 năm khổ sai, vừa từ trần lúc 4:30 ngày Thứ Sáu 23 tháng 3 năm 2018 tại TP Orlando, Tiểu bang FLORIDA. Hưởng thọ 88 tuổi.

Thiếu Tướng Trần Bá Di là một trong bốn vị Tướng sau cùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mà Cộng Sản Việt Nam đã thả sau 17 năm giam cầm trong lao tù. Nói đến Thiếu Tướng Trần Bá Di, những người đã từng biết ông, ai cũng thương mến và ca ngợi đức tánh xuề xòa, chân thật, bình dị, hết lòng với anh em nhưng rất kiên cường, bất khuất trước địch quân của ông.

Xuất thân trường Võ Bị Đà Lạt khoá 5, ông làm Tỉnh Trưởng Cần Thơ từ năm 1962 đến 1964. Sau đó, ông đi tu nghiệp tại Hoa Kỳ và trở về làm Phó Tư Lệnh Sư Đoàn 9. Sau Tết Mậu Thân, ông được vinh thăng làm Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn IV. Năm1970, ông lại trở về Sư Đoàn 9 với chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn. Cho đến năm 1974, trước khi đổi về Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung và làm Chỉ Huy Trưởng đến ngày mất nước, ông phụ trách Tư Lệnh Phó Quân Đoàn 4/ Quân khu 4.

Dưới quyền lãnh đạo của ông, Sư Đoàn 9 đã mang lại rất nhiều chiến công hiển hách cho quân sử của QLVNCH và cho lịch sử của dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến chống lại xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt. Đặc biệt, Tết Mậu Thân, Việt Cộng tràn ngập tỉnh Vĩnh Long. Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 15 Trần Văn Thì vắng mặt trong lúc Trung Tá Tỉnh Trưởng Huỳnh Ngọc Điệp bị thương mấy ngày trước Tết và Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa tân Tỉnh trưởng còn đang trên dường chưa đến nơi nhậm chức được. Thời gian này Thiếu Tướng Trần Bá Di làm Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 9, ông đã đơn thân độc mã dùng trực thăng đáp xuống giữa vòng lửa đạn tự tay xách theo một máy truyền tin PRC 25 mà không có người lính hay tùy viên cận vệ nào đi theo tháp tùng cả, để điều động các đơn vị phản công và giải cứu Vĩnh Long, trong đó có Tiểu Đoàn 2 Trung Đoàn 15 từ Măng Thít kéo về, tiếp tục kháng cự cho đến khi Cộng quân rút lui. Là một vị trí chiến lược rất quan trọng, Tỉnh Vĩnh Long nối liền Sa Đéc với Bắc Mỹ Thuận. Chiếm được Vĩnh Long, Cộng quân sẽ chiếm được Mỹ Tho, Long An, cắt đứt đường tiếp viện từ miền Tây và sẽ tiến chiếm dễ dàng Saigon và Tổng Tham Mưụ. Do đó, giữ được tỉnh Vĩnh Long, ông đã tạo nên chiến công oanh liệt. Thời gian không lâu sau ông được vinh thăng Chuẩn Tướng”.
 
Từ trái: Cựu Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, cựu Thiếu Tướng Trần Bá Di

Cuối năm 1970, Sư Đoàn 9 là Sư Đoàn đầu tiên hành quân lưu động khắp vùng 4, không còn lãnh trách nhiệm bảo vệ lãnh thổ khu 41 chiến thuật (gồm các tỉnh Long Xuyên, Sa Đéc, Vĩnh Long, Vĩnh Bình). Do đó, Trung Đoàn 14 thuộc Sư Đoàn 9 được điều động xuống quận Kiên Long, tỉnh Chương Thiện là vùng trách niệm của Sư Đoàn 21 Bộ Binh để ngăn chặn ý đồ xâm nhập vùng đồng bằng Cửu Long, triệt tiêu đường vận chuyển của Việt Cộng.

Năm 1973, một lần nữa, Trung Đoàn 14 Sư Đoàn 9 đã tạo nên chiến công hiển hách, đánh tan một Trung Đoàn Công Trường 9 của Việt Cộng tại Đồng Tháp mười thuộc tỉnh Kiến Phong cũ, tịch thu một số lượng lớn vũ khí và lương thực lúa gạo của chúng. Chiến thắng oanh liệt này đã khiến Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa cùng Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH phải đáp trực thăng xuống tận trận địa để thị sát chiến trường và xem xét chiến lợi phẩm do các chiến sĩ Sư Đoàn 9 mang về. Năm 1970, thừa lệnh Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, tướng Trần Bá Di chỉ huy Sư Đoàn 9 Bộ Binh đã vượt biên giới, tấn công tận sào huyệt của Cộng quân ở Mật Khu Ba Thu trên lảnh thổ Campuchia, tạo an ninh cho suốt vùng lãnh thổ hai bên bờ biên giới từ Rạch Giá, Hà Tiên, Châu Đốc, Kiến Phong đến Kiến Tường nối tiếp với Quân đoàn 3, vùng 3 Chiến Thuật Việt Nam Cộng Hòa. Từ đó, Sư Đoàn 9 được mệnh danh Sư Đoàn Mũi Tên Thép. Các chiến sĩ Sư đoàn 9 được mang dây biểu chương màu Tam Hợp Bảo Quốc. Năm 1971, Trung Đoàn 16 Bộ Binh của Sư Đoàn 9 đã ổn định vùng Thất Sơn Châu Đốc, Trung Đoàn 15 Bộ Binh đã đánh đuổi Cộng Quân, tái lập an ninh cho vùng Ba Hòn gồm Hòn Đất, Hòn Me, Hòn Sóc. Mùa hè đỏ lửa 1972, Trung Đoàn 15 Bộ Binh là một trong những lực lượng giải tỏa chiến trận tử thủ An Lộc.

Những ngày cuối tháng 4 năm 1975,Thiếu Tướng Trần Bá Di trong chức vụ Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Ông ở lại tử thủ đơn vị, chống lại xâm nhập của Cộng Quân từ Hậu Nghĩa cho đến giây phút cuối cùng. Mặc dù dưới tay là những tân binh quân dịch không có kinh nghiệm chiến trường nhưng ông vẫn chỉ huy tài giỏi bảo vệ được đơn vị, không cho Việt Cộng xâm nhập Trung Tâm và bắn hạ được 4 chiến xa của Cộng quân.

Là Tư Lệnh của một Sư Đoàn đã mang về rất nhiều chiến công lừng lẫy, Thiếu Tướng Trần Bá Di luôn sát cánh cùng các chiến hữu trên khắp các mặt trận và hài hòa với anh em trong mọi hoàn cảnh. Ông thường xuyên ngồi trực thăng thị sát các mặt trận để quan sát và điều động các đơn vị thuộc Sư Đoàn. Phi công trực thăng nghe nói phải lái cho Tướng Di là điều ngao ngán bởi vì mỗi ngày ông chỉ mang theo một gói bắp nấu hoặc bánh mì để bay trực thăng không biết mệt. Ông đã xin Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng để được huấn luyện và cấp phát bằng lái trực thăng, phòng ngừa trường hợp người phi công mỏi mệt, ông sẽ tự tay lái. Vì sự can đảm và bền bỉ này của Tướng Di, nên đã nhiều lần Cộng quân tìm các mưu sát ông như có lần chúng cho gài chất nổ ở bãi đáp trực thăng Núi Sam, Châu Đốc năm 1970, một lần khác trực thăng của ông bị chúng bắn sẻ phải đáp khẩn cấp giữa đồng ruộng vùng Đức Tôn, Sa Đéc, nhưng nhờ ơn trên ông đã an toàn.

Trong lao tù Cộng Sản, Thiếu TướngTrần Bá Di nổi tiếng là một tù nhân không khuất phục Cộng Sản, xứng danh là Tư lệnh của Sư Đoàn 9 Mũi Tên Thép. Ông chống đối lao động cải tạo, không nói chuyện với quản giáo, quản chế. Nếu muốn nói chuyện với ông phải từ cấp Trưởng Trại trở lên. Ông tuyệt đối không ca hát nhạc Việt Cộng dù bị bắt buộc. Ông đã giữ đúng tư cách một vị tướng anh hùng của Quân Lực VNCH.

Nhắc đến Thiếu Tướng Trần Bá Di, không ai không cảm mến con người rất mộc mạc, bình dị, hòa đồng với thuộc cấp, chân thật với đồng đội như ông. Thiếu Tướng Trần Bá Di là một trong các vị Tướng trong sạch, đáng kính mến của miền Nam Việt Nam, là niềm hãnh diện cao quý của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Hương Nam

BIỂN THỜI GIAN (Diệp Thế Hùng)


BIỂN THỜI GIAN
Thời gian của vũ trụ là vô thủy vô chung. Chúng ta chỉ định nghĩa
thời điểm bắt đầu của một hiện tượng, thí dụ điểm bắt đầu của vũ
trụ hiện tại (lúc Big Bang), nhưng làm sao biết được trước Big
Bang là gì. Trên dòng thời gian vô hạn ấy, đời sống nói chung
(nhân sinh, thú vật, cây cỏ) chỉ bắt đầu không lâu.  Chúng ta
không biết trong vũ trụ bao la có một nơi nào có một hình thức
của đời sống hay không. Có thể là chúng ta là độc nhất, cô đơn
trong vũ trụ. Nghĩ đến điều ấy, nhiều người sợ hãi. Thêm vào đó,
đời sống của một người trung bình không quá 100 năm. Chúng ta
có thể là độc nhất biết cái chết là gì, và biết cái chết đợi mình,
không ai tránh được, như hai câu thơ của Văn Thiên Tường
(tướng, nhà Tống, thế kỷ 13)
"Nhân Sinh Tự Cổ Thùy Vô Tử
Lưu Thủ Đàn Tâm Chiếu Hãn Thanh”
(Kiếp người xưa nay ai không chết ? Hãy để lòng son chiếu sử xanh)
May mắn là nhân sinh biết tình yêu, biết thương đồng loại, biết
phục vụ cho đồng loại và biết tôn trọng những giá trị. Cuộc đời dù
ngắn ngủi vẫn đáng sống. Một người chỉ chết hẳn khi không còn
người nào nghĩ đến người ấy nữa. Bởi vậy, câu thơ thứ nhì của
Văn Thiên Tường đề cập đến danh tiếng phải để lại sau khi chết.
Tình yêu thuở ấy không ai đề cập trong văn thơ, cho đến gần đây
(ở Việt Nam từ lúc Phong Trào Thơ Mới khởi đầu những năm
trước 1930 với Tản Đà và tiếp tục đến 1941, xem
http://www.chimvenuinhan.com/2017/03/tho-moi-va-tho-cu-
diep-hung.html 3Mar2017 DO DANG+THO MOI VA THO CU).
Bài thơ dưới đây diễn tả tâm trạng buồn miên man của một người
trước một bối cảnh vô thời gian của thiên nhiên.  Nhưng nhờ tình
yêu, và nhờ dấu vết của đời sống (bốn câu cuối), người trong thơ
cảm thấy tâm hồn bình thản.

BIỂN THỜI GIAN

Nắng rọi long lanh bãi cát vàng
Lăn tăn sóng vỗ bọt bèo tan
Trời xanh vô tận vài mây trắng
Chợt thấy buồn dâng lên miên man

Cảnh đẹp từ xưa vẫn thế này
Rồi trăm năm nữa cũng không thay
Nhưng tôi không biết về đâu nhỉ ?
Biển vẫn còn đây, mây vẫn bay
Sao lại bâng khuâng kiếp thế nhân ?
Sinh ra rồi chết cõi dương trần
Đôi vầng nhật nguyệt xoay hờ hững
Người đến người đi mỗi số phần
Vì thế em ơi hãy đắm say
Hãy yêu như chỉ có hôm nay
Cho nhau tất cả tim và xác
Không chắc ngày mai vẫn thế này
Vẫn biết yêu là có lúc sầu
Đường vào hạnh phúc lắm buồn đau
Nhưng đời vô nghĩa không tình ái
Đời sẽ buồn tênh chẳng sắc màu
Gió thổi mơn man bãi biển chiều
Trên không vài tiếng hải âu kêu
Ngoài khơi lướt nhẹ đôi buồm trắng
Tôi nhớ em yêu, nhớ rất nhiều.
Diệp Thế Hùng (La Palmyre, 19/04/2018)

ANH Ở ĐÂY & HÃY THA THỨ CHO EM (Thục Vũ)






Những ngày tháng đầu tiên sau khi các "người Tù" được chuyển về các trại Tù như Long Giao, Suối Máu,Trảng Lớn, Tống Lê Chân  v. v. của sau 30/4/1975.  Hầu như tất cả mọi người TÙ ai cũng đều nghe đều hát nho nhỏ bài hát "ANH Ở ĐÂY"  của Nhạc Sĩ Thục Vũ. Bài hát được nhanh chóng lan truyền khắp nơi mang niều u uẩn nghẹn ngào khi bị lùa vô các trại TÙ .

Khi ra Bắc, vẫn nhạc ấy nhưng do Trung Tá Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm sáng tác lời hai... buồn muốn chết được, và lòng người Tù muốn quên cảnh đời đen bạc ấy nên vẫn ngày ngày vê va bài hát ANH Ở ĐÂY với cả hai lời. 

     Xin click link phía dưới đễ nghe nhạc. 
                 Anh ở đây









THÁNG TƯ NĂM ĐÓ (Thukỳ)

THÁNG TƯ NĂM ĐÓ (Thukỳ)

Những chuyện buồn viết về “Tháng Tư Đen” khá nhiều, nhưng mỗi người có một kỷ niệm khác nhau.  Nhân dịp kỷ niệm 43 năm ngày mất nước,  Thukỳ muốn kể lại câu chuyện chính bản thân mình trong những tháng ngày đau thương đau đó, với cả triệu câu hỏi mà không có một câu trả lời chính đáng; nỗi niềm lo âu ấy còn nhớ mãi cho đến hôm nay.

Lúc đó, vợ chồng Thukỳ đang ở Vĩnh Long, chuẩn bị đưa con về nhà nội để ăn mừng đầy tháng cho đứa con trai đầu lòng Nguyễn Thế Duy Cường, nhưng chưa kịp đi thì cái ngày đau thương đến.

Những ai bị kẹt lại Việt Nam cũng đều trải qua cái thời được chế độ mới gọi là “bao cấp”, một chính sách mà những người Cộng Sản muốn nắm bao tử của người dân bằng chế độ “tem phiếu” và “hộ khẩu” để cai trị, nên cho dù có tiền đi chăng nữa cũng chẳng mua được thực phẩm từ những “hợp tác xã”...

Lúc đó Thukỳ còn quá trẻ nên mọi việc đều do OX lo. Thấy chồng lo lắng đủ thứ cũng chẳng hiểu là lo cái gì, chỉ nghĩ đơn sơ là anh sẽ không còn làm việc nữa, như vậy thì sẽ về Sài Gòn buôn bán….

Mấy ngày sau tình hình lắng dịu, chúng tôi làm một “tiệc” nho nhỏ mừng đầy tháng cho cháu.  Nhìn đứa con đầu lòng và khuôn mặt buồn rười rượi của Thukỳ, anh an ủi: “Đừng buồn nhé, anh hứa sẽ làm sinh nhật 1 tuổi cho con thật lớn…” Rồi anh phải lo về SG để xem tin tức anh em gia đình….Lúc ấy anh chồng tôi (anh Vinh) đang làm tại Châu Đốc và nghe nói đã bị bắt tại đây, không biết vợ con anh ra sao?  Tôi để anh đi một mình vì lúc ấy tôi đang làm việc ngân hàng ở Vĩnh Long, tôi cũng phải trở lại đi làm.

Khi đến trình diện ngân hàng,  tôi phải “học tập’ ngay tại cơ quan mấy ngày, sau đó may mắn được tiếp tục làm việc với rất nhiều người mới của VC.  Những ngày đi làm 8 tiếng phải thuê người giữ con, rồi đến cuối tháng cũng không thấy phát lương.  Ông giám đốc nói phải chờ vì làm không kịp.

Chồng tôi lại trở lại Vĩnh Long để giã từ vợ con đi trình diện “học tập cải tạo” tại trường Gia Long SG mà Ủy Ban “Quân Quản” ra lệnh cho “ngụy quân, ngụy quyền” chuẩn bị hành trang cho một tháng; nên chồng tôi nghĩ là chỉ vắng nhà khoảng 30 ngày, nên anh lo cho tôi và con những thứ cần thiết trong vòng 1 tháng, với hy vọng khi trở về sẽ  tính sau.  Làm sao tôi quên được ngày anh từ giã ra đi anh nói:
-Em ở nhà nhớ lo cho con, anh đi 1 tháng anh về nhé, ngoan em nhé.”
Lúc ấy tôi còn trẻ quá nên anh hay dặn tôi ngoan ngoãn, mà tôi ngoan thật vì có biết gì đâu, chồng bảo sao nghe vậy...

Tôi ở lại Vĩnh Long 3 tháng đi làm và cuối cùng không lãnh 1 xu nào, tiền bạc chắng còn, chồng thì không thấy, đành phải bế con về lại SG nhà mẹ chồng để tạm sinh sống.

Cho đến giờ này khi viết lại những tháng ngày đầu của 30/4 năm ấy tôi còn nghẹn ngào rơi lệ và cũng không hiểu sao mình có thể vượt qua biết bao khó khăn, sóng gió...Đâu biết rằng cái ngày chia tay cho chồng đi “cải tạo’ 1 tháng là kéo dài vĩnh viễn mất 10 năm?? !! Cái đau thương nhất là không hề có tin tức trong 3 năm đầu, chồng tôi thì gầy còm yếu đuối, cả nhà ai cũng nghĩ anh đã chết dù không ai dám nói ra.

Ngày sinh nhật con tôi 1 tuổi cơm không có mà ăn, đói khổ triền miên, nghĩ đến lời anh hứa tôi đã khóc như mưa khi nhìn con không quà không bánh, không cha!!! Dù anh không muốn hứa “lèo” thì anh cũng không còn cơ hội thực hiện bất cứ lời hứa nào cho người vợ trẻ, cứ tưởng cuộc đời sẽ được anh che chở, bảo bọc nhưng không ngờ suốt kiếp lần than phải chịu một mình tần tảo nuôi con, cho đến khi con 11 tuổi mới được đoàn tụ.

Một cơn ác mộng dài trải qua cho tôi và cho nhiều người vợ trẻ với bao nước mắt khóc cho vừa.  Mỗi lần 30 tháng Tư đến như là một mũi dao đâm xuyên qua trái tim tan nát, muốn quên đi nhưng nào dễ để quên, còn lại bao nhiêu năm của “Tháng Tư Đen” trong quãng đời còn lại là bao nhiêu ngậm ngùi chua xót đớn đau.  

Xin cầu chúc cho mọi gia đình may mắn đoàn tụ nơi đây tràn ngập niềm vui, nhưng cũng đừng quên những gia đình kém may mắn có chồng bị chết trong trại “cải tạo”, để lại vợ con không biết bây giờ lưu lạc nơi đâu.  

Nguyện xin cho họ được mọi sự an lành và nhiều may mắn.  Xin thắp nén hương cho các anh những linh hồn đã bỏ xác nơi rừng sâu núi thẳm, trong đó có nhiều người mà người thân không biết ngày chết để tưởng nhớ.

Thukỳ.

TÌNH CA TRÊN LÚA ( Minh Hùng- trình bày)

Xin bấm vào chữ đỏ để nghe tiếng hát Minh Hùng.



Tình Ca Trên Lúa
Tác giả: Hoàng Thi Thơ

Trên đồng lúa vàng, một bầy sơn ca
Trên đồng lúa vàng, chỉ mình đồi ta
chỉ mình đồi ta, nhìn mây, mây ngập ngừng, nhìn chim, chim ngại ngùng, mình nhìn nhau, nhìn được lòng thẹn thùng trên đôi má em hồng hồng

Trên đồng lúa vàng, một chiều yêu em
Trên đồng lúa vàng, ngàn đời không quên
ngàn đời không quên, vừng trăng trên trời, ngàn sao cao vời vợi, mình nhìn nhau, nhìn được tình phơi phới trong mắt em tuyệt vời

Ta yêu nhau trên đồng lúa vàng
Ta quen nhau ngày lúa còn xanh
Ta quen nhau khi bày én lượn, đôi cò nào hạ cánh vu vơ
Ta yêu nhau khi ngọn lúa vàng, ngọn gió chiều thoạt mát đưa ru



CON TÀU TỰ DO (Ngư Sĩ)





Tàu chở nặng nhã khói đen ủ rũ
Giờ sau cùng thôi vĩnh biệt quê hương
Bỏ lại mẹ cha hình ảnh thân thương
Bỏ tất cả quãng đời năm tháng cũ....


Lặng lẽ ra khơi trùng dương lướt sóng
Mắt ai mờ đẫm lệ cuối chân trời
Không kịp tiễn người vội vã ra khơi
Tàu vật vã giữa sóng to biển động


Ngày ấy Tháng Tư đất trời chuyển động
Mưa gió não nùng khóc cõi thế gian
Khói lửa điêu linh đất nước lâm nàn
Miền Nam đau dưới gót giầy giặc Cộng


Con tàu nhỏ lắc lư thầm than thở
Miền Nam ơi! dâu bể cuộc đổi đời
Để người đi kẻ ở biệt ly thôi
Ngâm "tống biệt" dạ hành thân lữ thứ !...


Tàu đưa ta đi tuổi  xuân hé nụ
Thoáng thời gian tóc trắng nhuộm mây trời
Trán rẽ lối mòn non nước đầy vơi
Nghe sóng vỗ ngỡ tàu về bến cũ.....

Ngư Sĩ  

TÂM SỰ NGƯỜI TRỞ VỀ TRÊN TÀU VN THƯƠNG TÍN (Ngọc Phan)



Tàu Việt Nam Thương Tín ra đến sông Lòng Tảo bị Cộng quân nã B-40 vào hông tàu, làm thủng một mảng lớn. Nhà Văn Chu Tử, Chủ Nhiệm Nhật báo Sống ở Sàigòn đã bị đạn B-40 của Cộng Sản Việt Nam giết chết trên tàu Việt Nam Thương Tín. Vậy mà khi cập bến Guam, phần do nội tuyến VC tuyên truyền, phần vì ly biệt người thân, 1652 người đã chấp nhận lên tàu Việt Nam Thương Tín quay trở lại Việt Nam, vào tháng 10/1975, dưới sự điều khiển của Hải Quân Trung Tá Trần Đình Trụ.
  

Sau khi cập bến, tất cả những người trở về đã bị cầm tù ngoại trừ một bé trai 7 tuổi.

Cựu Trung Tá Trụ đã bị tù 13 năm. Cuối cùng ông được trả tự do và ông cùng với gia đình đã được định cư tại Hoa Kỳ qua diện HO năm 1990.

Kể từ khi cộng sản chiếm đóng miền Nam, nhiều người đã hậm hực tiếc rẻ không chạy thoát trước ngày 30/04, ra nước ngoài. Vì thế, mọi người đã sững sờ khi nghe tin hơn 1600 người "đòi về" với chế độ cộng sản chứ không thèm ở trên xứ tự do!

Người Mỹ trên đảo lúc đó đã tìm đủ mọi cách để dỗ dành, chiều chuộng họ để họ ở lại nhưng không được. Họ nhất quyết tin tưởng nếu "thành tâm" về với cộng sản như vậy, họ sẽ được cộng sản đãi ngộ tử tế và coi như anh hùng! Lúc đó, người nào cũng hy vọng là sự trở về của họ sẽ được cộng sản thích thú chấp nhận và đãi ngộ tử tế. Người Mỹ thì biết những người trở về sẽ vô cùng cực khổ vì thiếu thốn nên đã trang bị cho họ đủ thứ mùng mền, chăn gối, lương thực ê hề. Có người đã phải nói người Mỹ cho nhiều đồ như cho con gái về nhà chồng!

Nào ngờ đâu khi tàu Việt Nam Thương Tín cập bến Nha Trang, Việt Cộng đã cho lột sạch sẽ quần áo và của cải trước khi đưa tất cả vào trại giam. Mỗi người phải trút bỏ hết quần áo và được cấp phát 2 bộ quần áo cũ hay quần áo tù. Cộng sản làm như vậy để tiện lục soát trong quần áo và tịch thu toàn bộ của cải, kể cả những bộ quần áo của người tỵ nạn.
 
Kết quả là mỗi người được cộng sản đón bằng cái còng số 8, bất kể đàn bà trẻ con! Tất cả phải lột sạch quần áo để công an khám người, khám tóc tìm cái gì có thể giấu được. Quần áo bị tịch thu để công an có thời giờ lục soát kỹ càng và lấy luôn. Trong số những người về có tới 400 sĩ quan cảnh sát, và mấy trăm sĩ quan quân đội. Đàn bà và trẻ con bị giam tối thiểu 9 tháng, những người khác từ 5 năm trở lên, tuỳ theo thành phần, lý lịch. Một số lớn bị tình nghi do CIA "cài" về để làm gián điệp, tình báo thì còn bị giam lâu hơn!

Thân nhân gia đình của những sĩ quan trở về đã thất vọng và nguyền rủa chồng họ không tiếc lời. Báo hại những người vợ nghèo nàn này còn phải lo tiền bạc đồ ăn đi thăm nuôi. Nhiều bà đã quá giận bỏ chồng khiến cho gia đình tan nát. Các "nạn nhân" chỉ còn cúi đầu sống trong sự tiếc hận, tủi hổ với lương tâm và với mọi người, và tiếc nuối một dịp may đã mất đi vĩnh viễn.

Nhưng trong số những người trở về VN trên tàu Việt Nam Thương Tín cũng có nhiều hoàn cảnh thương tâm. Thí dụ như Trường Sa. Trả lời phỏng vấn của Thy Nga, ông cho biết: Khi đó, tôi là Chỉ huy trưởng cái đoàn hộ tống công-voa các thương thuyền của các nước đi tiếp tế cho chính quyền Lon Nol tại Campuchia. Ngày 29 thì tôi ở Vàm An Long trên sông Cửu Long. Khi mà tôi liên lạc với các cấp chỉ huy của tôi thì người ta đi hết rồi, thành ra đêm hôm đó, tôi dùng một chiếc tàu nhỏ trở về Sài Gòn nhưng không vô được bên trong nữa. Và từ đó, tôi gặp chiến hạm từ Sài Gòn đi ra, tôi lên chiến hạm, đi tới đảo Guam luôn. Khi lên tàu, tôi tìm khắp trên các chiến hạm đang di tản, không có gia đình tôi. Không liên lạc được với gia đình, vợ con tôi ở Sài Gòn. Tôi không bỏ rơi gia đình trong cảnh khó khăn như thế. Khi đến đảo Guam thì tôi xin Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc can thiệp cho tôi trở về Việt Nam. Hoàn cảnh nào, tôi cũng chấp nhận hết. Vì vậy, tôi theo tàu Việt Nam Thương Tín trở về Việt Nam. Khi tàu tới Nha Trang, VC bắt tôi lên Ty Cảnh Sát cũ tại Nha Trang ở đó 2 tháng, rồi chuyển ra trại A 20 Phú Khánh. Một thời gian ngắn sau thì chuyển ra Bắc, trại Nghệ Tĩnh đến năm 1984, mất cả thảy 9 năm! Chỉ vì đã ra đi, rồi lại trở về. Năm 1986 thì tôi vượt biên, bị bắt. Từ cửa biển vào Mỹ Tho, dọc đường tôi bị đánh dữ lắm. Họ giam tôi 45 ngày trong xà-lim tối, sau đó, họ cho ra lao động. 2 năm sau thì thả tôi về.

Đến tháng 04/1989, tôi tiếp tục đi nữa. Lần này thành công, tôi cùng 3 con đến Pulau Bidong, phải chờ 28 tháng, mới được Canada nhận vào.

Giống như nhạc sĩ Trường Sa, ông M Ngọc Phan cũng vì vợ con còn kẹt lại ở Việt Nam, nên đã từ đảo Guam trở lại VN trên tàu VN Thương Tín để rồi trải qua 6 năm tù đầy trong trại tù cải tạo của CS và 12 năm sau, ông và gia đình mới vượt biên thành công, đến được Hoa Kỳ. Sau đây là đoạn hồi ký của ông.

*****

 

Thằng Quốc ngả người về phía bố, mặt nhăn nhó vì ù tai khi chiếc Boeing 747 hạ thấp để chuẩn bị đáp xuống phi trường San Francisco .
- Ba ơi, lỗ tai con bị nhức quá.
- Ráng chút đi con, mình sắp tới nơi rồi. Máy bay xuống tới phi đạo là hết ngay ấy mà. Coi mẹ và các chị em con có ai than thở gì đâu.

Nói xong, tôi lấy tay day day hai bên lỗ tai thằng nhỏ, giúp nó làm giảm áp lực không khí cho dễ chịu.

Rồi máy bay cũng đã hạ cánh an toàn. Bên ngoài nắng nhạt cuối ngày trải dài lên hai tấm thảm cỏ màu xanh lá mạ chạy dài tít tắp hai bên phi đạo. Tôi thở dài nhẹ nhõm:

- Thế là cuối cùng mình đã đến nơi, muộn hơn những 12 năm.

Máy bay vừa ngừng, đèn an toàn chưa tắt thì mọi người đã ào ào đứng dậy, báo hại nhân viên phi hành phải la ơi ới, yêu cầu bà con ngồi xuống lại.

Chuyến máy bay này do Cao Uỷ thuê bao để chở người tỵ nạn, mà phe ta phần đông không rành tiếng Anh và luật lệ trên máy bay mới ra nông nỗi. Riêng tôi nghĩ mình chờ đã bao năm nay, thì có chờ thêm vài chục phút nào có sá gì, nên nói với vợ con cứ từ từ, chờ cho mọi người xuống hết rồi mới đứng dậy lấy hành lý.

Hoàn thành xong thủ tục Quan Thuế, người đại diện Hội Bảo Trợ hướng dẫn gia đình tôi đến... Cổng Thiên Đàng.

Thật đúng như vậy, bao nhiêu là người thân ăn mặc đẹp đẽ, đang náo nức chờ đợi đón rước gia đình tôi vào miền đất hứa mà tôi đã trót một lần từ bỏ.

Sau những niềm vui và choáng váng với hạnh phúc chan hoà giữa đại gia đình anh chị em trong bữa tiệc đoàn tụ, nằm trên giường đã lâu mà tôi vẫn còn thao thức mãi. Vì khác biệt múi giờ cũng có, mà cái chính là đầu óc vẫn còn quay cuồng, với quá khứ sau bao năm rồi mà vẫn còn hiển hiện như mới ngày hôm qua.

***
 
Vào đầu tháng 04/1975, căn cứ Hải Quân Phú Quốc cấm trại 100 % vì tình hình đất nước càng lúc càng mịt mờ, tôi đưa vợ con lên tàu vào đất liền để rảnh tay lo nhiệm vụ của một Sĩ Quan luôn luôn chấp hành lệnh cấp trên.

Bé Dương mới hơn 2 tuổi và vợ lại gần sanh, nên tôi nghĩ không gì tốt và an toàn hơn là gửi cả về bên Ngoại ở Rạch Giá, để có người giúp đỡ lúc sanh nở.
Ngày 29/04 thì tình hình đã rối beng lên, tất cả tàu trong căn cứ được lệnh nhổ neo, tôi đi theo chiếc Tuần Duyên Hạm HQ 600.

Mặc dầu đã cố gắng liên lạc về Rạch Giá với gia đình, nhưng làm sao mà kịp được nữa!

Lệnh đầu hàng của tướng Dương Văn Minh như nhát gươm cuối cùng cắt đứt hy vọng của mọi người. Ngồi trên boong tàu nhìn về quê hương mà nước mắt tôi chan hoà. Thôi thế là hết! Thế là tán gia vong quốc.

Trước đấy hơn một tháng, đã có biết bao công chức, lính tráng di tản về hòn đảo cuối vùng đất nước này, nên HQ cố gắng hết sức để đưa họ ra khơi, mà lúc này cũng chưa ai biết sẽ đi về đâu.

Tàu tôi đã chuyển rất nhiều chuyến ra Tuần Dương Hạm. Tôi chứng kiến bao cảnh thương tâm vợ chồng con cái la khóc vì lạc nhau, thảm cảnh tai nạn khi chuyển lên tàu lớn, có người rớt xuống biển mà không thể nào vớt được.

Trong hoàn cảnh hỗn quan hỗn quân ấy, tôi đã hết lòng giúp đỡ mọi người, những ghe nhỏ từ đảo Phú Quốc hay từ Rạch Giá chạy ra chở đầy người, nhưng vợ con mình thì lại không thấy đâu!
Hạm Trưởng ra lệnh chạy về hướng Singapore, ba ngày sau tàu cặp bến thì tôi chuyển qua chiếc HQ 229 để đi Subic Bay- Philippines. Nơi đây tôi đã đứng nghiêm, đau lòng tham dự lễ hạ quốc kỳ VNCH trên con tàu, tháo cặp lon trên vai áo bạc màu, làm thủ tục ở đây 20 ngày rồi lên máy bay qua đảo Guam.

Suốt những ngày ở trại Asan, tôi thẫn thờ như kẻ không hồn, lạc lõng giữa những người đồng số phận lưu vong. Chỉ có một số người may mắn đầy đủ gia đình, họ mau mắn tiến hành thủ tục định cư càng sớm càng tốt.

Nhìn cảnh gia đình họ mà tôi thèm thuồng và tủi cho thân phận mình. Tuy nhiên tôi vẫn lo làm giấy tờ để đi định cư mà lòng thì ngao ngán. Rồi đây trên xứ người, trơ trọi một thân một mình, không cha mẹ anh em, vợ con thì mình sẽ sống ra sao. Càng nghĩ càng buồn.

Đêm đêm tôi ra ngồi sát bãi biển, mắt đăm đắm nhìn về hướng quê nhà, nơi có người cha già yếu, vợ dại con thơ đang lo lắng không biết tôi sống chết ra sao. Tôi nhớ đến miền quê nghèo mà mình đã sống từ nhỏ, có bà con lối xóm đầy ấp tình người, luôn luôn thuận hoà và bảo bọc nhau trong mọi hoàn cảnh ngặt nghèo. Nhất là bây giờ không biết vợ tôi sanh nở có mẹ tròn con vuông hay không. Mình đi rồi thì mẹ con nó lấy gì sanh sống và tồn tại đây.

Tôi nhớ tới cuộc di cư mà cha mẹ mình đã trải qua 20 năm về trước mà lòng não nề. Trong một nước mà còn không thể gặp nhau, huống hồ bây giờ tôi ra nước ngoài thì biết bao giờ gặp lại.
Đến cuối tháng Sáu, trong trại có tin đồn là nếu ai muốn về VN thì chính phủ Mỹ sẽ cho về. Tôi nghe một cách lơ là vì cho rằng khó có chuyện đó xẩy ra, nhưng càng lúc tin đồn càng lớn mạnh, một người quen nói với tôi là rất nhiều người đã ghi danh để trở về.

Cùng lúc ấy, có một nhóm khá đông hàng ngày tụ tập trước Văn phòng Đại diện, biểu tình yêu sách "được mau trở về VN vì nước nhà đã được độc lập, đã hết chiến tranh rồi. Hoà bình đến thì nước nhà cần bàn tay của mọi công dân"?. Cho đến lúc này, việc định cư của tôi vẫn còn mù mờ, không có tin tức gì cả. Tinh thần tôi dao động, khủng hoảng, đắn đo không biết tính sao.

Nếu đi định cư thì chắc chắn là phần vật chất thì no ấm rồi đó, nhưng về tinh thần thì có gì bù đắp được, khi không có gia đình và một người thân nào ở bên cạnh. Nhưng trở về thì sẽ ra sao? Họ có bắt bớ tra tấn tù đày gì không? Tôi trằn trọc thao thức nhiều đêm để quyết định cho hướng đi của cuộc đời mình.
Người xưa đã nói: Thà chết một đống, còn hơn sống một người. Cả gia đình tôi còn ở miền quê hương ấy, tôi lại là con trai cả, có nhiệm vụ với nguyên một đại gia đình và với vợ con. Nhất định mình phải trở về, không lẽ bây giờ họ thắng rồi, mà lại "Đánh kẻ chạy lại". Cùng lắm là sau vài tuần điều tra, thấy chẳng có gì là họ cho về với gia đình chứ cơm đâu mà nuôi mãi.

Đọc lịch sử thế giới ai cũng thấy rằng người thắng trận bao giờ cũng mã thượng, như cuộc chiến Nam Bắc ở Hoa Kỳ 1861-1865, Bắc Quân thắng trận nhưng lính Nam Quân vẫn an lành trở về nhà, cả hai miền đều chung sức làm nên nước Mỹ ngày càng cường thịnh.

Rồi như nước Nhật, nước Đức kia, thua trận thê thảm năm 1945 mà được cựu thù Hoa Kỳ giúp đỡ, nên chỉ chừng một thập niên sau là trở thành những cường quốc ngay. ViệtNam chắc hẳn cũng thấy ra điều đó. Nhất định là mình phải trở về. Nghĩ vậy nên khi tôi bước lên tàu VNTT mà lòng khấp khởi.

Sau hai tuần hải hành, tàu Việt Nam Thương Tín đã vào hải phận Vũng Tàu.
Hôm đó là ngày 29/09/1975 có trên dưới 1450 hành khách, với rất nhiều lương thực và hành lý do chính Phủ Hoa kỳ trao tặng gồm chăn màn, quần áo và thuốc men như những món quà của người đi xa mang về cho gia đình...

Không biết tại sao mà liên lạc từ trước rồi, mà mãi ngày hôm sau mới thấy hai chiếc tàu Hải Quân bây giờ trương cờ đỏ sao vàng ra đậu cách đó khoảng 200 m, rồi họ bắc ống dòm nhìn sang chăm chú. Mấy tiếng đồng hồ sau mới ra hiệu hướng dẫn chiếc VNTT chạy ngược ra phía miền Trung.

Bây giờ thì nỗi lo lắng đã hiện lên nét mặt nhiều người, nhưng ai cũng nán lòng chờ đợi vì chưa biết rồi ra sẽ như thế nào.

Ngày hôm sau thì tàu cập bến Nha Trang. Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân nơi tôi theo học còn đây, mà sao phố phường im vắng như thành phố chết ?

Tất cả mọi người lớn bé đều bị dồn lên xe bít bùng mà chở về Trung Tâm Thẩm Vấn của Quân đoàn II cũ. Lúc này thì ai cũng lờ mờ nhận thấy rằng khốn nạn đến nơi rồi!

Mọi người phải trút bỏ hết quần áo, bị khám xét rất nhiều lần từ đầu đến chân, được phát cho hai bộ đồ lính rộng thùng thình, một chiếc chiếu rộng 8 tấc rồi dẫn đi nhốt vào những căn barrack.

Nhớ mới đây, thực phẩm ở trại Mỹ ê hề thịt trứng, nho, cam mà bây giờ chỉ có cá mối ươn kho mặn là chính, thỉnh thoảng mới được ca canh nấu bằng rau muống hoặc rau cải già. Mỗi ngày một nhóm phải đi khai báo lý lịch trên Phòng Chấp Pháp: trước đây làm chức vụ gì trong Nguỵ Quyền, hoạt động ra sao, trong bao nhiêu năm... Mỗi người được phát một số tờ sơ yếu lý lịch và ít tờ giấy trắng để viết lời khai. Cán bộ thì ông nào ông nấy mặt lạnh như tiền, cặp mắt thò lỏ ra như mắt chuột và hàm răng thuốc lào thì cứ vẩu tướng mãi lên, họ luôn luôn nói lải nhải câu: "Nếu các anh thành thật khai báo, thì đảng và nhà nước sẽ khoan hồng cho về".

Bây giờ thì cái câu ông Thiệu nói, nó hiển hiện lên trí óc mọi người: "Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm." Về sau này ai cũng hiểu rằng đám cán bộ này thuộc Cục Tình Báo Nước Ngoài thuộc Bộ Công An.

Suốt 2 tháng trời, tinh thần mọi người trở về đều bị khủng bố, ép cung, còn về vật chất thì quá thiếu thốn, cực khổ. Những giòng nước mắt hối hận đêm đêm ứa ra mà không ai dám than với ai, chỉ thầm đấm ngực ăn năn "Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng".

Họ chụp mũ mọi người là CIA, Mỹ gài lại VN phá hoại, chống phá nhà nước. Không biết bao nhiêu lần tôi phải giải thích tại sao tôi lại trở về.

Tôi kể về nỗi nhớ nước thương nhà, lưu luyến vợ con và gia đình, nhưng những con người không có trái tim đó họ không chịu hiểu. Điều phiền muộn nhất cho mọi người là về đến nước nhà rồi mà không ai được liên lạc với gia đình. Chúng tôi cũng biết chắc rằng người thân cũng lo lắng rất nhiều vì mình biệt vô âm tín.

Vài tháng sau thì đàn bà con nít đã được thả ra, nhưng hơn 500 Sĩ Quan, Cảnh Sát hoặc những người làm bên ngành An Ninh bị tách riêng ra.

Đến đầu năm 1976 thì tôi bị chuyển đến trại A-30 Xuân Phước ở gần Tuy Hoà để "Cải tạo lao động" với câu quen thuộc cũ : "Nếu các anh cải tạo tốt, lao động tốt, học tập tốt thì đảng và nhà nước sẽ khoan hồng cho các anh về".

Chẳng còn ai tin những lời hứa hẹn này và câu sau của ông Thiệu lại vang vọng: "hãy nhìn kỹ những gì VC chúng làm".

Tôi nghe nói những người từ cấp Đại Uý trở lên đã bị chở ra ngoài Bắc, riêng những người thuộc Ban Đại Diện tàu này thì đã bị đưa về khám Chí Hoà từ những ngày đầu. Chắc chắn là họ thê thảm rồi chứ không được tưởng thưởng vì đã đem về cho VC một con tàu đâu.
Thời gian tù đày càng ngày càng vô vọng vì tù mà không có án, thân thể hao mòn vì thiếu thốn. Sự đói khát, kiểm thảo, phê bình, lao khổ trong tù thì đã có quá nhiều người nói đến, kể ra chỉ rườm lời. Tôi xuống tinh thần rồi đổ bệnh tưởng không qua khỏi.

Sự hối hận này so với những người khác cũng chưa thấm vào đâu, nhất là những người vì ngây thơ, đã chia tay với gia đình khi ở bên trại mà trở về một mình. Còn những ông khi biểu tình đòi về VN to mồm thế nào, thì sự hối hận càng tăng thêm độ nặng chừng đó. Họ không dám nhìn ánh mắt những bạn đồng tù.

Rồi cũng không ai hiểu tại sao đội của tôi lại được tuyên dương là có thành tích lao động nên được cho phép viết thư về nhà. Dĩ nhiên với nội dung là ca tụng đảng và nhà nước chăm sóc cho mình rất chu đáo.

Mấy tháng sau thì vợ và đứa em trai ra thăm, nhưng tôi vì không đi lao động nổi nên bị phạt không cho gặp mặt gia đình, cũng không được nhận quà thăm nuôi!

Sau này tôi mới biết được mùa nước năm ấy, quê tôi bị nước lũ tràn về, lúa chưa chín đã bị chìm trong làn nước lụt, mất trắng. Thế mà gia đình chỉ còn con heo độc nhất đành phải bán đi mà ra thăm nuôi tôi.
Thời điểm ấy đi đâu cũng phải trình báo, xe cộ khó khăn, nếu không phải là công nhân viên, cán bộ thì chỉ còn có nước mua vé chợ đen mà thôi. Từ miền quê Rạch Giá ra đến Tuy Hoà biết bao vất vả tốn hao, thế mà không được nhìn mặt nhau cho dù là qua một hàng rào kẽm gai.

Rồi qua một năm dài đằng đẵng nữa, tôi mới được phép thăm nuôi. Lần này vợ tôi bồng thằng Quốc đi theo. Hai người ngồi 2 bên mép bàn, tên quản giáo với ánh mắt cú vọ ngồi đầu bàn. Cả hai đều không nói nên lời khi thấy nhau ốm yếu như que tăm, một người trong nhà tù nhỏ còn người kia trong tù lớn rộng ra cả nước.

15 phút trôi qua thật nhanh, biết bao tâm tình muốn nói mà cả hai không thể thốt nên lời, cuối cùng tôi gắng gượng bảo:
- Mình cố ráng săn sóc gia đình thay anh, còn anh thì không cần đi thăm nuôi nữa đâu nghen.

Tôi lủi thủi trở vào bên trong dẫy trại giam, không dám quay lại nhìn vợ con đang giọt ngắn giọt dài. Tưởng là về để giúp đỡ vợ con, ai ngờ mình lại trở nên gánh nặng cho cả gia đình.

Cả đời nào có biết văn chương là gì, thế mà hôm ấy tôi cũng viết được một bài thơ :

Hết chiến tranh rồi phước hoạ ai
Đợi mong mòn mỏi tháng năm dài
Lặn lội thăm chồng đi khắp chốn
Đường xa vạn dặm trĩu đôi vai

Viếng thăm chưa thoả niềm thương nhớ
Chia ly thêm nặng nỗi u hoài
Lỡ bước sa cơ đời đen tối
Thương người thiếu phụ lắm chông gai


Xuân qua hè tới, thấm thoát mà đã hơn sáu năm trời mang thân tù tội, nhìn những hàng cây xoài, cây nhãn do chính tay mình trồng đã đâm hoa kết trái, mà mình vẫn còn ở nơi đây chúng tôi càng hối hận. Nhưng cuối cùng đến giữa năm 81 thì họ thả tôi ra.

Tôi phải mất ba bốn ngày trời mới từ miền Trung lần mò về đến quê nhà. Những người tài xế xe đò, những người buôn gánh bán bưng, bà già bán cơm... khi biết tôi là tù được tha đều tỏ lòng quí mến mà giúp đỡ trên quãng đường quy hồi cố hương. Lòng tôi nao nao. À thì ra lòng con người Việt Nam vẫn còn đây chứ không phải đã bị nhuộm màu đỏ hết.

Dọc đường về, nhìn đâu cũng thấy cảnh u ám, người người đói khát, da mặt ai cũng đen đúa xấu xí. Từ đường lộ về đến nhà gần ba cây số, tôi tự hỏi sao hàng cây xanh tươi ngày xưa bây giờ lại xơ xác quạnh hiu, không còn sinh khí như vậy.

Đến nhà, con chó vàng xồ ra sủa rồi vẫy đuôi mừng rỡ. Cha tôi lọm khọm buông gậy mà chạy ra đón con. Vợ và 2 đứa nhỏ tíu tít quấn quít mà sao căn nhà coi bộ vắng vẻ hơn xưa nhiều quá. Thì ra các em tôi đã lần lượt theo nhau vượt biên hết rồi. Bà con xóm ngõ cũng đang tiếp tục âm thầm ra đi mỗi ngày một nhiều.

Tôi thẫn thờ ra vào trong căn nhà vắng hẳn tiếng cười, lo lắng như con chim đã một lần bị tên, thấy cành cây cong cũng sợ, nên dù có nhiều người đề nghị đi vượt biên lắm mà tôi chưa biết tính sao. Tôi đã một lần quyết định sai lầm, lần này nếu ra đi mà bị bắt thì chắc là ở tù lâu lắm.

Rồi tôi cũng phải ra đi mà thôi, nhưng phải mất đến 6 năm sau, với bao lần thất bại vì bể bãi, rồi cả gia đình tôi mới đến được bến bờ tự do.

Hôm nay, những người bà con đến chung vui, có ông bạn trẻ Đinh Đoan tặng cho bài thơ "Đố Ai":

Người ơi có nhớ năm nao
Cái ngày tan tác ba đào thương đau
Đố xem kẻ kẹt trên tàu
Đảo Guam phải đến dạ sầu nhớ ai
Mênh mông với nỗi u hoài
Theo tàu Thương Tín đưa ngài về quê
Gian nan khổ ải chẳng nề
Ai ngờ bóc lịch ê chề thảm thương
Ra tù với nỗi sầu vương
Ngược xuôi dẫn vợ tìm đường vượt biên
Trời cao cũng độ kẻ hiền
Giúp ông tìm được đến miền tự do
Thiên đàng kia vẫn còn chờ
Gia đình hạnh phúc ước mơ đã thành.
Hỏi em hỏi chị hỏi anh:
Xin cho tôi biết quí danh của ngài?


Mục Đồng ở New York có bài thơ "Ông Là ..." hoạ lại:

Tôi còn nhớ chuyện năm xưa.
Cái ngày tan tác như vừa hôm qua
Tuần duyên vượt sóng hải hà
Đưa chàng chiến sĩ rời xa quê mình
Nhưng sau vì nghĩa vì tình
Nên đành chấp nhận hy sinh trở về
Bao nhiêu gian khổ chẳng nề
Dù cho bóc lịch ê chề thảm thương
Cuộc đời dâu bể khôn lường
Bao đêm dắt vợ tìm đường ra khơi
Hình như cũng thuận ý trời
Qua cơn bĩ cực đến thời thái lai
Ông là: bác Ngọc chứ ai
Đêm đen bỏ lại, tương lai đang chờ
Mừng vui hai chữ tự do
Gia đình đoàn tụ giấc mơ đây rồi


Phải ! Giấc mơ đây rồi. Giấc mơ này tôi đã ao ước từ 12 năm trước, mong được đoàn tụ với mọi người trong gia đình. Đến nay mới đạt được, và tôi đã phải trả một giá quá đắt!

Hơn 15 năm ở xứ Huê Kỳ trôi qua thật nhanh, bây giờ mái tóc đã muối nhiều hơn tiêu, mà trên chỏm đầu tóc đã đi chơi hết trơn nên trọc boong như cái hột vịt lộn, tôi ngồi vò đầu ngẫm nghĩ lại thì mình đúng là ở hiền gặp lành, chung tình với vợ con nên bây giờ được vợ cưng như cái trứng mỏng, con cái ngoan ngoãn.

Tôi tuy đến muộn, nhưng biết thân biết phận mình, vợ chồng cố ráng làm ăn, nên nay cũng "đi xe hơi, ở nhà lầu, nhà có TV tủ lạnh đủ cả; cơm ăn ngày 3 bữa, quần áo mặc cả ngày" (just kidding). Giá mà hồi đó không trở về, có khi mình đã lấy một cô vợ Mễ, và nay thì cô ta đã xay mình nát ra như cám, "tiêu diêu nơi miền cực nhọc" rồi, mà vợ con mình cho đến bây giờ không biết ở nơi nao.

Người ta nói trâu chậm uống nước đục, mà tôi sao lại cứ được uống sữa tươi thế này ? Hoàng thiên đối với tôi như vậy nghĩ cũng là quá hậu đãi.
M Ngọc Phan

THÁNG TƯ, VIẾT RIÊNG CHO MẸ (Ngô Minh Hằng)


THÁNG TƯ, VIẾT RIÊNG CHO MẸ
(Kính dâng Hương Linh Hiền Mẫu. Tặng những bạn
đồng tâm cảnh.)


*


Mẹ ơi con viết rồi con xóa
Xóa mãi nên thơ chẳng trọn lời
Viết để giãi bày lòng nhớ mẹ
Tháng Tư buồn tựa phận mồ côi
*
Tháng Tư, con viết và con viết
Nét mực tuôn theo suối lệ tràn
Dòng lệ khơi nguồn ngày mất mẹ
Không ngừng từ phút mất giang san
*
Mẹ ơi, đất khách đời phiêu giạt
Nhớ mẹ nhiều khi đến buốt lòng
Xót mẹ mộ sầu sương gió lạnh
Ai người sưởi ấm những chiều Ðông
*
Ai nhìn di ảnh ngồi trầm mặc
Nhìn khói hương bay dạ thẫn thờ
Ðể tiếc thần tiên ngày tháng cũ
Ngày bàn tay mẹ dệt đời mơ
*
Ai ôm mộ mẹ lòng chan lệ
Khóc cảnh tang thương cuộc đổi dời
Khóc xót đồng bào trong ngục đỏ
Khóc hờn tổ quốc hận thù khơi
*
Mẹ ơi, thế đấy, người yêu nước
Thì họ vu oan, họ nhốt tù
Vườn ruộng, mồ hôi và nước mắt
Nhà dân họ cướp, họ trưng thu
*
Họ, nay tài sản hàng trăm triệu
Ngất ngưởng sang giàu bậc đế vương
Dân sống oan hờn trong đói rách
Gầm cầu, bãi rác rất thê lương
*
Mẹ ơi con đã bao đêm trắng
Viết cả ngàn trang chuyện nước nhà
Viết kể muôn dòng riêng với mẹ
Mỗi dòng có đẵm lệ con sa
*
Tháng Tư, con viết riêng cho mẹ
Mẹ có nghe thơ thổn thức không
Có thấy con ngồi canh cuốn lịch
Và chờ cho hết buổi trời Đông
*
Con chờ, con đợi vì thưa mẹ
Gian ác, con tin phải lụn tàn
Dân sẽ kiên cường mà đứng dậy
Muôn đời chính nghĩa sẽ vinh quang !
*
Mẹ ơi, lúc ấy, thơ con viết
Ý mộng tình mơ thắm mọi dòng
Sẽ chẳng buồn đau, không nước mắt
Mà là rực rỡ với non sông !!!


Ngô Minh Hằng

2012