Wednesday, July 5, 2023

LÃNG MẠN CỦA MÌNH: (THƠ- Á NGHI/ ẢNH- MỸ NGA)

 


TRĂNG CỦA ANH

Ba đặt tên con gái

Toàn là Hằng, Nguyệt, Nga;

Má, trái tim nhân ái

Dạy: -Nhẫn nại, hiền hòa!

 

Nên họ bảo -Yêu Trăng!

Em mỉm cười, lí nhí

Miệng chẳng nói chẳng rằng

Tức cười người-mơ-mộng.

 

Họ: người sau, người xa

Đi đường thích ngắm… hoa

Lúc thảnh thơi, nhàn hạ

Nên khệnh khạng, khề khà.

 

Anh: Người Trước, Người Ta

Sao gần mà hóa xa?

Chẳng chí tình, chí nghĩa

Cho thơ em mượt mà?

Á Nghi, 15.9.2009


GIỮA SÓNG

Nhỏ bé giữa bầu trời

Mênh mông với trùng khơi

Bơi xa bờ, chới với

Anh đâu rồi anh ơi?

Á Nghi, 19.6.2009


HOA HÉO

Nghe bạn kể chuyện buồn

*

Ai khủng bố bằng những lời ngộ độc

Ta héo người nên thừa thãi nhịp thơ

Cơn muộn phiền như sóng nước vỡ bờ

Ai tri kỷ? Tìm đâu người đồng điệu?

Á Nghi, 15.8.2009


HÁI HOA, BẮT BƯỚM

Mến tặng Mỹ Nga & anh Lân,

để nhớ về buổi chiều chủ nhật dễ thương: 25.6.2023

*

Bạn rủ sang nhà “Hái hoa, bắt bướm

Hái rau, làm mắm, mình cùng dùng cơm”

Ngắm từng cánh hoa tím, hồng… sắc điểm

Nghe cả Đà Lạt ẩn hiện… hương thơm.

 

Bên những đóa hoa khoe màu tươi thắm

Tiếng cười của bạn sao mà êm đềm!

Bướm không dám về (sợ cô nàng bắt)

Hoa thơm bạn hái, cánh trắng tay em.

 

Bạn cũng như em: Mẹ già bệnh nặng

Tâm sự nhỏ to, chia nhau nỗi niềm,

Mắt em xốn xang nhìn bạn rơm rớm,

Hai đứa con, mang Hiền Mẫu trong tim.

 

Thấy cảnh xốn xang ông Trời bật… khóc

Thế là vội vã túi, chậu chạy làng

Bạn chia rau trồng: kinh giới, sà lách

Em mang về dăm mà quá nhớ chàng!

Á Nghi, 27.6.2023 


LÃNG MẠN CỦA MÌNH

Lang thang bụng đói, bọt sôi

Tay đan tay ngắm mây trôi cuối trời

Hái chùm trứng cá chia đôi

Mỗi người một nửa, no rồi… tình chung!

Á Nghi, 27.6.2023 

  

CHỌN EM

Em ơi! Em nhất trần đời!

Chẳng ai biết hết, trừ người như anh

Chẳng đơn sơ giỏi, hiền, xinh

Chính là ở chỗ vô hình, tuyệt hương!

Á Nghi, 27.6.2023



ĂN MÀY CỬA PHẬT (LÊ SỸ MINH TÙNG)

 


Ăn mày cửa Phật.

Lê Sỹ Minh Tùng

Có một ông Lão kéo một xe gạo nặng nề lê bước trên đường vừa đi vừa thở hổn hển, vô tình bánh xe chao đảo vì va vào một cục đá bên đường, làm cả xe gạo lật ngang. Ông lão cố hết sức nâng xe gạo lên, nhưng không nâng lên nổi. Ông mệt mỏi, mồ hôi nhễ nhại, trời nắng chang chang. Ông bất lực, ngồi bệch xuống đường. Nhìn xung quanh, ông thấy một ngôi Chùa. Bên ngoài ngôi Chùa là những chiếc xe hơi lộng lẫy.    

Ông suy nghĩ và than: "Có người vừa sinh ra thì đã giàu, có kẻ làm lụng vất vả cả đời lại chẳng có gì!"

Một người phật tử đi ngang nghe thấy nên nói với ông: "Ông đã đến cửa Phật sao không vào thành tâm cầu nguyện, lại ngồi đây than thân trách phận! Người ta bảo Chùa đó rất thiêng, chính vì vậy mà khách thập phương cứ kéo đến ùn ùn".

Ông Lão nghĩ mình đã bất lực trước cảnh nghèo túng và sự lật đổ của xe gạo, nên từ từ bước vào Chùa theo tiếng Chuông ngân trong lòng có rất nhiều điều mong ước.

Trước mắt ông nhiều người đang quỳ trước tượng Phật uy nghi khấn nguyện.
Ông đứng nhìn ngơ ngác.

Một Vị tăng bước tới và hỏi: "Ông lần đầu tiên đến đây phải không?"
Ông Lão: "Vâng! thưa Thầy lần đầu con đến nơi cửa Phật nên chẳng biết cầu nguyện ra sao. Kính mong Thầy chỉ dạy!"

Vị Tăng: "Ông mong muốn điều gì?"

Ông Lão quay nhìn những người kia và nói: "Con cầu xin đức Phật ban phát sự công bằng."

Vị Tăng: "Công Bằng ư?"

Ông Lão: "Vâng! thưa Thầy. Con sinh ra trong một gia đình nghèo khổ, bần hàn không được học hành tử tế, từ bé đã phải tự mưu sinh. Lớn lên lấy một người vợ nghèo và nai lưng làm lụng như trâu bò, để nuôi bầy con nheo nhóc. Cuộc đời khốn khổ cơ hàn cứ thế bám theo con dai dẵng. Trong khi có biết bao nhiêu người khác sinh ra trong một gia đình giàu sang, chẳng cần cố gắng mà vẫn sống suốt đời trong nhung lụa. Như vậy thực là không công bằng! Nếu đức Phật linh thiêng xin Người hãy ban cho con một ít may mắn của những người kia!"

Vị Tăng: "Như những người kia ư?"

Ông Lão: "Chỉ cần nhìn họ là đủ biết họ giàu sang quý phái cở nào rồi. Những người nghèo khổ như con không thể hiểu nổi họ làm gì mà giàu sang lắm vậy?"  Vị Tăng: "Cái đó ta không biết? nhưng khi tới đây họ cũng chỉ là ăn mày cả mà thôi."

Ông Lão: "Ăn mày ư? thưa Thầy!"

Vị Tăng: "Đúng! Ăn mày Cửa Phật!"

Ông Lão: "Nhưng nhìn họ giàu sang Quý phái có thiếu gì mà phải đi ăn mày?"

Vị Tăng: "Sống trên cõi đời này mấy ai thỏa mãn với những gì mình đang có. Không tin ông cứ lại gần họ xem."

Ông Lão tò mò đi tới gần vài người, lắng tai nghe những lời cầu nguyện của họ.

- Một người đàn ông lớn tuổi mặc áo vest, thắt cà vạt trong rất chỉnh tề cầu nguyện: "Cầu xin đức Phật cứu giúp công ty con khỏi bị phá sản, hàng trăm gia đình công nhân đang trong chờ vào Công ty. Đang trông chờ vào sự lèo lái của con. Mô Phật !"

- Một người đàn bà lớn tuổi khóc thút thít:" Xin Đức Phật rũ lòng từ bi cho con sức mạnh để chiến đấu với căn bệnh ung thư quái ác. Xin ngài đừng để con phải chịu những cơn đau hành hạ, dày vò".

- Một cô gái trẻ tuổi buồn rầu ủ rũ khấn nguyện: "Năm nay con đã gần 30 tuổi, mà vẫn chưa có người yêu thương. Con vô cùng buồn tủi, con chỉ xin Ngài linh thiêng cho con chút dung mạo để con tìm được một tấm chồng. Xin Ngài ban phước, mô Phật!

Ông nghe được nhiều người khác xung quanh ông đều có vấn đề đau khổ để cầu nguyện.

Ông lão cảm động rơi nước mắt.

Ông bật thốt lên: "Tội nghiệp quá!"

Ông trở lại bên cạnh vị Tăng và thưa: "Thưa Thầy họ cầu xin rất nhiều điều, hóa ra họ toàn là ăn mày thật. Con cứ nghĩ trên đời này ai cũng hạnh phúc hơn con, chứ ai biết được họ cũng có nhiều nỗi khổ đến thế. Ngẫm ra con còn có nhiều điều hạnh phúc hơn họ như sức khỏe, sự vô tư chẳng hạn.

Vị Tăng: "Đúng vậy! Cuộc đời công bằng với tất cả mọi người. Nên biết an phận với thực tại và cố gắng hết sức mình để tự mình hóa giải những khó khăn trong cuộc sống, đó mới chính là một cuộc đời hoàn mỹ."
Ông Lão nghe xong tỉnh ngộ!

Ông bước ra khỏi chùa và không cầu nguyện điều gì cả.

Ông đã không cầu nguyện điều gì cả vì tự thấy mình có thể vượt qua được khó khăn đang có của mình. So với những người giàu có kia, khó khăn của ông thật là quá nhỏ bé.

Ông trở lại bên cạnh xe gạo. Khuân từng bao gạo ra khỏi xe kéo, rồi khi không còn bao gạo nào trên xe, rất dễ dàng ông nâng chiếc xe đứng lên vững vàng trên hai bánh xe và vác gạo để lên xe.

Ông kéo xe đi trong lòng thênh thang.

24 GIỜ Ở LIÊN ĐỘI CHUNG SỰ (ĐOÀN XUÂN THU)

 24 Giờ Ở Liên Đội Chung Sự - Đoàn Xuân Thu 


Ngày 13 Tháng 8 năm 1971, trưa hầm hập nóng. Cái nóng của Sài Gòn, hừng hực mái tôn, như chảo lửa đun... sôi. Chiến tranh... khói... khói... lãng đãng mặt người. Trong căn nhà trọ trong hẻm 482 đường Phan Thanh Giản Sài Gòn, mình nằm chịu trận như một con cá mắc cạn, ngóc lên mà thở trong cuộc chiến khốc liệt nầy... thì nhận được thơ anh. Bức thơ nhầu nhĩ, bì thơ là một tờ giấy, người viết chỉ việc viết vào mặt sau, xếp lại, rồi đề địa chỉ ở mặt trước, có in tem sẵn, dán lại, gởi đi cho nó gọn mà những người lính từ mặt trận thường dùng để gởi về thân nhân là ba, má, vợ hay người yêu hoặc mấy đứa em thơ ngây còn ở hậu phương. Thơ anh viết từ ngọn núi Ba Hô nào đó, khoảng 17 cây số đường chim bay về phía Tây Bắc Quảng Trị, án ngữ đường 9 Nam Lào. Ai kiểm soát độ cao nầy là kiểm soát đường chuyển quân phía dưới. Và muốn tấn công, xâm nhập vào Quảng Trị thì phải tìm cách nhổ sạch quân trú phòng ở đỉnh Ba Hô! Anh nói những ngày ở đây thật là gian khổ và ác nghiệt nhưng gian khổ nhứt là đi lấy nước vì địch quân rình bắn sẻ. Anh nói: Gió Lào mùa nầy ác nghiệt cũng không kém mấy thằng Bắc Quân bên kia núi rình bắn lén. Bầu trời trên đầu, ngày lại ngày, không một đám mây, không mưa... khô khốc! Nước!

 

Đại đội 1, Tiểu đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến của anh nằm trên đỉnh Ba Hô đó. Anh không biết ngày về vì hành quân liên miên như vậy và đóng chốt ở đây không biết đến bao lâu mới có đơn vị khác đến thay?   

Thơ anh đến, chưa kịp trả lời, thì 21 tây, xác anh đã về tới. Người anh bà con bạn dì, trên chiếc xe Honda, mượn của thằng bạn học khác, chở mình lên Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Chạy trong cái nắng đổ lửa của Sài Gòn mà không nghĩ gì hết. Không tin gì hết. Đầu óc như cứng lại, khô khốc, đặc quánh lại... như cơn gió Lào vi vút, u u... thổi ngoài kia của dãy Trường Sơn.

Xe qua tượng Thương Tiếc, quẹo vào con đường vòng cung. Phía trên đồi là Nghĩa Dũng Đài sừng sững, rồi ngừng lại ở tiền sảnh của Nhà Quàn Liên Đội Chung Sự Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa! Không có ai chỉ dẫn. Như linh tính của tình anh em ruột thịt, mình đến ngay chiếc quan tài hình chữ nhựt màu xanh biển thẫm, đã phủ quốc kỳ. Đầu hòm có một chữ Hán không hiểu nghĩa là gì? Anh bà con đi chung đang học năm thứ 2 Văn Khoa nói: “Chữ Thượng nghĩa là trên. Đầu nó nằm đây nè!”

Mặt trước quan tài có đính một tờ giấy. Trên đó viết vài hàng chữ: Cấp bậc: Thiếu Úy. Họ tên: Đoàn Xuân Hòa. Sanh ngày 14 tháng 9 năm 1949. Đại đội Phó, Đại đội 1, Tiểu Đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến. Tử trận ngày 15 tháng 8 năm 1971 tại Quảng Trị.

Nằm kế bên anh là Chuẩn Úy Lê Định, sanh năm 1952, sanh quán Huế, cùng chung đơn vị. Phía sau lưng anh là khoảng 20 chiếc quan tài nữa, chia làm hai hàng, có một vài cái thuộc Sư Đoàn 5, còn bao nhiêu đều là lính Đại Đội 1 với anh. Sau nầy, nghe kể lại, ngày 15 tháng 8 một trận đánh khốc liệt đã xảy ra trên đỉnh Ba Hô giữa bộ đội quân chánh quy Bắc Việt và Đại Đội của anh. Đại Đội bắn hết đạn, bị tràn ngập. Trận đánh xáp lá cà bằng lưỡi lê đã diễn ra và kết thúc bằng phi cơ phản lực đến ném bom. 24 chiến sĩ Đại Đội 1 Tiểu Đoàn 6 Thần Ưng Cảm Tử tử trận! 24 chiến sĩ ngã xuống và bao nhiêu vành khăn tang đội lên đầu của thân nhân tử sĩ? Nào ai biết được con số chính xác. Nỗi đau người lính không còn đau nữa, đã đền xong nợ nước, mà nỗi đau của cha mẹ, vợ con, anh em của người chiến sĩ thì còn đau mãi đến tận bây giờ!

 

Quanh quẩn bên chân anh, nhang tàn rồi thắp nhang khác, nến tàn rồi đốt ngọn nến khác. Một cọng chân nhang, cắm vào đó một điếu thuốc thơm! Mời luôn những người đồng ngũ của anh mỗi người một điếu! Hà tiện chi nữa! Hết thuốc, lại dốc hết tiền trong túi ra, xuống câu lạc bộ nhà quàn mua cho anh hút trước khi xác thân các anh về với đất. Phía sau tiền sảnh là một căn phòng tối lù mù, chiếu sáng bằng những ngọn đèn tròn, vàng vọt. Rồi có tiếng trực thăng sơn chữ thập hồng, phầm phập xuống bãi đáp. 2 người lính cứu thương, quân y, bước ra, chuyển từ trong trực thăng xác 1 người lính thuộc Sư Đoàn 5, phù hiệu ngôi sao trắng và số 5 màu đỏ máu trên tay áo!

Xác tử sĩ nằm trên băng ca, một tay thòng xuống, còn đòng đưa theo nhịp đi của 2 người lính đang khiêng... chứng tỏ anh vừa mới chết, xác hãy còn nóng hổi, chưa lạnh, nên chân tay hãy còn dịu nhỉu. Quần áo trận của anh vẫn còn ướt sũng và vấy đầy bùn đất! Xác anh được mang vào phòng và những người lính Quân Nhu thuộc Liên Đội Chung Sự xúm lại làm phần việc của mình trong im lặng. Trước hết dùng kéo cắt quần áo trận ra để tắm rửa cho tử sĩ lần cuối. Cái vòi nước xịt vào khuôn mặt giờ hơi tai tái nhưng vẫn còn lật qua lật lại được theo tia nước. Sau đó là lau khô xác, hớt tóc cho ngắn gọn, dùng phấn và son tô lại khuôn mặt, môi người tử sĩ để thân nhân nếu có lên nhìn mặt cho đỡ tủi. Mặc cho người lính vừa ngã xuống một bộ ka ki vàng còn hồ cứng. Công đoạn cuối cùng là đổi cáng. 2 chiếc thẻ bài đeo trên ngực tử sĩ được rứt ra. 1 sẽ giao lại cho thân nhân và 1 gắn trên đầu hộc tủ, 1 trong khoảng 300 cái của phòng lạnh, để biết mà mở ra cho thân nhân lên nhận diện 5 giờ chiều thì Ba, Má dẫn mấy đứa em từ Mỹ Tho lên. Lúc đó thấy Má đi không nổi nữa. Chân như khuỵu xuống; phải tựa vào vai Ba mà bước! Mấy đứa em còn nhỏ quá nhìn quanh... ngơ ngác. Thấy Má như vậy, nước mắt mình bây giờ, trưa tới giờ có khóc được giọt nào đâu, mới trào ra như suối: “Ảnh nằm đây nè! Má!” Má chỉ kêu: “Con ơi!” Rồi khóc! Nghe thảm làm sao! Ba chỉ im lặng, không nói gì, mặt nhăn nhúm lại!

 

Đêm xuống, Ba, Má và mấy đứa em vô nhà khách nghỉ để bình minh, rạng sáng mai đưa xác anh về quê cũ. Mình không ngủ được, mặc chiếc áo ba-đờ-xuy cho đỡ lạnh. Trên đồi, gió nhiều quá, thổi u...u... Mình ngồi bó gối, dưới chân anh. Nhang tàn thắp khuya. Thuốc tàn lại đốt. Tiếng con vạc sành bám trên nóc sảnh lâu lâu lại rơi xuống, đập cánh xè xè, nghe như hơi người chết từ những chiếc quan tài chập chờn ánh nến, thoát ra.

Nhìn lên đồi cao nơi mộ ông Tướng Đỗ Cao Trí đèn thủy ngân sáng choang. Nhìn xuống dưới, những hàng bia mộ người chết trận... lặng im... chìm trong tối. Dọc đường từ nhà quàn vào khu gia binh của Liên Đội Chung Sự, những mảnh ván quan tài đang đốt dở, cháy leo lét trong gió. Những mảnh ván quan tài đang cháy dở là do việc thân nhân mướn những người thầu tư nhân rửa xác tử sĩ lại để còn nhìn mặt lần cuối. Hòm cũ bỏ đi, sau đó xác được đặt vô cái hòm kẽm mới, hàn chì lại để ngăn mùi tử khí không thoát được ra ngoài, có người nằm lại nghĩa trang cùng đồng đội, có người được mang về quê an táng.

Ba không muốn khui nắp quan tài anh ra nữa, không phải sợ tốn tiền. Mà ba sợ ảnh chết như vậy chắc không còn nguyên vẹn gì... mà nếu Má nhìn thấy thì làm sao chịu cho nổi!

Hai là hy vọng người tử sĩ nằm đó không phải là xác của con mình. Một hy vọng hão huyền là có thể ngày nào đó anh sẽ về, gặp lại Ba, gặp lại Má chăng? Rõ ràng hy vọng đó chỉ là ảo vọng; dù vậy Ba vẫn còn ráng nắm níu, ráng mà bám víu theo?!

 

Sáng hôm sau,1 bán tiểu đội lính, 6 người, ông Trung Úy già, Trưởng Hậu Cứ Tiểu Đoàn chỉ huy và chiếc GMC mười bánh đến! Những người lính kê vai, vác, đưa chiếc quan tài lên xe! Và anh về quê cũ. Tiếng kèn đồng nghe u uất. Trước đầu xe có tràng hoa cườm và băng vải tím.

Người yêu anh, chị Loan, y tá Bệnh Viện Lê Hữu Sanh của Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, nức nở: “Anh Hòa ơi! Anh Hòa ơi!” lúc di quan! Tình nồng thắm của anh chị như bọt nước đã đành tan theo vận nước sau đó.

Lại theo xác anh. Xe qua những đường phố Sài Gòn nhộn nhịp. Người lính tử trận... lẳng lặng đi qua. Có người dừng lại, chào kính xác người chiến sĩ. Có người dừng lại, ngả nón cúi đầu! Đa số vẫn tiếp tục đi. Và xe chở xác vẫn đi!

Mang anh về lại quê nhà, Mỹ Tho... nơi, anh vì nước phải bỏ nó mà đi chỉ mới có 4 năm!

Mình không nghĩ được gì hết! Cuộc chiến tranh nầy ai gây ra ư? Tại sao vậy? Làm sao cắt nghĩa được tham vọng của 1 lũ điên? Chỉ biết một điều là 1 thanh niên mới vừa xong trung học là lên đường nhập ngũ, từ Mỹ Tho ra tận Miền Trung gió Lào khô khốc thổi, rồi ngã xuống ở Đỉnh Ba Hô nào đó của Quảng Trị để ngăn chận Bắc Quân tràn vào thị xã.

 

Ngày 25 tháng 8, ôm tấm di ảnh của anh, thằng em kế, thứ năm, nối bước theo sau, trên hai tay là chiếc gối nhỏ, màu vàng viền đỏ, màu cờ, có cặp lon trung úy và chiếc bảo quốc huân chương đệ ngũ đẳng kèm anh dũng bội tinh với nhành dương liễu, đưa anh đến huyệt mộ! Thòng dây đưa quan tài anh xuống kim tĩnh mà mấy ông thợ hồ vừa mới xây xong, xi măng chỉ vừa kịp khô nước.

3 loạt tiếng M-16 bắn chỉ thiên, chào vĩnh biệt người chiến sĩ.

Lại tiếng kêu khóc của người yêu anh ở giờ hạ huyệt: “Anh Hòa ơi! Anh Hòa ơi!”

Đất lấp lại! Và năm ấy mình vừa 20 tuổi. Ngày chôn anh, ngày 25 tháng 8, là ngày sinh nhựt của mình!

 

Đoàn Xuân Thu.


THIỆN TÂM GẮNG GIỮ (HÀN THIÊN LƯƠNG)

                                                 Thiện Tâm Gắng Giữ


 

Đời người một cõi vô thường

Niềm vui buổi sáng nỗi buồn thâu canh

Kiếp người cũng rất mong manh

Tuổi trai tráng kiện chiến tranh …phế tàn.!

 

Người vui mộng đẹp đài trang

Xiêm y rực rỡ giàu sang ngất trời

Được khen ca tụng hết lời

Nhưng thôi cũng chỉ một thời thoáng qua!

Làm sao tránh khỏi tuổi già

Xiêm y cởi bỏ mắt lòa cô đơn!

 

Những ai gieo nỗi oán hờn

Mặc dân đau khổ lệ buồn rưng rưng

Khoe ta là đấng anh hùng

Dời non lấp biển vẫy vùng thiên thu

Súng gươm và sẵn ngục tù

Dân lành sát hại thầy tu chẳng chừa!

Trời đang nắng lại đổ mưa

Dân đen bạo loạn hết mùa thạnh hưng

Vua quan không dám xưng hùng

Co ro từng bước vào chung nhà tù!

 

Những người tiền bạc quá dư

Cho vay nặng lãi một xu không chừa

Bọn cướp chặn cổ bảo đưa

Hai chân quỳ xuống- dạ thưa!- dâng liền !

Ai ơi hãy nhớ đồng tiền

Bản chất bội bạc… nó liền ra đi!

 

Vô thường trần thế biết chi

Ngày mai tay trắng còn gì nữa đâu?

Làm sao tránh được biển dâu

Thiện tâm gắng giữ qua cầu tử sinh…!

 

4-7-2023

Hàn Thiên Lương

Tuesday, July 4, 2023

LINH HỒN GIAO HƯỞNG (THƠ- ĐÔNG ANH/ TRANSLATION BY THANH THANH)

 




LINH HỒN GIAO HƯỞNG

 

Trở lại nơi, ngày ba đưa con đến

Gần hai năm mà tưởng mới hôm qua

Gió hiu hắt, nắng nhuộm vàng trên mộ

Hàng bia buồn nghiêng ngả bóng phôi pha

 

Bên gốc cây ánh chiều rơi lỗ trỗ

Con nằm im, an phận chiếc quan tài

Nghe thổn thức tiếng nấc ngưng ngang cổ

Nuốt vào tim giọt nước mắt ngắn dài

 

Cửa lò thiêu đưa con vào vĩnh cửu

Chặng đường cùng thánh giá vác trên vai

Ba theo sau thân người như lá rũ

Vợ con con, tan tác mảnh hình hài

 

Ðây là chỗ ba đưa tay tiễn biệt

Nơi cuối cùng con nhận mấy bông hoa

Hoa nhiều sắc nhưng riêng ba màu tím

Tím trong lòng và tím cả ngoài da

 

Ðây lò thiêu với tầng cao điện thế

Năm ngàn volt, ngọn lửa trắng lập lòa

Nóng như thế mà con đành chấp nhận

Tro bụi rồi, ôi giọt máu của ba!

 

Nay đứng đây gọi hồn con vất vưởng

Theo gió mây hãy về đậu vai này

Hai cha con, hai linh hồn giao hưởng

Ðể ba tìm hạnh phúc một vài giây...

 

ĐÔNG ANH

 

 

SOULS' HARMONY

 

I have now returned here where I saw you away

Nearly two years ago but it seems just yesterday.

The wind blows gently, the sun sheds yellow light

On the row of lopsided tombstones – what a blight!

 

The evening sun fell on every spotted tree root,

You were resting resigned in the coffin deaf mute.

Relatives couldn't help you being forever to depart,

Swallowed their choked sobbings into their heart.

 

Thru the crematory as to eternity a passport holder

At last stage you carried the cross on your shoulder.

I followed you, hanging down like a stooping leaf;

Your wife and children sank in inconsolable grief.

 

Here is the place I waved my hand in mind so sour

The last location you received each farewell flower:

The flowers were multicolored, but in such a dole

They were purple, grey, livid, dark inside my soul.

 

This is the crematorium with high-tension potential

Five thousand volts, to integrate with the essential

That to it even so hot, you were to yourself resign

Into dust, back to dust, oh this dear scion of mine.

 

I am standing here to invoke your wandering spirit

Relying on wind and clouds onto my shoulder to sit

So that father and son, our two souls harmonize,

I find happiness though in a jiff ceasing to agonize.

 

Translation by THANH-THANH

 


DÒNG SÔNG QUÊ HƯƠNG (HÀN THIÊN LƯƠNG)

                                                   Dòng Sông Quê Hương


 

Dòng sông quê hương

Lặng lờ

Ra biển cả.

Ôm thuyền nan

Như ôm trẻ thơ ngây!

Đôi bờ im

Muôn đời xanh cỏ lá!

Ai về đâu

Ai ở lại nơi nầy?

Quê tôi nghèo

Nhưng dòng sông

Đẹp mãi.

Như lụa màu

Như mái tóc người thương!

Trên sông nầy

Mẹ già tôi khắc khoải

Đợi con về

Suốt cuộc chiến chinh !!

 

1-7-2023

Hàn ThiênLương

TEXAS: BẮN CHẾT BẠN TRAI CŨ, MỘT PHỤ NỮ GỐC VIỆT LÃNH ÁN 45 NĂM TÙ (MPL)

 

Texas: Bắn chết bạn trai cũ, một phụ nữ gốc Việt lãnh án 45 năm tù

July 3, 2023

 

COLLEGE STATION, Texas (NV) – Một phụ nữ gốc Việt, cư dân College Station, tiểu bang Texas, bị kết án 45 năm tù sau khi nhận tội giết bạn trai cũ hồi năm 2021, theo đài WTAW.

Hồ sơ tòa công bố hôm 27 Tháng Sáu cho biết, bị cáo Phan Kim Khanh, 45 tuổi, nhận tội đã bắn chết ông Jeff Blankley trong xe của nạn nhân tại bãi đậu xe chợ Wal-Mart ở College Station vào đêm 15 Tháng Tám, 2021.

 


Bị cáo Phan Kim Khanh, 45 tuổi, cư dân College Station, Texas. (Hình: Brazos County Jail)

Theo hồ sơ tòa, bà Khanh và nạn nhân đã chia tay hồi Tháng Bảy, 2021.

Cảnh sát College Station cho biết khoảng năm ngày trước khi bị sát hại, ông Jeff Blankey báo cáo với giới thẩm quyền về việc bà Khanh thực hiện những hành động quấy rối ông sau khi hai người chia tay.

Ông Blankley trình cảnh sát về việc bà Khanh tiếp tục tìm cách gặp gỡ và đánh cắp chìa khóa xe của mình, đồng thời, nạn nhân nghi ngờ bà đặt một thiết bị theo dõi GPS trên xe.

Vào ngày 15 Tháng Tám, 2021, bà Khanh bị bắt vì theo dõi ông Blankley từ một nhà hàng đến căn chung cư nơi ông cư trú, tại đó bà bị phát hiện đang trốn dưới gầm một chiếc xe trong khu vực.

Sau khi đóng tiền thế chân tại ngoại và ra khỏi nhà tù, hồ sơ toà cho rằng bà Khanh đã thuyết phục nạn nhân đến gặp tại chợ Wal-Mart trong thành phố College Station. 

Tại đây, bà Khanh bắn chết người yêu cũ khi ông đang lái xe. Chiếc xe đâm vào toà nhà, khi cảnh sát tới, bà Khanh vẫn ngồi trên ghế hành khách với khẩu súng trên tay.

Trong quá trình điều tra, cảnh sát phát hiện rằng khẩu súng ngắn được dùng để gây án mới chỉ được mua gần đây. Sau đó họ tìm thấy hóa đơn mua súng khi lục soát nhà bà Khanh.

Lúc điều tra lịch sử tìm kiếm trên thiết bị di động của bà, các điều tra viên nhận thấy bà Khanh tìm kiếm về luật súng đạn và hình phạt đối với nghi can giết người bằng súng. (MPL)