Thursday, December 24, 2015

ĐÔI BỜ HẠNH PHÚC (Lê Nguyễn Hằng)






Kính thưa quý thầy cô và các anh chị,

Chị Lê Nguyễn Hằng viết rất nhiều truyện ngắn đăng trên báo, online… và đã đoạt nhiều giải thưởng văn chương, Thukỳ quen chị thân hơn trong cơ duyên hội ngộ Quốc Gia Hành Chánh (xin xem “CƠM NHÀ”)

Thật ra ông xã chị là anh Lê Đình Lãm, tức nhà văn Lôi Tam, ra trường cùng thời với anh Đỗ Tiến Đức, người từng là Giám Đốc Đài Phát Thanh Tuy Hòa vào thập niên 1960, là lúc chị cũng hay đến đài để hát.  Khi còn đi học, chị cũng là một tay văn nghệ tích cực, tham gia vào những chương trình văn nghệ và đặc sancủa trường. 

Trong dịp hội ngộ “hành chánh” nói trên, Thukỳ đã được dịp “thấy người ta sang, bắc quàng làm…bạn” nên được vinh dự quen biết nhiều anh chị nổi tiếng, đặc biệt là chị Hằng, người mà Thukỳ khám phá ra có nhiều biệt tài, nên đã năn nỉ chị đóng góp cho blog “CHIM VỀ NÚI NHẠN”, và hôm nay, nhân dịp Giáng Sinh & Năm Mới, chị Hằng đã tặng một tác phẩm mà chị viết vào năm ngoái mang tựa đề “Đôi Bờ Hạnh Phúc” mô tả mối tình thắm thiết giữa 2 người bạn.  Mời quý thầy cô và các anh chị cùng đọc.

Trân trọng giới thiệu, 
Thukỳ
Hình Minh Họa.

Sáng nay, trời vẫn mưa tầm tã, gió thổi lá rụng đầy sân, làm nghiêng ngả cây cối sau vườn, nhất là những lẵng hoa treo trên patio. Có vài chậu cây bị đổ nhào, đất văng tung tóe, tôi nhặt những cành hoa bị dập nát mà lòng xót xa. Suốt đêm qua, gió bão ầm ầm, mưa tuôn xối xả. Đã ở thành phố San Jose này ba mươi sáu năm, tôi có cảm tưởng như đây là trận mưa bão lớn nhất từ trước đến giờ.


Vợ chồng Tâm, bạn rất thân của tôi, sáng sớm mai sẽ lái xe từ Santa Ana lên chơi. Nhìn trời âm u, gió mưa ào ạt, tôi lo ngại quá, sẽ gọi điện thoại báo cho Tâm biết tình hình thời tiết trên này để bạn tôi định liệu, tôi cũng sẽ nhắc Tâm lái xe cẩn thận và nhớ đem theo một ít thức ăn trên xe phòng hờ bị kẹt đâu đó vài tiếng. Tiên đoán thời tiết khuyên rằng khi gặp những nơi mưa quá nặng hạt và đường ngập nước thì nên tấp vào chờ. Vùng Los Angeles cũng bị bão mạnh và đất truồi. Nhất là qua đèo 52 mà có mưa to gió lớn thì thật là nguy hiểm. Thấy thời tiết quá xấu mà chỉ là đi chơi chứ không có gì bắt buộc nên vợ chồng Tâm đã hoãn chuyến đi.


Nghe vậy tôi hơi thất vọng vì đã chuẩn bị từ mấy hôm nay mà bây giờ lại mất dịp đón tiếp bạn hiền. Tuần nào Tâm và tôi cũng điện thoại nói chuyện đôi ba lần, thế mà tôi vẫn thương và mong gặp bạn vì lúc nào cũng có nhiều điều để kể lể, nỉ non. Tôi đã định nấu vài món Bắc thật ngon đãi bạn. Riêng Qúy, chồng của Tâm thì quá dễ, chỉ cần có bia Heineken và bánh mì tây ngon dòn ăn với bơ là xong ngay.

Tâm và tôi là bạn thân thiết từ năm 1954, khi chúng tôi mới di cư từ miền Bắc vào Tuy Hòa, một thành phố nhỏ bé hiền hòa miền Trung ở gần Nha Trang. Ba của Tâm là thầy giáo, còn bố tôi làm cho Ty Ngân Khố, hai gia đình nguyên là công chức từ Hà Nội được chính phủ tái bổ nhiệm về tỉnh Phú Yên. Mỗi gia đình chúng tôi được cấp một căn nhà tranh vách lá ở trong khu “Bắc Kỳ Di Cư.”  Thỉnh thoảng, nửa đêm đang cơn ngủ mê bị đánh thức vì những tiếng la thất thanh cháy nhà. Một sơ ý nho nhỏ cũng đủ thiêu rụi cả dãy, có lần nguyên cả khu chìm trong biển lửa.  Do đó, đợt thứ hai được nâng cấp lên nhà tranh vách đất, đỡ bị cháy hơn.

Ở cùng một khu, nhà sát vách nhau, đám con gái chúng tôi vừa ẵm em vừa nhảy dây, chơi chuyền, ô quan, rải ranh, u quạ và cùng tắm chung ngoài giếng công cộng lúc trời tối. Buổi trưa, rủ nhau qua bãi tha ma bên kia đường hái trái dâu, dú dẻ, chim chim, dãi nắng suốt mùa hè. Buổi tối cơm nước dọn dẹp xong, chúng tôi đi theo những đốm lửa chớp sáng lung linh để bắt đom đóm, bỏ chúng vào trong một cái ly thủy tinh, ánh sáng nhấp nháy tuyệt đẹp. Những trò chơi tiêu khiển rất đơn sơ và nghèo nàn không tốn tiền, nhưng lại vui một cách hồn nhiên.

Thời gian thần tiên đó chỉ kéo dài được vài tháng thì Thầy Cẩn, một thầy giáo cũng “Bắc Kỳ di cư” nhớ nghề cũ mà không đành lòng nhìn đám con nít lêu lổng, thầy bèn mở một “lớp học bỏ túi” ngay trong cái miếu bỏ hoang dưới một cây đa cổ thụ, để dạy dỗ chúng tôi. Bọn tôi gọi đó là “lớp thập cẩm” vì mọi người đều học chung một lớp bất kể học lực và tuổi tác.

Lớp học thật đơn sơ, bàn ghế là mấy miếng gỗ mục kê trên vài cục   gạch bể, trông rất thảm hại vì lúc nào cũng lung lay, chỉ chờ ai đụng nhẹ vào là đổ sập xuống ăn vạ. Bút mực là ngòi viết buộc dây cao su vào cây đũa, chấm vào nước quả mùng tơi màu tím, thế mà lũ học sinh vô trật tự đó cũng chịu khó tới “lớp miếu” cho đến khi thầy Cẩn về Bộ Giáo Dục, xin được ngân khoản, xây dựng mấy gian nhà tranh làm “Trường Nam Tiểu Học”.  Vài năm sau, Trường Nữ Tiểu Học ra đời, nhưng Tâm và tôi vẫn tiếp tục sát cánh với đám bạn học sinh con trai học ở Trường Nam vì Trường Nữ chưa có lớp cao.

Vài năm sau bố mất, Tâm theo mẹ dọn nhà về đường số 6, chỉ cách nhà tôi một bãi tha ma. Buổi chiều sau khi tan học, lấy cớ là phải học chung để làm bài, chúng tôi cũng có học một tí chiếu lệ, nhưng phần lớn là thủ thỉ chuyện trò với nhau, sau đó chúng tôi đưa nhau về. Đưa qua đưa lại mãi rồi cuối cùng cũng phải có một người đi về nhà một mình. Vì thương bạn, phần lớn tôi chịu hy sinh, ba chân bốn cẳng chạy băng qua bãi tha ma, không dám nhìn lại đằng sau vì tôi rất sợ ma. Dù vậy chúng tôi cũng không “chừa” gặp nhau. Buổi trưa, trước khi đi học, Tâm và tôi thường hay vào vườn nhà người ta “mua” trái cây, thế là Tâm thoăn thoắt trèo lên cây tha hồ hái quăng xuống cho tôi nhặt, thế nào cũng có vài quả rơi “nhầm” vào túi áo chúng tôi, chủ nhà chắc chắn biết đấy nhưng cũng lờ đi coi như “cho” đám nhất quỷ nhì ma này.

Khi đi học về, thỉnh thoảng Tâm ghé nhà tôi, nhiều khi hai đứa đói quá lục cơm nguội ăn với nước dưa muối, thế thôi! Vậy mà chúng tôi xì xụp vừa nhai vừa húp một cách ngon lành. Bây giờ có ăn cao lương mỹ vị cũng không thấy ngon bằng cơm dưa muối những ngày nghèo khổ ấy.

Những tháng hè rảnh rỗi, Tâm và tôi thuờng theo đám bạn đến cầu Ông Chừ chèo ghe trên sông Chùa sang Ngọc Lãng đi bẻ mía rồi hái trộm bắp. Thỉnh thoảng đến nhà người bạn có khu vườn rộng, sau khi bắt bướm hái hoa chán chê thì hè nhau hì hục xay bột đổ bánh xèo, cuốn vài cọng xà lách, chấm với mắm cái, ôi không bút mực nào tả hết được cái ngon của những món ăn thanh bạch, đơn sơ của thời thơ dại!

Lớn lên, hai đứa tôi cùng làm cho Đài Phát Thanh Tuy Hòa. Mỗi ngày đi làm chung bằng xe xích lô cho đỡ tốn. Thỉnh thoảng làm sang, ghé ăn phở ở tiệm Bình Minh. Nhưng thường thì không có đủ tiền để mua cho mỗi đứa một bát phở nên chỉ mua một bát rồi mượn cái bát không để chia tô phở làm hai, chúng tôi trộn vào thật nhiều giá và rau xà lách để ăn cho đủ no. Đến khi tôi lấy chồng ở Tuy Hòa, Tâm là người bạn học cùng lớp duy nhất đến dự đám cưới, các bạn khác phần lớn đã tản mát bốn phương trời.

Cuối cùng Tâm cũng bỏ tôi mà đi, mãi tận Đà Nẵng. Tôi có thăm Tâm một lần rồi hai đứa mất liên lạc vì lúc đó chiến tranh đang đến hồi khốc liệt, di chuyển từ tỉnh nọ đến tỉnh kia rất khó khăn và tốn kém. Hơn nữa chúng tôi đều có con nhỏ phải chăm sóc. Lúc Đà Nẵng mất, tôi rất lo cho Tâm nhưng cũng đành chịu vì chẳng làm gì được, chỉ biết cầu mong cho gia đình bạn tôi được bình an.
Đột nhiên như một giấc mơ thần thoại, tôi gặp lại Tâm trong trại tỵ nạn ở Đảo Guam tháng 5 năm 1975. Trong lúc đang hoang mang, lo sợ, buồn tủi vì phải bỏ nước ra đi và không rõ tương lai sẽ khó khăn như thế nào, chúng tôi chỉ biết ôm nhau khóc sướt mướt kể lể chuyện ngày xưa.

Sau khi rời trại tỵ nạn, dọn về ở Virginia ba năm, gia đình tôi cuối cùng đã chọn vùng nắng ấm, thung lũng hoa vàng San Jose ở California làm quê hương thứ hai. Tuy không liên lạc được với Tâm một thời gian dài, nhưng tôi cũng không lo vì biết chắc người bạn thân yêu của tôi và gia đình đã đến được bến bờ tự do như tôi.

Một ngày đẹp trời năm 1978, được tin gia đình Tâm đã bỏ xứ lạnh Wisconsin dọn về Nam California, vợ chồng con cái tôi tức tốc xuống đón mừng gia đình Tâm.  Từ đó đến nay, hai đứa tôi như chim liền cánh, cây liền cành, lúc nào cũng có nhau mặc dù đứa ở miền bắc, đứa dưới phía nam, xa nhau cả gần 500 dặm. Chỉ mỗi việc chạy lên chạy xuống dự đám cưới sáu đứa con của Tâm và ba đứa con của tôi cũng làm chúng tôi bở hơi tai.

Mỗi lần tôi than đau vai vì phải dùng computer nhiều quá là Tâm lại gửi theo Xe Đò Hoàng lên cho tôi, khi thuốc uống, lúc thuốc xoa. Chỉ sự lo lắng và chăm sóc của nguời bạn chí tình này cũng đủ làm cái vai của tôi giảm đau một nửa rồi.

Ngày Valentine năm 2004, trên San Jose, tôi đến chùa xin được quy y và thầy đã cho tôi Pháp danh “Diệu Tâm”. Như một định mệnh, tình cờ trong pháp danh của tôi có tên của Tâm.  Chiều hôm ấy, dưới Santa Ana, Tâm cũng xin quy y và nói cho thầy biết về pháp danh của tôi nên thầy đã đặt tên cho Tâm là “Diệu Hằng”.  Thế là cho đến chết, chúng tôi lúc nào cũng mang tên của nhau.
Tâm làm thơ rất hay. Một nhạc sĩ học cùng trường và cũng ở trong khu di cư với hai đứa tôi, đã phổ nhạc mấy bài thơ của Tâm. Vì tình bạn cao quý “thương nhau trái ấu cũng tròn,” tôi bèn lấy hết can đảm hát những bài thơ của Tâm. Nhờ thơ hay và nhạc cũng hay nên mới che lấp được cái giọng hát “không hay” của tôi. Nhưng điều đáng quý là ba đứa tôi, thân nhau từ thuở tiểu học, đã dám cả gan làm thơ, đặt nhạc và hát cho nhau nghe.

Quý, chồng của Tâm là một cựu sĩ quan trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa.  Anh có bề ngoài rất đàn ông, lúc nào ăn mặc cũng thanh lịch, chải chuốt, lại thêm hát hay và nhẩy đầm thật lả lướt. Tưởng là một bậc “công tử ăn chơi”, nhưng Quý lại rất khéo tay và chăm lo việc nhà. Ai đến thăm, nhìn vào cái vườn thượng uyển của đôi uyên ương này cũng phải trầm trồ, từ cái patio thật vương giả, đến những giàn hoa tươi thắm và những cây trái trĩu chịt, tất cả đều do hai vợ chồng tự làm. Tâm thường chia cho tôi từng cành hoa, cọng cỏ đẹp và hiếm quý để tôi đem về trồng. Người nào đến khen vườn của tôi, tôi cũng khoe ngay: “cây hoa này, chậu lan kia, vòm cỏ nọ, đều là của Tâm, bạn tôi cho đấy”.

Các con của tôi rất ngưỡng mộ vợ chồng Tâm, chúng nó luôn bảo rằng: “Cô Tâm đã đẹp mà chú Quý lại ‘cool’, hai người thật xứng đôi.”

Tâm và tôi có rất nhiều bộ quần áo và áo dài giống nhau. Hôm đi dự đại hội cựu học sinh Nguyễn Huệ Phú Yên, có lúc thấy tôi một mình, mấy người bạn hỏi đùa: “nửa kia đâu rồi mà nửa này đứng đây ngơ ngác thế?”

Ngày Tâm về hưu, tôi đã mua tặng bạn tôi cái đàn keyboard, trước   là để giải trí, sau là bắt trí óc làm việc cho nó khỏi làm biếng mà quên trước quên sau.

Khi biết Tâm bị đau thần kinh tọa, tôi rất thương và lo cho bạn nên vội vàng gửi xuống cho Tâm chai thuốc bổ và những thứ thuốc chống đau nhức cả uống lẫn thoa. Tôi rất mừng được biết bạn tôi đã khỏi bệnh.

Tôi chợt nhớ ra một điều là trong suốt sáu mươi năm làm bạn, qua bao nhiêu tang thương dâu bể xảy ra trong đời, Tâm và tôi chưa hề một lần giận hờn hay nặng lời với nhau. Tôi không bao giờ ganh tị với nhan sắc và cái duyên trời cho Tâm, còn Tâm lúc nào cũng vui mừng với những thành quả tôi gặt hái được trên đường sự nghiệp. Chúng tôi luôn luôn bù đắp cho nhau.

Bây giờ hai đứa chúng tôi đã về hưu, không còn những buổi sáng bật dậy lúc còn ngái ngủ, sửa soạn vội vàng, chuẩn bị thức ăn cho các con đem đi học rồi phóng xe trên xa lộ để kịp giờ đến sở. Làm việc cật lực suốt ngày dài đằng đẵng, tan sở, hấp tấp đến trường đón con. Về tới nhà, chỉ kịp bỏ chùm chìa khóa xe vào ví để trên kệ là vội chạy xuống bếp nấu cho chồng con bữa cơm chiều có cơm dẻo, canh ngọt.

Dù thỉnh thoảng đã có những đau nhức hay đầu óc quên ngược quên xuôi của tuổi “về già”, chúng tôi vẫn có những phút rất “trẻ thơ,” ngồi nhắc lại chuyện ngày xửa ngày xưa, thuở còn đi học, đứa nào có “bồ” trước và nhiều hơn, khi tôi đếm sót, Tâm còn nhắc tên anh chàng đó nữa. Lúc ấy ở tuổi học trò, chỉ là những lời bóng gió trong thiệp chúc Xuân hay lưu bút lúc nghỉ hè, bạo lắm cũng chỉ dám kẹp thư với vài giòng thổ lộ nhẹ nhàng khi trả sách cho mình thôi, thế mà cũng đã làm trái tim non dại của tôi xao xuyến. Bây giờ gặp lại nhau trong những lần đại hội của trường cũng chỉ nhìn nhau mỉm cười rồi thôi.

Cách đây bốn tháng, Tâm cho tôi biết ý định bán nhà đang ở, rồi mua một mobile home. Tôi hoàn toàn đồng ý và nói rằng một số bạn của vợ chồng tôi ở trên San Jose này, toàn quyền cao chức trọng, tiền bạc rủng rỉnh, cũng đã làm như thế vì bây giờ ai cũng trên 65 cả nên đã về hưu và muốn thu vén cho gọn lại, nhà nhỏ đỡ phải dọn dẹp và còn có tiền để chia cho các con cháu vì chết đi cũng chẳng mang theo. 

Hôm tháng tám, khi tôi xuống dự Đại Hội Việt Báo ở Santa Ana, Quý và Tâm đã dẫn vợ chồng tôi đến xem một cái mobile home trước khi quyết định mua, chúng tôi đều thích. Hai tuần lễ sau, vợ chồng Tâm đã dọn nhà. Ai cũng tiếc cái vườn cây hai người đã bỏ biết bao công sức và tiền bạc gây dựng, nhưng Tâm thản nhiên bảo tôi rằng: “tao đã ‘ngộ’ rồi, cái gì dọn được thì mang theo và không tiếc nuối những gì phải bỏ lại”.

Bây giờ các con của Tâm đều đã lập gia đình. Con gái lớn đã được dân cử vào một chức vụ trong chính quyền, con gái nhỏ mở một trường dạy kèm trẻ học sinh tiểu học rất thành công. Những cậu con trai cũng đâu vào đó cả. Người bạn chí thân này của tôi đến bây giờ vẫn còn vừa đẹp vừa duyên dáng như thuở nào mặc dù đã có một bầy con và một đàn cháu rất đông.

Tôi rất mừng là cuối cùng bạn tôi đã hoàn thành ý nguyện, bây giờ không còn bận lòng đến những chuyện ngày xưa từng quay cuồng, lo toan. Bạn tôi đã hoàn toàn hạnh phúc trong việc hưởng nhàn cùng chồng con và đàn cháu.

Bạn thân quý của tôi ơi! Mấy hôm nay đài truyền hình đã rộn rã chiếu lên những cây thông đèn sáng lấp lánh rực rỡ với những bài hát đón mừng Noel, xin chúc bạn và gia đình một mùa Giáng Sinh an bình. Nhớ giữ gìn sức khỏe để còn có sức vượt 500 dặm thăm nhau thường xuyên nhá.
Giáng Sinh 2014

Post a Comment