Thiền Trong Văn Hóa
Nhật Bản.
(Thơ Hàikú, Hội họa và Trà đạo)
Lê Tấn Dương
Phạn là một cổ ngữ trong văn hóa Ấn Độ. Tiếng
Phạn được sử dụng như một loại hình ngôn ngữ tế lễ của đạo Bà La Môn. Trong
tiếng Phạn của người Ấn Độ, chữ Dhyana được hiểu là “tịch lự”. Khi con người trầm
tư chiêm nghiệm một vấn đề nào đó của cuộc sống và vũ trụ. Mức độ trầm tư chiêm
nghiệm đến giai đoạn giác ngộ, lúc ấy con
người sẽ thấu triệt những nguyên lý vận hành sự biến dịch của vạn vật trong tự
nhiên. Như vậy thì Dhyana là chữ thứ nhất, là chữ đầu tiên của Thiền. Các thiền
sư, triết gia và học giả Trung Hoa về sau đã phiên âm chữ Dhyana ra tiếng Trung
Hoa là Ch’an (thiền na).
Chữ “Thiền” mà chúng ta sử dụng hiện tại,
kể cả chữ Zen trong danh từ triết
học Nhật Bản đều xuất phát và trại âm từ chữ Ch’an của Trung Hoa. Trong
bài viết nầy, tôi chỉ liệt kê vài chi tiết mang tính khái niệm về quá
trình phát triển của thơ Hàikú, hội họa
và trà đạo trong văn hóa Nhật. Phân tích nguồn gốc và những chi tiết
liên hệ đến Văn học sử Nhật Bản là việc làm của các nhà khảo cứu về ngữ văn. Cây
mận trắng Trung Hoa (nhà thơ tiên Lý Bạch) và cây chuối ba tiêu Nhật Bản
(Basho) không có bất cứ liên hệ gì với nhau cả. Hai thế hệ cách
biệt nhau hơn 900 năm, sống ở hai không gian
cách xa nhau ngàn vạn dặm. Nhưng ảnh hưởng nhau rất sâu đậm trong cảm
nhận về con người, thiên nhiên và tư tưởng triết
học.
Triều đại nhà Đường có thể xem như là thời
kỳ cực thịnh của Văn học Trung
Hoa, Qua nhiều thế kỷ giao lưu Văn hóa, các thiền sư Nhật Bản chịu ảnh hưởng
sâu đậm văn học Trung Hoa qua các nhà thơ nổi tiếng Vương Duy, Tô Đông
Pha, Bạch Cư Dị, Hạ Tri Chương, nhất là nhà thơ tiên Lý Bạch. Cuối thời Sơ
Đường, thi hào Lý Bạch (701 -762) với cỏi thơ siêu thoát vừa phóng túng vừa
lãng mạn đã làm cho thi ca Trung quốc rạng rỡ suốt triều đại nhà
Đường. Chúng ta thử đọc lại bài thơ “Tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” để thấy
nét lãng mạn trong tứ thơ và sự hài hòa trong cấu trúc của thơ ông:
Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu
Cô phàm viễn ảnh bích không tận
Duy kiến Trường giang thiên tế lưu
(Lý Bạch)
Bạn
từ lầu Hạc lên đường
Giữa
mùa hoa khói, Châu Dương xuôi dòng
Bóng
thuyền đã khuất bầu không
Trông
theo chỉ thấy dòng sông bên trời.
(Bản dịch của Ngô Tất Tố)
Một hình ảnh đầy xúc cảm buổi chia ly bằng
hữu. Hình ảnh một bóng thuyền nhỏ bé trôi trong một không gian tĩnh lặng với
màu sắc sương khói huyền hoặc. Ý thơ sâu thẳm và mang đầy tính Thiền. Một không
gian cũng đầy hình ảnh Thiền. Rõ ràng nhà thơ Lý Bạch như đã nhìn
thấy, đã ngộ được cái quả nặng nề từ
cái nhân của kiếp người với sinh ly
tử biệt.
Matsuo
Basho (1644-1694)
Chín thế kỷ sau Lý Bạch, tại Nhật Bản, dưới
ảnh hưởng của các Thiền giả Trung Hoa, Matsuo Basho (1644-1694) đã làm cuộc lữ
hành khắp nước Nhật để mang hơi thở Zen vào thơ Hàikú
như một chuyển tải cho đời bức tranh về ngôn ngữ. Hãy cùng đọc lại Basho:
Sương
tuyết nhất nhân hành
Ngã
thị trần gian cô lữ khách
Vô sở
hà quy lộ
(Matsuo
Basho)
Một
người đi giữa tuyết sương
Tôi
là lữ khách dặm trường sơn khê
Không nhà cũng chẳng còn quê
Hỏi làm sao biết đường
về chốn xưa.
(Bản dịch Lê Tấn Dương)
Thiền trong thơ Hàikú.
Một
cách tổng quát, HÀIKÚ
là thể loại thơ ngắn của nguời Nhật. Bài thơ ngắn đó bao gồm 17 âm tiết, thường
dùng để tả cảnh thiên nhiên cùng tâm trạng của con người trước những biến dịch
của vạn vật. Trong văn học Nhật Bản, Basho (Ba tiêu, cây chuối) là thi sĩ bậc
thầy về thể loại thơ Hàikú
nầy. Thực ra, thơ Hảikú
đã có trong văn học Nhật Bản trước khi Basho ra đời, nhưng chỉ đến khi Basho và
những bài thơ ngắn của ông xuất hiện, thêm sự tiếp sức của những thi sĩ Haiku
cùng trường phái như Buson, Issa, Guson...Chính họ đã khai phóng một trường
phái thơ ngắn nhưng đậm đà chất thiền và đã đẩy thơ Hàikú
lên đỉnh cao trong nền Văn học Nhật Bản.
Một bài Hàikú
thường chỉ có 3 câu với 17 âm (5-7-5 và có thể đảo thứ tự). Thông thường trong
Hán Tự của các thi sĩ Trung Hoa, chúng ta vẫn thấy có 17 âm giống như trong thơ
Hàikú nguyên thủy của Nhật. Nhưng khi dịch qua tiếng Việt,
chúng ta bị nhiều khó khăn ràng buộc bởi quy luật của số lượng âm tiết. Do đó
chúng ta khi dịch thơ, nhất là những bài Hàikú, số lượng ngôn từ
đôi khi nhiều hơn hoặc ít hơn ngôn từ chính bản. Có nhiều người khi đọc Hàikú
đã hỏi:
với 3 câu thơ ngắn thì sẽ diễn tả được gì. Điều đó thì tùy thuộc sự rung cảm từ
tâm thức của tác giả và người đọc, tùy mức độ giác ngộ của mỗi
người về cuộc sống và cảnh quan. Với Zen (thiền), ba câu
tuy rất ngắn nhưng diễn tả được rất nhiều điều.
Tạm chia
tay với Lý Bạch và Basho, chúng ta cùng Guson lắng nghe nỗi lòng cố quốc của kẻ
tha hương trong một bài thơ Hàikú nổi tiếng của ông. Có đi một mình
dưới gió mưa trăng lạnh, mới thấy được cảm giác u tịch của kẻ lữ hành. Bài thơ
sâu thẳm mang hình tượng cô đơn của một hành giả đơn độc trong một chiều đông
giá xa quê hương với niềm đau lữ thứ.
Tha
hương cố quốc trường quy lộ
Đông
phong nguyệt dạ hành
Tịch
mịch nhất nhân tứ
(Guson)
Đường
về cố quận bao xa
Gió
đông trăng lạnh riêng ta lữ hành
Còn
không bến cũ những nhành hoa mai
(Ngô Văn Tạo dịch)
Ngôn từ trong thơ Hàikú
mang đậm tính trực cảm nhưng đầy hình tượng như những họa phẩm Thiền với những
đường nét mượt mà nhưng sắc sảo. Đề cập đến tính Thiền trong các họa phẩm của
các họa sĩ Đông phương nổi tiếng xưa nay thì ngoài các họa sư Trung hoa đã lưu
danh trong dòng văn học cổ điển từ thời nhà Đường đến triều đại Nam Tống mà tên
tuổi của họ đã đứng ở một vị trí cao trong triết học Đông phương như Vương Điện,
Thạch Đào, Bát Đại Sơn nhân, Lương Khải, Mã Viễn...Nền hội họa Nhật Bản cũng
lưu lại cho nhân loại những họa phẩm nổi tiếng của Sesson, Motonobu Kano,
Mokuan, Shohaku, Tohaku, Sengai Gibon… mang đậm tính Thiền.
Thiền trong tranh thủy mặc của Sengai Gibon (1750 – 1837)
Là một thiền sư Nhật bản thuộc dòng Lâm Tế,
ông nổi danh với biệt tài vẽ tranh thủy mặc. Những bức tranh của ông mang đậm
chất thiền, đơn sơ nhưng nhẹ nhàng. Trong phòng tĩnh tọa của nhiều thiền
viện, thường có một hình vẽ rất phổ biến về một vòng tròn mà các thiền sư thường
dùng để tượng trưng cho sự giác ngộ, một thế giới rỗng không và tròn đầy. Bức
tranh nổi tiếng của thiền sư Sengai thì khác. Thay vì chỉ vẽ một vòng tròn, ông
lại vẽ thêm một tam giác và một hình vuông, (○△□
).
Phần lớn trên những họa phẩm của Sengai, ông đều có ghi chú thêm một câu thư
pháp cạnh bên, nhưng trong bức tranh đặc biệt này Sengai lại để trống, không đề
thêm một câu thư pháp nào. Ý nghĩa của bức tranh ấy hoàn toàn tùy theo sự giải
thích và hiểu biết của người xem. Với thiền sư Suzuki thì bức tranh ấy biểu
tượng cho toàn thể vũ trụ, vòng tròn tượng trưng cho cái tuyệt đối (Absolute),
hình tam giác tượng trưng cho sắc, hình tướng (form), và hình vuông tượng
trưng cho thế giới của hiện tượng (phenomena).
Suzuki là người rất ngưỡng mộ thiền sư
Sengai. Nhìn bức tranh ấy, ông đã cầm bút viết thêm một câu thư pháp “△□ bất
dị ○” (△□不異○). Ý nghĩa của nó là tam giác, vuông cũng chẳng
khác gì tròn. Nó cũng giống như câu Tâm Kinh “Sắc bất dị không”, sắc
cũng chẳng khác gì không. Hình như thiền sư muốn nói rằng, vạn vật trong
vũ trụ đều có thể biến đổi nhưng thật ra chúng không có gì khác biệt nhau, tất
cả đều cần thiết và theo tự nhiên của sự
sống. Chính vì vậy, chúng ta sẽ không bao giờ có thể tìm được một khuôn mẫu nào
là hoàn hảo, tuyệt đối cả. Sự hoàn hảo nếu có, là một thái độ
trong tâm, chứ không phải là ở hoàn cảnh bên ngoài.
Trà đạo trong văn hóa Nhật Bản:
Ngoài
sự xuất hiện của thơ, họa. Người Nhật cũng chú trọng đến Trà đạo như là cách thức
để làm cho tâm hồn con người yên tỉnh. Chính có sự tĩnh tâm, con người mới có
cơ duyên để chứng nghiệm bản thể vô ngã. Có tĩnh tâm trước mọi cảnh giới, có diệt
được cái ngã trong tâm thì mới có thể hành Thiền. Luận về Trà đạo, tôi xin kể một
mẫu chuyện nhỏ để rõ thêm về Trà đạo Nhật bản.
Chuyện kể Thiền sư Nan-In sống dưới thời
Minh Trị Thiên Hoàng. Ông nổi danh trong giới Trà đạo. Một hôm tiếp một học giả
đến tham vấn về Thiền. Trong lúc đãi trà, thiền sư rót mời vị học giả một tách.
Tách trà đã đầy nhưng thiền sư vẫn tiếp tục rót. Vị học giả nhìn nước trà tràn
ra ngoài, không chịu được nên lên tiếng: “Thưa thiền sư, chén trà đã tràn rồi,
không rót thêm được nữa đâu”. Thiền sư Nan-In từ tốn nói: “Thì cũng như cái
chén nầy, ông đã mang đầy tư kiến lẫn thành kiến, làm sao tôi có thể chỉ cho ông
về thiền nếu ông không cạn chén của ông”.
Từ mẫu chuyện trà đạo của thiền sư Nan-In,
ta lại hình dung cái im lặng hầu như tuyệt đối trong bài thơ phi hạc của Guson
khi diễn tả sự bé nhỏ và nổi cô đơn của con người trưóc vũ trụ đầy biến dịch và
vô cùng.
Thiên biên cô phi
hạc
Đái tự thiên thu
thế hận thường
Kim dục mãn nguyệt
quang
(Guson)
Bên trời hạc lẽ
loi bay
Thiên thu hận ấy mờ
phai cỏi người
Cánh vàng nặng ánh
trăng soi
(Trịnh Công Sơn dịch)
Đứng trong
phạm trù ngôn ngữ thì chúng ta phải nhìn ra một thực tế là ngôn từ không thể
nào đủ sức để diễn tả trọn vẹn những cảm nhận của con người. Bởi vậy chúng ta sẽ
không ngạc nhiên khi đọc Hàikú. Những thi sĩ thuộc
trường phái Hàikú nhìn sự việc bằng trực cảm và rồi thể hiện trực tiếp
ý tưởng của mình ngay trong lúc bắt gặp thực tại. Họ quan niệm, nếu phải đào
sâu sự suy nghĩ thì còn gì là cảm quan trực giác. Khi ấy, tính thiền vẫn tồn
tại nhưng không còn ảo diệu. Ngôn từ trong thi ca Hàikú
là trực giác, 17 âm tiết không thừa không thiếu nhưng phản ảnh một bức tranh
toàn diện, tổng thể.
Trở lại với Thiền trong thơ Hàikú của Basho, xin dẫn một chuyện
kể về thi sĩ Basho để thấy rõ hơn điều chúng ta vừa đề cập.
Một hôm, Basho đang ngồi tham thiền trong
khu vườn yên tỉnh. Bất chợt thi sĩ thấy một chú ếch nhảy tỏm vào một ao nhỏ làm
mặt nước đang yên tỉnh trong ao bỗng dợn âm ba sau tiếng động. Bằng cái nhìn trực
cảm trước sự việc, Basho giác ngộ ra cái thâm sâu về bản chất huyền nhiệm của sự
hiện hữu. Bài cú sau đó của ông trở thành một trong vài bài hay nhất trong thơ
Hàikú Nhật Bản.
Mảnh
ao tù
Con ếch
nhảy vào
Tiếng
nước khua.
(Basho)
Chính bài thơ ngắn nhưng tiềm ẩn sâu xa
tính Thiền của Basho đã khởi động một cách nhìn mới, một cấu trúc mới trong văn
học và một tư duy mới về triết học Nhật Bản. Trong thời gian Basho học thiền với
Thiền sư Buccho Kokushi ở trên núi, có một giai thoại rất thú vị
về
hai người. Giai thoại ngắn và giản dị nhưng ảnh hưởng rất lớn và quan trọng vì
nó bao trùm và làm thay đổi khuôn mặt vốn bình thường của nền văn học Nhật.
Giai thoại như sau:
Một ngày nọ, Basho đang tỉnh tọa trong am
Ba tiêu, Thiền sư Buccho Kokushi (Quốc Sư Phật Đỉnh) đến thăm và đây là phần đối
đáp giữa hai người:
Thiền sư Phật Đỉnh: Lúc nầy con ra sao ?
Basho đáp: Sau cơn mưa, rong rêu xanh hơn trước.
Thiền sư lại hỏi tiếp: Trước khi rêu xanh thì Phật pháp là gì ?
Basho trả lời : Con ếch nhảy vào nước, kìa tiếng động.
Từ một hình ảnh rất đơn giản, rất bình thường
trong cuộc sống, nhưng dưới trái tim rung động của Basho, ông đã chứng ngộ được
lẽ vô thường của cuộc sống. Sự tĩnh lặng cũng là nguồn mạch của sự sống và điều
đó cũng thể hiện bản ngã và những gì còn tồn tại của vũ trụ không phải là những
thực thể riêng biệt. Tất cả trôi theo dòng sinh hóa của vũ trụ. Một vũ trụ sinh
động và biến hóa khôn lường.
Hãy nghe Basho nói về lẽ vô thường của đời
người và sự vô biên của vũ trụ trong bài Hamagury No
Sắc
sắc không không vũ trụ quan
Hà sự
tồn sinh ký
Mỹ
thức luân lưu niệm
(Basho)
Trần
gian có có không không
Luân
lưu sinh diệt vô thường mà thôi
Mỹ
quan nhìn thấu cõi người
(Ngô
văn Tạo dịch)
Từ sau lần hội ngộ với Thiền sư Buccho
Kokushi, Basho đã nhìn thấu được cỏi vô biên của vũ trụ và lẽ vô thường của kiếp
nhân sinh. Nói cách khác, nhà thơ đã nghiệm ra chân lý của cuộc sống. Cuộc sống
mỗi người, dù hoàn cảnh ra sao thì vẫn mang một cái “nghiệp”, nhưng trong nghiệp
sẽ có “duyên”. Thơ Haiku từ sau Basho đã không còn mang dáng dấp mua vui, giải
trí như trước mà đã biểu lộ một cách sâu sắc phản ứng và thái độ của con người
trước cuộc sống và thiên nhiên.
Thơ Hàikú
quá ngắn ư ? Làm sao nó có thể diễn đạt hết những điều mà người làm thơ muốn
nói?. Đọc Hàikú,
mới thấy những câu hỏi như trên là không cần thiết. Tính vô
ngôn của
Thiền, đôi khi lại nói nhiều hơn những điều người khác muốn nói. Trong một bài Hàikú,
những điều quan trọng nhất, cốt lõi nhất sẽ nằm trong im lặng. Nó tiềm ẩn trong
sự im lặng của vô ngôn. Đó là sự im lặng
của tư tưởng.
Sơ
đông trường quy lộ
Tà
dương tịch mịch ngã nhất nhân
Thiên
căng hà xứ thị
(Waga
michi ya – Guson)
Đường
về một cỏi riêng ta
Chân
trời là xứ hay là nơi nao
(Bùi Giáng dịch)
Tạm Kết:
Trong văn
hóa Nhật, Thiền là khu vườn bất tận,
thâm sâu và ảo diệu. Thưởng thức thơ
Haikú, ngắm tranh Thủy mặc và Trà đạo là
một thử nghiệm của tâm thức và là một hành trình triết học mang tính sáng tạo.
Vị trí của thơ Haikú và Hội họa có vẻ rất gần với Thiền nhưng thực tế
vẫn còn một khoảng cách khá xa vì Haìkú và Hội họa chỉ đại diện cho một lớp người nhất định
trong xã hội Nhật Bản.
Ngược lại, Trà đạo thì dung dị và rộng
rãi. Vua quan, sĩ phu, chức sắc tôn giáo và cả khối lớn quần chúng đều có thể
áp dụng Trà đạo như là phương cách để tĩnh tâm trong một thế giới riêng biệt,
không cần đến ngôn ngữ. Nói một cách khác, Trà đạo đã xóa đi cái lằn ranh tri
thức và lấp được hố sâu ngăn cách trình độ, giai cấp. Người Nhật coi trọng cách
thức uống trà như một đạo giáo để tu tâm. Trà đạo rất gần với vô ngôn, nên đường
đi đến Thiền cũng không quá xa và mọi người đều có thể vận dụng con đường đó. Nói là không quá xa, nhưng thực tế không đơn
giản như vậy vì đến
được Thiền hay không thì lại tùy thuộc vào cái duyên của mỗi người. Không phải
ai đã đọc, đã làm thơ Hàikú, đã say mê Basho, đã trầm mặc trong các họa tiết
của Guson,
Issa… hoặc đắm chìm trong cung cách Trà đạo như người Nhật là
có thể hành Thiền.
Thiền nhìn dưới lăng kính triết học Đông
Phương bao gồm cả triết học Trung Hoa, Ấn Độ, Nhật Bản, Việt
Nam…hình như không thể thoát khỏi ảnh hưởng của Phật
giáo. Nếu chúng ta hiểu thiền là vô niệm thì con đường để đi đến vô niệm
chính là những công án thiền. Chỉ khi nào ta đến được khu vườn thiền thì mới
chứng ngộ để thấy được Thể tánh. Nhưng khổ nổi con
người đa phần chỉ đi tìm cái Tướng nên đường đi trở thành vô định.
Ngài Liễu Quán mất năm năm diện bích mới tìm được sự giác ngộ. Thời gian ấy
không lâu cũng không mau. Lâu hay mau chỉ là ý niệm về thời gian và tùy “duyên”
của mỗi người. Có nhiều người suốt một đời hành thiền vẫn không tìm được chữ Ngộ
vì không có duyên. Người hành thiền, khi tâm còn nghi vấn là MÊ. Khi vỡ tan được
nghi vấn là NGỘ. Con đường từ Mê đến Ngộ không có cấp bậc, càng không có biệt lệ
cho bất cứ ai.
Lê Tấn Dương. 2023
Tài Liệu Tham Khảo:
-
Thiền
trong Hội họa . Chimyo Horioka &
Siewart W. Holmes .Nhà XB Tổng Hợp TP/HCM 2004
-
Hán
Tự Hài Cú. Ngô Văn Tạo. Nhà XB. Văn Học
2001
-
Trà
Luận. Nguyễn Bá Hoàn. Nhà XB Phương
Đông 2003
-
Hội
Họa Trung Hoa . Lâm Ngữ Đường. Nhà XB
Mỹ Thuật. Jan. 2005
-
Thiền
Luận. D.T Suzuki, dịch giả Trúc Thiên.
Nhà XB. TP/HCM 1992
-
Vườn
Thiền. Nguồn Internet.

No comments:
Post a Comment