Thursday, October 3, 2024

VẦN THƠ CỦA RIÊNG ANH (NGUYỄN VẠN THẮNG)

  (NGUYỄN VẠN THẮNG)

  VẦN THƠ CỦA RIÊNG ANH 



Thơ anh là nỗi nhớ 
Chuỗi ngày với mộng mơ 
Lời yêu chưa bày tỏ 
Mong tình đẹp như thơ 


Thơ anh niềm trống vắng 
Cho nắng phải hờn ghen
Chiều Thu vàng héo úa
Nên hoài nỗi nhớ em 


Thơ anh cả nỗi niềm 
Giữ mãi tình trong tim 
Khi Đông về giá lạnh 
Dấu chân lạc bước tìm 


Thơ anh giòng dư l
Ép vào nỗi thương vay 
Trái tim lòng Vương vấn 
Nhưng người có nào hay 


Thơ anh hoài xa vắng 
Lời tình thơ mong manh 
Cho vần thơ vơi cạn 
Tình ta phút lỡ làng 


Thơ anh giòng mực tím 
Ghi lại tuổi học trò 
Khi tình đầu tắt lịm t
Mang hoà nỗi vu vơ 

Thơ mong là nắng ấm 
Sưởi lòng lúc giá băng 
Cho tình thêm sâu đậm 
Tình thôi hết ngỡ ngàng 


Thơ em giòng suối mát 
Xoa dịu nỗi niềm đau 
Lời thơ hòa điệu nhạc 
Giòng đời mãi trôi mau 

 NGUYỄN VẠN THẮNG


CƠN GIÓ ĐỒNG HÀNH (ĐẶNG QUANG CHÍNH

 Cơn gió đồng hành

 












Em tự nhủ đường em đi tự bước
Ai đi cùng cũng tự bước mà thôi
Ta cùng đồng hành cùng bước bên nhau
Đời đau khổ hay sướng đau cùng hưởng

Người đồng hành người đi bên em đó
Nếu em không bước anh dìu em bước
Bước song đôi biển tình không cạn nữa
Sóng dập dìu ru mãi cuộc tình ta

Cơn gió tình làm sóng biển lăn tăn
Gợi sâu lắng trong tình người muôn thuở
Nhưng đôi lúc biển gợi cơn thịnh nộ
Ấy là tình sôi nổi trách ai đâu

Lúc oán trách lúc yêu thương nồng thắm
Ngày ấy xa rồi lưu luyến làm chi
Người ấy một thời bổn phận làm cha
Xong trách nhiệm vể trên cao ơn chúa

Tôi ở lại mẹ con vui đầm bọc
Con lớn rồi tình mẹ vẫn còn đây
Con khôn lớn một mái nhà yên ấm
Mẹ đơn côi bao vui thú bỏ qua

Nhưng bước đường đời vẫn còn dài lắm
Lắm lúc quanh co có lúc gập gềnh
Tôi chợt thấy tự nhiên sao trống vắng
Ước có người cùng chung bước đường xa

Lòng mong muốn mỗi người ai cũng có
Kiếm đâu ra chữ duyên đó nào ngờ
Cơn gió thoảng ấm lòng ngừoi trầm cảm
Thoáng qua đi một kiếp sống con người !...
 


Đặng Quang Chính

NGƯỜI TÙ BINH ĐÊM GIAO THỪA (PHẠM HỒNG ÂN)

 

NGƯỜI TÙ BINH ĐÊM GIAO THỪA


 

-Phạm Hồng Ân

I.

Tôi nhấc cái bao cát Mỹ lên cao, trút tất cả gia tài vào khoảnh quần trây-di túm ống của thằng Đực. Từ lọ dầu nhị thiên đường, thẻ bài cạo gió đến bọc ớt khô, đường chảy, thuốc rê, mắm ruốc, v.v…

Thằng Đực vừa cột ống quần, vừa đưa tay đuổi ruồi. Những con ruồi xanh mất dạy, ốm tong teo – cứ chực chui vào mũi, vào tai, vào miệng… đám tù binh rách nát. Có con cả gan bu thẳng lên mu tay thằng Đực. Chúng nhao nhao kêu tíu tít, chổng đít giành nhau hút chất bầy nhầy trong các mụn ghẻ, làm thằng Đực trân mình… muốn són đái.

Tôi đứng bám vào hàng rào kẽm gai. Hàng rào ngăn ngang, chia hai khu vực giam giữ khác nhau. Bên này: tù chính trị. Bên kia: tù hình sự. Thằng Đực thuộc tù hình sự. Nó bị bắt từ năm 1976 đến nay. Án: tập trung cải tạo, không ghi thời hạn. Bởi tội danh: hành hung nhân viên công lực. Khi hỏi, tại sao đánh cán bộ? Nó lầm lì ngước mặt lên mây xanh, như nói chuyện với đất trời. Mẹ, tại y cà chớn, tui quánh cho bõ ghét…

Tôi thương thằng Đực, vì nó thường chui rào qua khu chính trị, tìm tôi để xin thuốc. Nhiều lúc, tôi cũng đói meo, nhờ nó tiếp tế cho một ít. Xin qua xin lại nhiều lần, riết rồi thân nhau, coi nhau như anh em ruột thịt. Thằng Đực hút thuốc như ống khói tàu. Nó vừa được vợ thăm nuôi tuần trước, vài tuần sau, người ta thấy nó cầm bọc nilon đi lượm tàn thuốc khắp nơi. Tàn thuốc lượm về, nó ngắt bỏ chỗ đã hút, rồi trút phần thuốc còn lại vào túi. Chịu khó như thế, chẳng bao lâu nó được một túi thuốc lá tổng hợp rất ngon lành. Từ thuốc rê, xuân lộc, hoa mai, đà lạt, tam đảo… đến bến thành, sài gòn giải phóng…, rồi có cả samit, đân-hiu, ba số, v.v… Trời ơi, hương vị đậm đà! Mặc tình cho thằng Đực phun hơi nhả khói.

Chiều nay, chiều hai tám Tết. Chốc nữa, tôi và mười chín bạn tù khác sẽ được cách ly, để ngày mai trở về với gia đình. Chỉ còn vài tiếng đồng hồ thôi, khi cánh cửa các lán tù khép chặt lại, tôi sẽ thật sự xa thằng Đực, không biết bao giờ mới gặp lại. Chốn thâm sơn cùng cốc này, dẫy đầy chướng khí.

Mấy tháng đầu đến đây, tôi đã trải qua cơn sốt rét rừng tàn khốc. Thằng Đực phải đào tìm một loại rễ cây rừng, về bó vào tay tôi để chặn cữ rét. Buổi chiều, khi hết giờ lao động, nó nhảy ùm xuống dòng sông Đrây, lặng lẽ bơi ra xa, trầm ngâm đưa những mụn ghẻ toang hoác ra nhử cá. Chất lầy nhầy tanh tanh của ghẻ lở, vậy mà lôi cuốn được đám cá đói lạc loài nào đó. Chúng đến rỉa mồi, và thằng Đực trân mình chịu đau… cho đến khi lòn tay phía dưới, bắt dính các chú cá mới thôi. Lần đó, nó nấu cho tôi nồi cháo giải cảm tuyệt vời, ngon nhất trần đời.

Trại tù Xuyên Mộc là một trong những trại tù nổi tiếng khắc nghiệt ở miền Nam. Hằng ngày, bọn tôi phải vào sâu trong rừng lao động nặng nhọc. Bữa ăn chính chỉ có loe hoe vài lát khoai mì chua lè, hoặc dăm trái bắp đá nhai muốn rụng răng. Đói quá, bọn tôi nhắm mắt lại, tưởng tượng đến mâm cao cỗ đầy trên bàn tiệc, để nuốt chúng vào bụng. Nhưng càng nuốt, chúng càng dội ra, nóng ran cả cổ họng. Đói quá, bọn tôi quơ luôn cả cỏ dại cây hoang cho vào nồi. Có đứa ăn nhầm nấm độc, ói mửa suốt đêm, rồi nằm xuôi tay chờ tử thần đến mang đi.

Thằng Đực may mắn hơn tôi, nó được vợ thăm nuôi đều đặn theo mỗi chu kỳ. Quà thăm nuôi của nó chẳng nhiều, chỉ quanh đi quẩn lại khô, mắm ruốc, đường chảy, nước tương, thuốc hút… Nhưng, theo nó, tình nghĩa của con Út (tên vợ nó) tràn trề. Quan trọng ở chỗ thương yêu với nhau, lúc sa cơ thất thế như thế này.

Tôi bất hạnh hơn nó. Ngày nào cũng nằm chèo queo, ngó ra cổng trại giam, trông tin vợ từng phút từng giây. Càng trông vợ, càng nghĩ quẩn. Tôi nghĩ đến những mối tình gãy gánh giữa đàng. Những người đàn bà nhẹ dạ, đành tâm sang ngang, từ chồng bỏ con trong cảnh lao lung. Tôi nghĩ đến Tuyết, vợ tôi, đang chới với giữa dòng đời khốn khổ. Liệu nàng có đứng vững được bằng đôi chân hiền thục, trước phong ba phũ phàng của thời cuộc?

Chiều xuống dần. Mặt trời vắt ngang trên các ngọn bằng lăng, chiếu ánh sáng gay gắt xuống trại tù. Thằng Đực gãi háng sột soạt. Những mụn ghẻ tượng mủ xanh, chực vỡ ra, lầy nhầy một cách xót xa. Chợt, nó lần xuống đáy quần, lôi ra lá thư chi chít chữ. Như một con sóc ranh mãnh, nó lẹ làng dúi vào túi áo tôi.

-Anh về, nhớ ghé nhà em. Tắm một chập cho sạch sẽ, mát mẻ. Đây là địa chỉ. Nhớ qua thẳng cầu chữ Y. Quẹo bến Phạm Thế Hiển. Nhà em ở cuối bến. Có con hẻm đi vào…

Tôi ờ ờ, rít hơi thuốc lá thật sâu, rồi ém khói lại trong buồng phổi. Tôi muốn thâu ngắn hình ảnh thằng Đực vào tim, vào lòng. Tôi muốn giữ kỷ niệm với nó. Những kỷ niệm đầy ắp tình thương, đầy ắp cay đắng ngọt bùi.

Tiếng còi bỗng vang lên. Tiếng gã trật tự quát tháo ầm ĩ. Tù binh nhốn nháo khắp nơi. Họ chạy vội ra sân, ngơ ngác nhìn xung quanh. Gã trật tự chấp hai bàn tay lại, đưa lên ngang mồm, làm loa:

-Hai mươi tù sắp trả tự do, tập họp. Chuẩn bị, chuyển trại.

Thằng Đực bỗng nẩy người lên, dang rộng đôi tay, nhào thẳng vào lòng tôi. Nó ôm tôi cứng ngắc, như sợ mất nhau. Nước mắt nó tuôn ra, lăn dài xuống má tôi, miệng tôi… mằn mặn.

-Về Bến Tre, nếu thất nghiệp. Anh nhớ lên con Út, vợ em. Con Út có vựa trái cây ở Phạm Thế Hiển. Nó sẽ bày anh cách mần ăn, kiếm sống.

Tôi ờ ờ, tìm cách đẩy nó ra, chạy vội đến gã trật tự. Tôi không thèm quay đầu nhìn lại thằng Đực. Bởi tôi sợ tôi mềm lòng. Rồi sẽ tệ hơn nó, khóc rống lên như một đứa con nít.

II.

Bến Phạm Thế Hiển tấp nập và dọc ngang những túp lều ổ chuột. Con hẻm vào nhà Út rối rắm như hang mối, chằng chịt những lối đi chia năm xẻ bảy. Tôi phân vân trước những lối đi. Lối nào cũng chật hẹp, tối tăm và ẩm ướt một cách nhớp nhúa. Tôi lật lá thư ra, hỏi thăm từng người. Cuối cùng, anh bán vé số dạo tình nguyện dắt tôi đến một khoang xe cũ, phía trước có vô số vỏ chai ngổn ngang.

-Đấy! Nhà cô Út đấy! Vào đi. Khom lưng xuống! Coi chừng, đụng cái trần cửa nghe cha nội!

Nhà Út là một khoang xe đò cũ lâu đời. Vòm thấp, lỗ chỗ dấu mục nát. Chủ nhà phải che thêm vài tấm cạc-tông để tránh mưa gió.

Tôi chui vào khoang xe. Khoang xe như một hang động mù mờ. Nếu không có ngọn đèn dầu leo lét trên bàn, tôi sẽ vấp ngã lung tung, bởi những đồ vật nằm vô trật tự trên sàn nhà.

Một bà già đang ngồi nhai trầu bỏm bẻm, chào tôi.

-Thưa bác, cháu muốn gặp cô Út.

Bà già chỉ chiếc ghế trống.

-Cậu là khách quen của con Út ư? Ngồi chơi, chờ chút. Nó mắc… đi khách.

Tôi lúng túng, nhìn vào phía trong. Tấm ri-đô màu cứt ngựa chắn ngang. Những cử động kỳ quái nào đó… đằng sau, dồn dập. Tiếng đàn bà lầu bầu, lẫn với tiếng quần áo loạt soạt, tiếng cài khuy áo…

Rồi, tiếng gã đàn ông cười khoái trá. Giọng cười như xé toạc không gian, bay vút vào đầu tôi, khiến tôi choáng váng, quay cuồng. Tôi vội đứng dậy như lò xo, lấy lá thư ra, buông xuống mặt bàn.

-Có thư gởi cho cô Út.

Tôi chỉ nói có bấy nhiêu lời. Xong, cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng ra khỏi con hẻm. Tôi không muốn nhìn thấy Út. Không muốn nhìn thấy người đàn bà hiền thục mà thằng Đực luôn mang ấn tượng đẹp đẽ trong lòng. Bây giờ, nàng đang làm cái nghề tệ hại nhất, xót xa nhất của một kiếp người.

III.

Cồn Dơi hiện ra trong ánh sáng nhá nhem cuối ngày. Mùi trái cây thoang thoảng. Mùi hương cau thơm thơm, làm khứu giác của tôi chùng xuống, nôn nao một cách lạ kỳ. Chỉ còn khoảng đê ngắn nữa, tôi sẽ tới nhà. Sẽ gặp lại Tuyết, gặp lại con thơ, gặp lại hình ảnh thân yêu ngày nào. Rồi, việc gì xảy ra? Tuyết vẫn còn nguyên vẹn như xưa? Hay như con đò tách bến sang sông? Hay như dòng nước bỏ nguồn ra biển?

Tôi lại nhớ đến con Út. Nhớ cái vựa trái cây tưởng tượng của thằng Đực. Nhớ giọng cười khoái trá của gã đàn ông dâm đãng. Nhớ từng điếu thuốc thơm, từng keo mắm ruốc, từng con cá sặc mặn mòi. Nhớ những bữa cơm “huy hoàng” ăn ké với thằng Đực. Bữa cơm đẫm giọt mồ hôi, đẫm giọt nước mắt tủi nhục của con Út.

Chỉ còn khúc quanh, chừng mươi bước nữa, tôi sẽ đứng trước cây vú sữa ở sân nhà. Tôi sẽ gặp lại túp lều nhỏ bé quen thuộc. Túp lều do chính tay tôi đẽo từng lỗ đủng đỉnh, chuốt từng mảnh cau tươi, và hì hục dựng lên đường hoàng – trước khi khăn gói vào tù. Túp lều được chị vợ tôi thương tình cho phép cất tạm, trên bờ đất ngoằn ngoèo những rễ cây chôm chôm.

Tôi đứng nép vào cây vú sữa, hồi hộp nhìn vào sân nhà. Thôi rồi! tất cả đã thay đổi hoàn toàn. Túp lều thân yêu ngày xưa, giờ không còn nữa. Thay vào đấy, là mái nhà khang trang, vách ván kín đáo. Và trời ơi! một gã đàn ông xa lạ nào đó, đang ngồi tỉnh queo, hút thuốc trước cửa. Gã mặc áo thun, quần đùi – chừng như có vẻ quen thuộc với căn nhà, từ lâu, rất lâu. Nghĩa là… không còn gì nói nữa. Tôi đã thua. Và đã thua một cách thảm hại.

Sẽ không còn nguyên do nào để ở đây, để nhìn thấy nỗi đau vô cùng đang thấm dần vào gan ruột. Tôi phải đi. Đi khỏi đây. Về phương trời xa lạ nào khác dung thân, sống chuỗi ngày tàn. Nhưng, trước khi bỏ đi, tôi phải gặp người chị vợ, chân thành nói lời cám ơn, từ tạ. Phải gặp con tôi, đặt vào gò má thương yêu của nó một nụ hôn cuối cùng.

Băng qua đoạn mương cụt đầy lá khô, tôi quyết định bước vào nhà chị vợ. Vừa tới cửa, chị tôi mừng rỡ reo to, rồi ôm chầm lấy tôi, nghẹn ngào.

-Em mới về đấy ư? Sao? Có khổ lắm không? Lao động có cực không?

Tôi đẩy chị ra xa, lạnh lùng như kẻ xa lạ:

-Tôi muốn gặp con tôi lần cuối, trước khi tôi rời khỏi nơi đây…

Chị trợn mắt nhìn tôi. Nhìn tôi từ đầu tới chân.

-Hả? Đi Đâu? Mày muốn bỏ vợ con hử?

-Ai bỏ ai thì tự biết lấy. Vậy chớ… thằng cha nội nào ngồi bên nhà tôi đó?

Tôi gằn giọng:

-Chị nói đi… Thằng cha nội nào?

Chị vểnh môi, ngạc nhiên. Rồi… nhào đến ôm chầm lấy tôi, cười khà khà:

-Thằng quỷ! Đó là Hai Lộc. Anh ruột con Tuyết. Nó từ thành phố dọn về đây gần ba năm nay. Nó cất nhà, thờ ông bà. Cái chòi đủng đỉnh của vợ chồng mày đã mục từ lâu, sập mẹ rồi!

Tôi há to mồm, nuốt từng lời chị. Những lời chị tuôn ra, lúc này, giống những ngọn roi quất vào lòng tôi, khiến tôi bật khóc lên như đứa con nít.

-Hai Lộc? Hai Lộc hả? Trời ơi! mười năm rồi, không gặp nhau. Ảnh lạ quá! Nhìn không ra. Còn vợ tôi? Con tôi? Hiện tại, ở đâu?

-Trời ơi! Em không được thư của mấy đứa cháu sao?

-Có được thư từ chi đâu? Sao? Chị cứ nói đi…

-Con Tuyết bịnh nặng hơn sáu tháng qua. Nó bị trụy tim, nằm bệnh viện khá lâu. Nó đang nghỉ tạm nơi nhà cô bảy ở Mỹ Tho.

Nghe được bấy nhiêu lời. Tôi phóng thật nhanh ra sân, xách vội chiếc xe đạp của Hai Lộc đang dựng bên gốc vú sữa. Tôi đạp lia lịa, băng qua khu vườn tối om om, chạy thẳng ra Bến Tre, rồi nhảy xuống phà Rạch Miễu, vượt qua sông Tiền mênh mông, để về Mỹ Tho gặp Tuyết, kịp giờ đón Giao thừa.

Tuyết nằm trên giường, xanh xao vàng vọt như một tàu lá rũ. Cơn bệnh vật ngã nàng, làm thay đổi toàn diện nhan sắc. Nhưng, nó đã không thể vật ngã được, không thể thay đổi được lòng thủy chung của nàng. Tôi sà xuống, ôm nàng hôn như mưa bão điên cuồng. Tuyết cười rạng rỡ, nụ cười tràn đầy nước mắt. Thứ nước mắt của hạnh phúc vô cùng.

Đêm đó, tôi dìu Tuyết thức dậy cùng đón Giao thừa. Chúng tôi như sống lại những ngày đầu tiên vừa mới quen nhau, những ngày hạnh phúc nhất trên đời.

Và đêm đó, tôi đã ngủ một giấc thật say sưa. Trong giấc ngủ, tôi chợt thấy thằng Đực hiện ra. Nó hiện ra với thân thể đầy mụn ghẻ tanh hôi, nhưng tay vẫn khư khư ôm lấy cái bọc nilon nhàu nát. Và cứ thế, nó lang thang khắp các lán tù, nhặt tàn thuốc vụn để quên đời…

-Phạm Hồng Ân

Wednesday, October 2, 2024

VỀ VIỆT NAM CƯỚI VỢ (THẦY CHẠY SIDNEY)

 


 
VỀ VIỆT NAM CƯỚI VỢ  
 
Ở xứ Úc tui đây ế vợ,
Về Việt Nam khỏi sợ khỏi lo. 
Xách đầy cặp táp tiền đô,
Tha hồ mặc sức lựa cô,lựa bà.
 
Lựa cho đã tìm ra ngọc quý,
Đẹp như tiên thỏa ý chiêu thê.
Người người trông thấy đều mê,
Đem về xứ Úc ê ê cái cày.
 
Ai cũng nói tên này có phước,
Được Hằng Nga xuống nước nâng khăn,
Cung tiên nàng chán rồi chăng?
Hay là tiền định nợ nần lương duyên.
 
Rồi dâu bể ai điên, ai tỉnh?
Cột tìm trâu nàng vĩnh viễn xa,
Theo người nàng thấy hơn ta,
Bỏ tui cô độc vào ra một mình.
 
Thầy Chạy Sydney

 

HAI GIỎ CUA (THƠ- TRẦN QUỐC BẢO)

               

Hai Giỏ Cua         
                                            Thơ Trần Quốc Bảo

Inline image

            Hai Giỏ Cua   

 
Chuyện ngụ ngôn: “Hai Giỏ Cua”,

Những con cua Mỹ, dễ ưa quá chừng!

Trong giỏ chúng nó khom lưng,

Để làm tam cấp nhiều từng cao lên.

 

Con nào leo được lên trên,

Liền thò càng xuống kéo liền anh em!

Nhờ tình tương trợ ấm êm,

Cả đàn cua Mỹ, vượt biên ra ngoài!

 

Inline image
 
Cua Việt, thời chẳng giống ai,

Con nào trong giỏ, cũng oai như trời!

Đứa nào leo cao hơn "Tôi",

Kẹp càng lôi xuống, nó rơi tức thì!

 

Giỏ cua, mở nắp trường kỳ…

Mà cua Việt… chẳng cách gì bò ra!

Thiếu vị tha, sống bất hòa,

Tương lai cua Việt, ắt là… Bún riêu!

 Inline image
Lời riêng
 - Chuyện cua, tán vượn, tán hươu,
Bút cùn chờ lãnh búa rìu “Làng ngang”!) 

           Trần Quốc Bảo
            Richmond, Virginia
        Địa chỉ điện thư của tác giả:

10 BÀI KHÔNG TÊN HAY NHẤT CỦA VŨ THÀNH AN (HOÀNG DUNG)

 

10 BÀI KHÔNG TÊN HAY NHẤT CỦA VŨ THÀNH AN


 

https://www.youtube.com/playlist?list=PLfe9JTtbGcgXhsSm3eGpy3fAMGo6GxEWk

* Nhạc sĩ V ũ T h à n h A n

“NGƯỜI VIẾT KHÚC BI CA CHO TÌNH YÊU “

* Vũ Thành An đã đến với cuộc đời này với một thân phận như thế, tựa hồ một người trời lỡ vươn tội bị đày xuống trần chịu nỗi đau tình dày vò, bứt xé…

"Nỗi buồn không tên “

- Cuối năm 1965, những lời ca buồn bã, não nuột của một kẻ si tình, thất tình: Này em hỡi, con đường em đi đó, con đường theo đó/ Đúng hay sai em?/ Mưa bên chồng có làm em khóc, có làm em nhớ những khi mình mặn nồng? trở nên phổ biến với rất nhiều khán giả, đặc biệt là giới trí thức Sài Gòn ngày đó.Sự thành công của Bài không tên cuối cùng góp phần khẳng định tên tuổi của chàng nhạc sĩ vừa tròn 22 tuổi – Vũ Thành An, đặt anh ngồi một chiếu riêng, ngang với những cái tên Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng, Lê Uyên Phương trong địa hạt âm nhạc Sài Gòn những năm 60. Tất nhiên, để có những giai điệu, lời ca thăng hoa ấy, bản thân nhạc sĩ đã phải nếm trải biết bao hy vọng, chờ đợi rồi thất vọng, ão não trong tình yêu. Bài hát chính là “Kỷ niệm cuối cùng” cho một cuộc tình đẹp như cổ tích với người con gái nhạc sĩ thầm yêu trong thời gian làm biên tập viên tại Đài Phát thanh Sài Gòn. Mà có gì là bền chặt đâu, bởi khởi đầu cho cuộc tình ấy vào đầu năm 1965, tác giả đã dự cảm: Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai… trong "Tình khúc thứ nhất", với phần lời là bài thơ của thi sĩ Nguyễn Đình Toàn. Đây cũng chính là ca khúc đánh dấu sự trở lại với âm nhạc của Vũ Thành An sau một thời gian gián đoạn.

- Nhạc sĩ Vũ Thành An sinh năm 1943 tại Hải Hậu, Nam Định. Năm 1954, ông theo gia đình di cư vào Sài Gòn. Năm 1959, Vũ Thành An (khi ấy còn đang học đệ tứ - nay là lớp 9) có theo học nhạc lý với nhạc sĩ Chung Quân (tác giả ca khúc Làng tôi) cùng Ngô Thụy Miên và Đức Huy. Ca khúc đầu tay của ông có tên Giòng nước oan khiên kể về nỗi đau của đồng bào bị lũ lụt (theo ghi chép của ông Nguyễn Ngọc Chấn – bạn học cùng Đệ thất với nhạc sĩ tại trường Chu Văn An – Sài Gòn) bị nhạc sĩ Chung Quân chê vì phần lời còn thô. Có lẽ, do chỉ là một bài hát phong trào nên, cái tên Vũ Thành An vẫn còn rất mờ nhạt trong tâm trí người nghe. Phải chăng lúc ấy, chàng nhạc sĩ tài hoa hãy còn quá trẻ và vô tư, chưa nếm trải trái đắng của tình yêu nên chưa có những bản tình ca thống thiết chăng? Nhớ về kỷ niệm này, nhạc sĩ nói vui: “Tôi chỉ muốn nói với các bạn trẻ rằng, bước vào con đường âm nhạc sẽ luôn gặp khó khăn, gập ghềnh. Và đừng vội vàng vì những lời khen, chê mà tỏ ra nản chí”.

*Nhạc sĩ Vũ Thành An thời sinh viên

- Sau thành công của "Tình khúc thứ nhất", Vũ Thành An viết liền một mạch các Bài không tên 1, 2, 3, 4. Tất cả đều mang một dư vị buồn bã, tiếc nuối, day dứt,… của một tình yêu không trọn vẹn và đều là những nỗi buồn “không tên” – phong cách rất đặc trưng của Vũ Thành An.

- Nói về lý do đánh số các bài hát, Vũ Thành An lý giải vì ông muốn thu hút sự chú ý của thính giả. Không biết lời giải thích ấy có được ghi nhận nhưng, với tôi, sự lý giải đôi khi đồng nghĩa với việc muốn cất đi những điều thầm kín, những điều ta không muốn hoặc sợ người khác chạm vào. Cũng như đã có biết bao tò mò, suy đoán, kiếm tìm xem người con gái trong Lời tình thứ nhất là ai mà để lại nỗi đau dai dẳng cho tác giả đến tận sau này. Sự kiếm tìm ấy sẽ mang lại điều gì hay chỉ khơi lại những nỗi niềm đau xót? Xin hãy để cho người trong cuộc được bình yên và giữ chút riêng còn lại cho mình.

- Sau cuộc tình buồn, Vũ Thành An tiếp tục nếm trải hương vị chia ly của mối tình thứ hai và lúc này các Bài không tên 5, 6, 7, 8, 9, 10 ra đời không theo một thứ tự thời gian nào. Hiếm hoi có Bài không tên số 5 viết về sự thăng hoa và niềm vui trong tình yêu, ông dành tặng người vợ đầu tiên.

- Năm 1969, Vũ Thành An quyết định chấm dứt cuộc đời độc thân, kết thúc những đoạn tình buồn bằng cách lập gia đình và cho phát hành tuyển tập những bài không tên. Các nhạc phẩm được thể hiện qua giọng ca ngọt ngào của nữ ca sĩ Thanh Lan trên sóng phát thanh và đặc biệt là phong trào du ca Sài Gòn tại hội quán Văn. Cuộc hội ngộ âm nhạc đó trở thành dấu son cho sự nghiệp cống hiến trên bầu trời Tân nhạc Việt Nam của ông.

- Bước sang thập niên 70, Vũ Thành An chỉ thi thoảng viết nhạc. Sau 1975, Vũ Thành An đi cải tạo đến 1985. Đây là một bước ngoặc đánh dấu sự thay đổi cuộc đời ông.

“Bài không tên cuối cùng tiếp nối”, một chiếc áo mới

- Năm 1981, Vũ Thành An bước vào cánh cửa Thiên Chúa giáo khi đang cải tạo ở Hà Tây. Cơ duyên của sự việc này bắt nguồn từ một đêm ông bị chứng mất ngủ đeo đẵng vì những dằn vặt của tình yêu, cuộc đời và danh vọng. Lúc ấy, ông nghe hai người bạn tù thì thầm đọc kinh “Kính mừng” để tìm được giấc ngủ yên lành. Như người sắp chết đuối trong những bế tắc bủa vây, Vũ Thành An vớ được chiếc phao cho tâm hồn mình, ông bắt đầu viết Thánh ca. Cũng cần phải nói rõ, Vũ Thành An vốn là người ngoại đạo. Năm 17 tuổi, ông có quen một cô gái rất ngoan đạo và để chiều lòng cô, ông đã học thuộc kinh “Kính mừng” từ dạo ấy.

- Sau khi ra tù, Vũ Thành An đi dạy kèm kiếm sống và tiếp tục viết những bản tình ca không tên từ số 12 đến số 50 cùng nhiều bài có tên khác. Qua nhiều thăng trầm, Vũ Thành An giờ đây đã biết chấp nhận, âm nhạc của ông vì thế cũng khoác một chiếc áo mới. Yêu vẫn yêu, nhớ vẫn nhớ, nhưng không còn rã rời, quay quắt điên dại nữa. Lý trí và nhận thức của người viết đã trở thành chủ đích chứ không để cảm xúc thỏa sức tuôn chảy như trước kia. Nhiều lời ca trong giai đoạn trước cũng được ông chỉnh sửa hoặc thêm lời, tiêu biểu nhất là Bài không tên cuối cùng tiếp nối. Này em hỡi, con đường em đi đó, con đường em theo đó/ Đúng đấy em ơi/ Nếu chúng mình, có thành đôi lứa/ Chắc gì ta đã thoát ra đời khổ đau.

* Nhạc sĩ trong lần về Việt Nam vào năm 2006.

- Năm 1987, ông kết hôn cùng bà Nguyễn Thị Vân – mẹ của hai cậu học trò ông đang dạy học. Cả gia đình ông sang Mỹ định cư vào năm 1991. Năm 1996, ông tuyên bố ngừng sáng tác tình khúc. Hiện ông đang giữ chức Phó Tế ở Portland, Oregon, Mỹ. Năm 2006, ông trở về Việt Nam trong một chuyến đi ngắn cho hoạt động của Quỹ từ thiện Teresa do ông sáng lập vào năm 2002.

- Trải qua nhiều biến động, nhạc sĩ Vũ Thành An giờ đây đã tìm được một cuộc sống, chọn một cách sống nhiều niềm vui hơn. Dẫu, chàng nhạc sĩ của xưa kia đã gói gọn tâm tư mình cất vào một không gian khác, dẫu chàng không còn viết những khúc bi ca cho tình yêu lứa đôi nữa thì những lời ca ấy vẫn lơ lửng, phảng phất không chỉ trong tâm khảm của những kẻ một thời rêu phong, tìm lãng quên ở các quán cà phê ven đường vào thập niên 60 mà còn trong trái tim đồng điệu của hàng triệu người yêu nhạc. Bởi, ai cũng có một thời tuổi trẻ, hăng say, nồng nhiệt, bồng bột yêu thương rồi trách móc, hờn dỗi. Bởi, có mấy ai trong cuộc đời này được trọn vẹn trong tình yêu của mình?

- Cùng với Tình khúc thứ nhất, Em đến thăm anh đêm ba mươi và các Bài không tên, tên tuổi Vũ Thành An gắn liền với giới trẻ thời bấy giờ. Người ta có thể nghe nhạc ông ở hầu hết các quán cà phê nhạc của Sài Gòn và những thành phố lớn khác ở miền Nam, tại các quân trường và trên các làn sóng phát thanh.

 

- Hoàng Dung -

- - oo ( .... ) oo - -

THUY NGUYEN