Tuesday, September 15, 2026

TUY HÒA, MỘT NƠI THẦM LẶNG (MANG VIÊN LONG)

 


TUY HÒA, MỘT NƠI THẦM LẶNG.
Tạp Bút
MANG VIÊN LONG.
Tôi không biết nói làm sao về Tuy hòa với những người bạn ghé thăm Tuy hòa, từ lúc gặp nhau, đến khi đưa nhau đi quanh quẩn trong một vài đường phố. Tuy hòa bé quá. Ngoài sáu con đường dài song song được mang tên từ số 01 đến 06 (và mới được đặt tên sau này), những con đường ngang ngắn quá, quá buồn bã. Con đường lớn nhất, tấp nập nhất, chạy từ quốc lộ số 01 đến bờ biển là đường Trần Hưng Đạo – nhà cửa cũng sơ sài, tạm bợ, có nơi chưa được xây cất. Gần 10 giờ đêm, nếu không là người đi coi xuất phim cuối ở rạp Hưng Đạo trở về thì ít có ai ở ngoài đường phố lúc này. Đường phố rộng, vắng, người đi như những chiếc bóng thấp thoáng vội vã. Tuy hòa bé quá. Tôi thường không biết nói gì với bạn khi cùng đi với họ quanh những con đường. Trước mắt họ, Tuy hòa đó, nghèo, có vẻ xơ xác, khép nép.
Tôi đã sống ở Tuy hòa trên 8 năm, hiện giờ vẫn còn tiếp tục sống, nhưng chưa cảm thấy nản. Tôi còn yêu mến Tuy hòa quá. Tuy hòa vẫn còn quyến rũ tôi thực đậm đà như những ngày mới đến. Dường như, càng ở lâu với Tuy hòa, người ta càng yêu quí, cảm thấy khó xa nó được? (ca dao có câu “Phú yên dễ ở, khó về / Trai đi có vợ, gái về có con”).Trong đầu tôi, Tuy hòa không là Tuy hòa của phố xá, cũng chẳng là những rộn rịp của những cuộc vui. Với tôi, Tuy hòa đồng nghĩa với kỷ niệm, với tình nghĩa, với những réo gọi thầm lặng ấm cúng. Ở Tuy hòa đã có Y Uyên và Bùi Đăng, một thời sống lặng lẽ. Những gặp gỡ, cái nồng nàn hay an ủi, bây giờ chỉ là những buổi chiều ngồi hong nắng ở sân nhà, nói chuyện lẩn thẩn chờ tối. Những đêm áo quần lềnh xềnh đi long rong trong những con đường khuất vắng, những tách café Hoài Bắc, hay những tụ họp bất thường ở hiên nhà một người bạn đồng nghiệp, hút thuốc, nói chuyện như chuyện đời xưa. Những câu chuyện phần nhiều là nhớ lại, kể lại, nghĩ lại, bởi thế cũng rất thầm lặng, và đứt quãng mơ hồ. Mỗi người một nhớ lại, một ước mơ, nói với nhau như để chỉ ấm lòng trong giây phút. Tuy hòa có Trần Huiền Ân. Nhà ở sau một bức thành cao, trong hẻm, khuất vắng. Sân nhà nhỏ xíu của anh là những hội ngộ tha thiết. Khi thì uống trà, nhìn trăng. Khi thì rượu thịt, say khướt. Khi thì ôm nhau nằm kềnh, ngủ mùi. Với Doãn Dân, với Thế Vũ. Với Nguyễn Việt Nam, Nguyễn Lệ Tuân, Nguyễn Lệ Uyên, Phạm Cao Hoàng, Đỗ Chu Thăng. Lê Văn Thiện, Với ai nữa? Tôi không sao kể hết.
Những cuộc rượu, những bữa ăn, những café, bánh ngọt quây quần. Nhưng thu nhỏ. Đột ngột. Như những ra đi và trở về của anh. Tuy hòa còn ấm giọng ngâm thơ của Phạm Cao Hoàng những lần hội ngộ. Còn có cái nồng say đặc biệt của “Cỏ May Thần tửu” của Nguyễn Lệ Uyên. Có căn gác ván dễ thương xinh xắn của Khánh Linh cho khách lang bạt. Có giữa một con xóm lòng vòng những hàng rào kẽm gai và dâm bụt, người đi đến lần thứ ba (như tôi) vẫn còn ngại bị lạc, nhà của Đỗ Chu Thăng. Của Tuy hòa, còn có những bước chân lưu lạc của Trần Hoài Thư, những đồi núi của Lê Văn Thiện. Tại Tuy hòa, có in vết chân của Lữ Quỳnh, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Kim Phượng, Võ Tấn Khanh, Phạm Văn Nhàn, Ngô Cang, Nguyễn Sa Mạc, Nguyên Minh, Miên Đức Thắng, Trần Hữu Lục, Nguyễn Âu Hồng, Trần Vạn Giả (…). Có ghé thăm của Toan Ánh, Tạ Chí Đại Trường, Võ Phiến, Mai Thảo, Duyên Anh. Có ra đi tiếc nhớ mong mỏi trở lại của Phạm Ngọc Lư, và Phan Việt Thủy, Lê Công Minh. Có sự chọn lưa gửi lại quãng cuối đời của cụ Hoài Mai, Thanh Tùng Tử, Huỳnh Khinh, Phan Long Yên…
Tuy hòa, cạnh những kỷ niệm, còn có những con đường làm tôi đi không hề biết mỏi chân: con đường số 06 (Nguyễn Huệ), nhỏ, vắng, dương liễu hai hàng rợp mát. Nhà cửa nấp sau những khu vườn dày hoa lá, hoặc nhô ra trần trụi mộc mạc, một phần phía bên kia đường vẫn là ruộng. Là cỏ. Là làng xóm xa xa. Gió từ cuối đường (hướng biển) thổi ngược lên. Mát. Trong. Đi một mình cũng tuyệt mà đi với một người nữ cũng tuyệt. Tuy hoà có đường số 01 (Nguyễn Công Trứ) nghèo, xơ xác, quạnh vắng, có chỗ lởm chởm đá. Nhà cửa lòa xòa, tạm bợ, thụt vào, nhô ra, cây lá bao bọc. Tre. Nhất là những hàng rào tre, những khóm tre ở mỗi đầu con hẻm, như những xóm nhà ở thôn quê. Ở đường đó còn có những quán bánh xèo nóng ngon. Bày trước hiên hoặc che lợp bằng vài tấm tranh. Có quán thịt đông, chả cá, cạnh bến ghe. Có những cặp tình nhân rụt rè, bỡ ngỡ, thấp thoáng trên đường hoặc ẩn nấp sau những bờ dậu. Ở Tuy hoà còn có con đường rợp bóng áo trắng, áo xanh nữ sinh mỗi sáng mỗi chiều đường Hoàng Diệu. Trên đường, những cánh hoa hoàng điệp nằm rải rác, yên lặng và dễ thương. Tuy hoà còn có biển trần trụi, vắng vẻ, hoang tàn. Tôi đã được cùng chị Minh Quân ngồi ở bãi cát vắng hoe ấy một buổi chiều khi chị ghé thăm Tuy hòa như một miền đất nghĩa tình. Tuy hòa còn có những con hẻm tối lù mù bán rượu đế, bán chè đậu đen, bán sò ốc…
Tuy hòa còn có những cái tương tự như thế. Nghĩa là những cái nhỏ, vắng, nghèo, thầm lặng. Những cái đó, dường như ở nơi nào Tuy hoà cũng có. Tôi chưa cảm thấy buồn chán Tuy hòa, bởi vì những cái nhỏ nhặt đó nữa. Hình như, tại Tuy hòa, tôi bị quyến rũ bởi sự nhỏ bé, lạc lõng, có chút xơ xác của phố xá, nhà cửa. Bước ra khỏi cửa, tôi cảm thấy như bước đi trong vườn nhà mình. Đi trên phố mà tưởng như đi trên lối vào một nơi thân tình, ấm áp nhất. Sống ở đây chung quanh đều quen. Làm việc ở đây chung quanh đều thân tình. Như một thôn xóm nhỏ. Tôi có được những thân tình gắn bó. Chuyện gì xảy ra cho mỗi người bạn buổi trưa, buổi xế chiều chúng tôi đều biết. Những lo lắng của nhau ngày hôm trước, tối hôm sau đã được tâm sự. Niềm vui của người này, là sự phấn khởi của người kia. Tuy hòa rất gần gũi và chân tình.
Làm sao tôi nói hết những điều như thế với những người bạn khi ghé thăm Tuy hòa trong một vài ngày? Tôi có thể chỉ một ô gạch vuông trên đường phố, hoặc một đoạn đường lởm chởm đá, để cắt nghĩa cái quyến rũ, ấm cúng, thân mật với họ? Tôi sẽ kể gì về cái “Thâm U Vân Trúc Cốc” của tôi khi họ chưa sống hết với tôi những ngày tháng cơm rau như Vũ, những đêm ngồi ké trước hiên nhà một người hàng xóm để uống trà ngắm trăng như Thư, hoặc những hoang vắng bất thường mà Thiện hồi còn ở núi Sầm mỗi lần được về phố ghé lại nằm tòon teng trên võng trước cửa cốc chỉ cột một sơi dây vải? Tuy hòa có những cái không thể nói hết, có những tình cảm không thể diễn tả. Chỉ có sống. Gần gũi. Rồi mới dần dà yêu mến Tuy hòa.
Cho tới nay Tuy hòa đã vắng nhiều. Thuở trước có Y Uyên, Phan Việt Thủy, Bùi Đăng, Phạm Ngọc Lư, bây giờ họ đã rời xa, không biết có còn dịp trở lại (riêng Y Uyên thì không trở lại nữa dầu anh đã hẹn)? Tuy hòa là quê hương của Võ Hồng, Hoàng Đình Huy Quan, Phạm Cao Hoàng, Nguyễn Lệ Uyên, nhưng hiện nay họ cũng đang ở phương xa. Tuy hòa còn lại Trần Huiền Ân, Khánh Linh, Đỗ Chu Thăng, Hoài Mai, Triều Hạnh, Nguyễn Tường Văn, Thụy Khanh. Và tôi. Có ai mới đến? Xin ghé lại.
Thư của anh chủ trương Thời Tập dặn: “Viết cho một bài sinh hoạt (không khí) Tuy hòa. Lối 03 trang đánh máy tối đa …” Tôi đã cố gắng ghi lại cái “không khí” ở đây, nhưng vẫn chưa tới 03 trang giấy đánh máy. Bởi vì như đã nói, sự sinh hoạt ở Tuy hòa nó rời rạc, nhỏ bé, thân mật, ấm cúng quá, không thể viết ra hết được. Chẳng hạn như đêm hôm kia (09-12-73), tại căn phòng quán Cây Phượng, chúng tôi đã dự buổi gặp mặt giới thiệu tập thơ đầu tay của Đỗ Chu Thăng – tập “Chân Cầu Cũ”. Đó là một cuộc gặp gỡ gia đình, cùng vui, cùng sướng với nhau, sau những lúc đã mệt nhọc. Chỉ có vậy.
(Tạp chí THỜI TẬP - 14 tháng 02 năm 1974).
MANG VIÊN LONG

No comments: