Wednesday, April 30, 2025

CHUYỆN ÍT NGƯỜI BIẾT - KÝ ỨC THÁNG TƯ (KHIẾT NGUYỄN)

 



Chuyện Ít Người Biết

 

Vào tối 30 tháng Tư 1975, trong lúc hàng trăm chiếc tàu của Hải quân Việt Nam Cộng Hoà và mấy chục thương thuyền đã rời khỏi Việt Nam, ra đến hải phận quốc tế thì có một tàu của Hải quân Hoa Kỳ bí mật trở lại Việt Nam.
Đó là Hộ Tống Hạm USS Kiqrk.
---
KÝ ỨC THÁNG TƯ
Gần trưa ngày 30 tháng Tư 1975, khi những người Mỹ cuối cùng đã rời khỏi Việt Nam và ra đến Đệ Thất Hạm Đội, người chỉ huy tổng quát chiến dịch Frequent Wind - Đô Đốc Donald Whitmire nhận được mấy báo cáo từ mấy thương thuyền của Mỹ đang còn trong hải phận Việt Nam.
Họ cho ông biết rằng tại Đảo Côn Sơn hiện vẫn còn khoảng 30 ngàn người Việt Nam cùng với khoảng 30 chiếc tàu của Hải quân Việt Nam Cộng Hoà và hơn một chục chiếc thương thuyền đang kẹt lại.
Đô Đốc Whitmire lúc đó đang có mặt trên soái hạm USS Blue Ridge của Đệ Thất Hạm Đội. Ngay lập tức ông gọi cho Hạm trưởng Paul Jacobs của chiếc USS Kirk và ra lệnh cho ông này đem chiếc hộ tống hạm của mình với 260 thuỷ thủ các cấp trở lại Việt Nam nhưng đến Côn Đảo chứ không phải Phú Quốc.
1745006086453blob.png
USS Kirk

Chiếc USS Kirk tiến vào hải phận Việt Nam vào tối 30 tháng Tư. Sau khi nhận thêm lệnh mới với đầy đủ chi tiết hơn từ Đô Đốc Whitmire, Jacob cho chiếc USS Kirk âm thầm tiến vào Côn Đảo và rạng sáng 1 tháng Năm thì nó đã thả neo sát đảo này.
Theo quân sử gia Jan Herman của Bộ Hải quân Hoa Kỳ, lúc đó có ít nhất trên 30 ngàn thường dân mà trong đó hơn 20 ngàn đã có mặt trên các tàu của Hải quân Việt Nam Cộng Hoà và thương thuyền dân sự. Còn lại hơn 10 ngàn người vẫn còn trên bờ là vì có một số tàu của hải quân cũng như thương thuyền bị trục trặc cơ khí, động cơ không hoạt động nên đồng bào không dám leo lên những chiếc đó. Những chiếc còn hoạt động tốt thì lại không dám bỏ những chiếc hỏng lại mà ra khơi.
Vì thế nên công việc đầu tiên của Hạm trưởng Jacobs là gửi các chuyên viên cơ khí sang những chiếc tàu bị trục trặc cơ khí để sửa chữa cấp tốc.
Sau đó, ông cho những chiếc thuyền nhỏ chạy vào bờ chở bớt một số trong hơn 10 ngàn thường dân ra chiếc USS Kirk của ông.
Trong số tàu bị hỏng, có mấy chiếc không thể sửa chữa tại chỗ vì thiếu cơ phận thay thế.
Vì vậy nên một hộ tống hạm khác của Hải quân Hoa Kỳ là USS Cook đang đậu xa xa ngoài khơi chạy vào để chở cho hết những đồng bào còn lại.
Sau đó, tất cả ra khơi dưới sự hướng dẫn của chiếc USS Kirk.
Khi đã ra đến hải phận quốc tế, có thêm mấy chiếc tàu khác của Hải quân Hoa Kỳ đến tiếp tay.
Đó là những chiếc USS Mobile, USS Tuscaloosa, USS Barbour County, USS Deliver và USS Abnaki.
Thủy thủ đoàn trên những chiếc này đã phục vụ ẩm thực cho đồng bào, chăm sóc sức khoẻ cho họ, và lại còn đảm nhiệm luôn công việc hộ sản nữa.
Nhiệm vụ của họ chỉ chấm dứt khi đoàn tàu đến Vịnh Subic, Phi Luật Tân.
Chính phủ và Quốc hội Hoa Kỳ đã không tốt đối với Việt Nam Cộng Hoà chúng ta trong những năm sau cùng, nhưng quân đội Hoa Kỳ thì quả thật đã làm những gì mà quân đội của các quốc gia khác có lẽ không bao giờ dám làm đối với những người không phải là đồng bào của họ.
Riêng về chiếc USS Kirk thì nó được ghi nhận là đã thi hành một sứ mạng nhân đạo chưa từng có trong quân sử Hoa Kỳ kể từ ngày lập quốc.

 

Khiet Nguyen��

 



ảnh: 1 tháng Năm, 1975
Chiếc USS Kirk đang hướng dẫn gần 50 tàu Hải quân Việt Nam Cộng Hoà và thương thuyền dân sự trực chỉ Phi Luật Tân

Tuesday, April 29, 2025

NGUYỄN VĂN PHƯỢNG* (THƠ- THANH THANH)

 


NGUYỄN VĂN PHƯỢNG*

 

Phượng ơi!  Chính thực anh là ai?

Sứ-giả thiên-đình Thượng-Đế sai?

Hay một thiên-thần tình-nguyện xuống?

Anh-Hùng Dân-Tộc tái đầu-thai?

 

     *Đại-Uý QLVNCH, từ trại An-Điềm

       đến Trại "Đồng-Mộ" ngày 24-04-79,

       chết tại "Nhà Trắng" ngày 10-10-80.

 

Anh là ánh đuốc giữa đêm tăm!

Nghệ-sĩ tài-ba rút ruột tằm!

Đại-diện muôn lòng đang uất nghẹn

Thét lên tiếng thét của hờn căm!

 

Như nhà thám-hiểm giữa rừng sâu,

Đánh rắn đầu tiên đánh đỉnh đầu!

Anh đã đâm lao vào tử-huyệt

Già Hồ -- như hạ một con trâu!

 

Nhớ hôm "sinh hoạt" kiểm phê anh:

Anh đã công-khai chửi đích-danh!

Anh nhắc cho ghi từng điểm một

Vào trong biên-bản để chuyền quanh!

 

Có người cũng đã có chê-bai

Chính-sách lầm hư! chủ-thuyết sai!

Chống đảng, kình quyền, khinh cán-bộ!

-- Đụng vào "lãnh tụ" thì chưa ai!

 

Bạn-bè nén hận trong cô-miên,

Nhưng chỉ mình anh dám nói lên!

Bản án tuyên cho đầu-đảng địch

Cũng là bản án tự anh tuyên!

 

Thế rồi anh bị chúng đưa đi!

Anh bị ra sao?  bị những gì?

Anh đủ can-trường mà chịu đựng

Như bao lần trước đã kiên-trì?


Thế rồi... anh chết, chết âm-u

Trong gọng gông cùm trong biệt-khu

Trong trại kiên-giam trong cấm-địa,

Nói lên thân-phận -- một tên tù!

 

Bao nhiêu viễn-vọng, những mê-đam,

Và những vần thơ anh đã làm...

Phảng-phất đâu đây trong gió núi,

Chân trời màu tím, sương trời lam...

 

Anh vừa đốt đuốc giữa đêm tăm,

Vừa viết hùng-ca, rút ruột tằm;

Anh chọn "huy-hoàng rồi chợt tối

Hơn buồn le-lói suốt trăm năm"!

 

Phượng ơi!  Anh đã chẳng tham-sinh!

Đã tự nêu cao chí-khí mình!

Hơn kẻ quyền cao và chức trọng

Mà hèn, thì chỉ đáng chê khinh!

 

Phượng ơi!  Anh đã sống anh-hùng! 

Anh chết là niềm hãnh-diện chung!

Tất cả nhờ anh mà phấn-khởi,

Ngửng đầu đỡ ngượng với không-trung!

 

        "Nhà Trắng" Tiên-Lãnh 2, 10-10-1980

                          THANH-THANH

ĐÁNH CHO CHẾT MẸ ĐỒNG BÀO MIỀN NAM (THƠ- BÙI GIÁNG)

 


ĐÁNH CHO CHẾT MẸ ĐỒNG BÀO MIỀN NAM


-- Thơ Bùi Giáng --

 

Đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào,

Đánh cho chết mẹ đồng bào Miền Nam.

Đánh cho khoai sắn thành vàng,

Đánh cho dép lốp phải mang thế giày.

 

Đánh cho Nam Bắc đọa đày,

Đánh cho thù hận giờ này chưa tan.

Đánh cho cả nước Việt Nam,

Áo ôm khố rách, xếp hàng xin cho.

 

Đánh cho hết muốn tự do,

Hết mơ dân chủ, hết lo quyền người.

Đánh cho dở khóc dở cười,

Hai miền thống nhất kiếp người ngựa trâu.

 

Đánh cho hai nước Việt Tàu,

Không còn biên giới cùng nhau đại đồng.

Đánh cho dòng giống Tiên Rồng,

Osin, nô lệ, lao công xứ người.

 

Đánh cho chín chục triệu người,

Thành dân vô sản, thành người lưu vong.

Đánh cho non nước Lạc Hồng,

Tiến lên thời đại mang gông mang cùm.

 

Đánh cho cả nước chết chùm,

Đánh cho con cháu kh̉́ốn cùng mai sau.

Đánh cho bác, đảng, Nga, Tàu,

Hết quần hết áo thì tao ở truồng!


Thơ Bùi Giáng.

ĐƯA ANH VỀ CĂN NHÀ XƯA (THƠ & NHẠC- NGUYỄN NGỌC PHÚC)

 


https://youtu.be/F0oDW39RihM

Đưa Anh Về Căn Nhà Xưa

Thơ và nhạc: Nguyễn Ngọc Phúc

 Đêm nửa giấc
Uống cạn ly với trời
Bóng nguyệt buồn
Lặng lẽ với hư vô

Mảnh trăng đìu hiu
Ôi! một mình lạnh lẽo
  Ánh sao úa tàn
Ngàn đời nằm im với anh

Mộ bia quạnh hiu
Xin đốt ngọn hương tàn
Để cho vầng trăng
Vẫn soi trên từng nấm mộ

Ở nơi thiên thu
Khi rừng xưa đã khép
Dù cho trăm năm
Không một lời nuối tiếc

Có những đêm cô quạnh
Lắng nghe
Côn trùng khóc than
Cỏ cây cũng xót xa
Giọt nước mắt vẫn rơi

Vẫn rơi
Đưa anh về
Cõi người.

Vẫn rơi
Đưa anh về
Căn nhà xưa
Cuối trời

MỘT BÀI THƠ KHÔNG TỰA (THƠ- PHẠM ĐỨC NHÌ)

 


Một bài thơ không tựa, đọc thật thấm thía

 

Tự do như muối

Hạnh phúc như đường

Khi còn đang ăn đủ miếng ngọt miếng ngon

Khó thấy giá trị của hạt đường hạt muối

 

tôi sống ở miền nam

nhìn dòng đời trôi nổi

nở lại tàn

bao nhiêu mùa hoa

hai nền Cộng Hòa

một cuộc chiến tranh dài đẫm máu

tôi đã dốc lòng chiến đấu

bảo vệ tự do

dưới lá cờ

nền vàng ba sọc đỏ

 

tiếc thay trong đội ngũ

chúng tôi có ít những Ngô Quang Trưởng , Nguyễn Khoa Nam

mà lại khá nhiều Nguyễn Vĩnh Nghi, Nguyễn Văn Toàn

nên lính mất niềm tin

dân chán nản

những kẻ có lòng

lắc đầu ngao ngán

rồi nước Mỹ đồng minh, xưa là bạn

nay trở mặt lọc lừa

quên lời hứa năm xưa

bỏ mặc “ tiền đồn của thế giới tự do “

thất thủ

 

kẻ thù đưa tôi lưu đày biệt xứ

rồi khua chiêng gióng trống ăn mừng

đám trí thức, sinh viên, học sinh

 xưa trốn vô bưng

mơ một thiên đường trên trái đất

nay ngồi trên khán đài nghếch mặt

“ Thiên đường đang ở trong tầm tay “

Má Hai

xưa đào hầm nuôi cán bộ

nay hớn hở

“ Tụi nó dzià mình chắc có tương lai “

bà Tám con chết trận Đồng Xoài

hãnh diện lãnh bằng gia đình liệt sĩ

những nhà văn, nhà thơ, xưa chống “ cuộc chiến tranh phi lý “

(đâm sau lưng người lính Cộng Hòa )

nay chìa bút ra

xin viết bài ngợi ca chế độ mới

đám thanh niên xưa trốn chui trốn nhủi

ở hậu phương

xanh mặt khi nghe nhắc tới chiến trường

nay tự nhận đã yêu thầm cách mạng

những người dân bình thường

xưa gặp lính khi ghét khi thương

lúc buồn ngồi chửi đổng

“ Tao chửi cả thằng Tổng Thống

xá gì lính tráng tụi bay “

nay cũng ngập ngừng vỗ tay

nhưng mắt nhìn quanh lấm lét

họ chưa có câu trả lời dứt khoát

muốn đợi một thời gian

 

sau vài năm

cuộc hôn nhân qua tuần trăng mật

đã đầy nước mắt

và những tiếng nấc nghẹn ngào

đám trí thức vô bưng năm nào

tức giận thấy mình bị bội phản

buông lời phản kháng

kẻ vô khám Chí Hòa

người bị quản thúc tại gia

đưổi gà cho vợ

thiên đường ước mơ sụp đổ

 

má Hai

đã quen dần với bo bo, với sắn với khoai

như người dân miền Bắc

những cán bộ xưa má nuôi trong hầm bí mật

đã ra lệnh bắt má mấy lần

má không đủ ăn

lấy đâu đóng thuế

 

bà Tám ôm tấm bằng Gia Đình Liệt Sĩ

bụng đói meo

làng trên xóm dưới ai cũng nghèo

tình người hiếm hơn hồi đó

bà ra mộ con ngồi nhổ cỏ

khóc thầm

 

những văn nhân

 một thời phản chiến

“ ngộ biến tòng quyền “

cố bẻ cong ngòi bút

nhưng với văn thơ, với nhạc

quen phóng túng tự do

sao chịu nổi gông xiềng

lại tiếc những ngày trời rộng thênh thang

muá bút

 

đám thanh niên hèn, khoác lác

tưởng được chế độ mới tin dùng

bị đi lao động quốc phòng

thanh niên xung phong

làm việc không công nơi rừng sâu nước độc

cháy da vàng mắt

đói lòng

 

những người dân

xưa chửi vung chửi vít

nay im thin thít

chẳng dám hé môi

một số kẻ lỡ lời

bị đi “ tù không án “

khi cán bộ xưng tụng bác Hồ, ca ngợi Đảng

họ cao giọng hoan hô

vỗ tay thật to

nhưng bụng thầm ao ước được sống lại những ngày xưa cũ

 

sau ba mươi tháng tư, đớn đau tủi hổ

là gia đình người lính Cộng Hòa

kể bị cướp nhà

người bị cướp đất

con bị đuổi học

vợ mất sở làm

chồng đi tù biệt tăm

đi họp, cán bộ Cộng Sản mỉa mai nhiếc móc

ra đường bị lườm dọc nguýt ngang

 

đến khi ruộng vô tập đoàn

gạo vải sữa đường bán theo tiêu chuẩn

nhà máy công ty hãng xưởng

trờ thành quốc doanh

công an khu vực đầy quyền hành

thực thi chính sách nhân hộ khẩu

người dân chịu đời không thấu

mà chẳng dám than vãn kêu ca

bấy giờ gia đình người lính Cộng Hòa

mới nhận được những tia nhìn thiện cảm

nghĩ đến con, đến chồng, đến cha

trong nhà tù Cộng Sản

họ hãnh diện ngẩng đầu

 

hôm nay giữa trời cao

được thấy lá cờ vàng ba sọc đỏ

phất phới bay trong gió

tôi muốn khóc thật to

tôi muốn hét lên

“Đây hạnh phúc ! Đây tự do ! “

Mà thuở nào tôi đã buông tay đánh mất

để phải chôn tháng năm tươi đẹp nhất

của cuộc đời

trong các trại tù rải rác khắp nơi

trên đất nước

họ hàng tôi, đồng bào tôi

những ai không đi được

mấy chục năm trường

gánh chịu đau thương

uất hận tủi hờn

nhìn quê hương tan nát

mẹ Việt Nam ơi ! Những đứa con lưu lạc

đã nhận rõ lỗi lầm

đang đấu tranh âm thầm

cho một ngày quang phục

 

sẽ còn nhiều khó nhọc

để dành lại giang san

từ tay bọn Cộng Sản tham tàn

nhưng kìa ! Phất phới bay trong gió

vẫn như ngày nào

lá cờ vàng ba sọc đỏ

mà sao hôm nay chính nghĩa sáng ngời

chẳng cần một lời luận bàn lý giải

 

tôi đứng lặng nhìn, lòng khoan khoái

lá cờ vẫn còn đây

thì quê hương ơi !  Sẽ có một ngày.

 

Viết tại San Leon sau một lần dự lễ dựng kỳ đài tại Houston .

Phạm Đức Nhì