Thursday, September 3, 2026

NHỚ LẠI NGÀY NÀO (HÀN THIÊN LƯƠNG)

 


Nhớ Lại Ngày Nào

    *** Hàn Thiên Lương

 

           Cuối nắm 1979 từ trại Lào kay tôi bị chuyển về trại tù Tân Lập thuộc tỉnh Vĩnh Phú.    Ở đây người ta xếp tôi vào đội Lâm sản, là một đội tù chuyên đi rừng lấy củi về đốt , lấy gổ về cất nhà ,đóng bàn ghế  tủ   vân vân…

           Thực sự khí hậu ở Vĩnh Phú thuộc miền trung du dễ chiu hơn ở Lào Kay,vả lại được ra ngoài lao động, tuy có cực nhọc nhưng đỡ khổ hơn cảnh bị kiên giam Lào Kay.

       Những tháng ngày dài ở đây, làm lụng trong chốn rừng sâu, nhìn cảnh trí núi đồi nương rẫy , nghe tiếng chim hót , gió hú , lời nỉ non róc rách  của sông suối vây quanh: tôi đã thưởng ngoạn dược vẻ đẹp của thiên nhiên, dù đang lao lung trong cảnh đời tù tội. Ở đây tôi cũng gặp được những người dân hiền lành chất phát, nhưng gian khổ suốt đời!

       Ngày ngày ba mươi anh em chúng tôi trong đội lâm sản xuất trại từ  7giờ sáng và phải di xa trại ngót 10 cây số.Chúng tôi chia ra từng nhóm 3,4 người vào tận rừng sâu đề hạ cây đản gỗ , vác củi đưa xuống đường mòn thấp , tiện cho xe trâu chở về trại.Chúng tôi phải đi qua những bản làng có những địa danh như: Khe Nai,Suối Cạn, Đập Phay Thừa, Lâm trường Mở, A mai, càng ngày chúng tôi càng quen thuộc, biết rõ từng bờ khoảnh , góc suối…cả những ngôi nhà trên bờ dóc cheo leo!

       Đối lại, qua thời gian, dân địa phương không còn xa lạ với chúng tôi, không e ngại như  nhừng ngày đầu đoàn tù mới tới trại Tân Lập! Chỉ qua vài câu chuyện trong khoành khắc, chúng tôi biết người dân ở đây đã hiểu và dành cho chúng tôi nhiều cảm tình. Một lần tôi đang đốn củi  gặp một ông già lên đồi đốn nứa, qua câu chuyện cụ cho biết: trước khi đưa tù về đây, dân chúng quanh trại được cán bộ sinh hoạt, khẳng định rằng những người tù sắp đến đây là bọn”ác ôn” cần cô lập lâu dài. Ai bắt được một tù trốn trại sẽ được nhà nước miễn thuế cho một năm!

       Tiếp theo tôi hỏi: bây giờ cụ thấy chúng cháu như thế nào?

       _ Mấy anh làm gỗ quanh đây tôi quen mặt. biết cả tên nữa . anh nào cũng đứng đắn,  lễ phép. Ba bốn năm rồi tôi chưa nghe ai than phiền các anh. Trái lại lúc trước trại nay nhốt tù hình sự, chúng phá dữ lắm… đủ thứ chuyện!

       Nhiều lần tôi và anh Dong đánh xe trâu đi gom củi, gặp các chị đi chợ Amai về, đường sình lầy gánh gồng quá nặng nề, lúc xe trống chúng tôi cho họ quá giang, thật ra việc nầy là phạm nội quy của.trại chúng tôi làm liều du di đó thôi!

       Ngồi trên xe các chị nói chuyện huyên thiên, họ thích nghe chuyện miền Nam. Họ nói về cuộc sống gian lao mà họ cam chịu.Tôi không hề nghe họ ca tụng chế dộ, hóa ra chỉ có” các thầy cán bộ “ là “vẹt” thôi! Những con người đối diện với chúng tôi lúc đó, đang nghĩ cái gì khác, không phải là các thần tượng ,không phải là sự dối trá. Họ là những con người đau khổ nhưng không tuyệt vọng, niềm hi vọng hiển hiện trên nét môi cười.Thật ra con người sống phải còn niềm hi vọng. có khi phải tản lờ cái hiện tại nghiệt ngã,cứ như ngồi trên thuyền , để thuyền trôi về phía trước!

       Sống trong cảnh tù tội, chúng tôi đã tản lờ và chấp nhận, chọn cho mình sự bình thản, nhìn dòng đời trôi như dòng nước!

       Thường ngày đốn củi xong, tôi ngồi trên bờ suối, nhìn lên đồi hoa sim nở tím,đàn bướm đủ màu bay lượn nhởn nhơ, nghe chim hót líu lo hòa cùng tiếng suối róc rách. Tất cả màu sắc âm thanh đó tôi say sưa thưởng ngoạn, say đắm tột cùng nét đẹp của thiên nhiên. Có lần nhìn một cây cồ thụ đổ ngã mục nát nhưng ở gần gốc có những chồi non, cây nhỏ rất khỏe vương lên, tôi nghĩ những chồi những cây nhỏ này qua thời gian có thể thành cây cổ thụ.Cảnh nhỏ nhoi trong chốn rừng sâu đó cho thấy một quy trình sinh tử, một cuộc phế hưng , một lẻ vô thường. khẳng định trong lòng tôi rằng cái chế độ bất nhân được rêu rao là ưu việt cũng sẽ tàn rụi đó thôi! Cuộc đờ tù tội rồi có ngày cũng vương lên!

       Trong cơ may hạn hữu  tại vùng dất lưu đày nầy, tôi được nghe tâm sự một vài người, cụ thể là Bác Châm. Năm 1954  ông là nhân viên quan thuế ở Hải Phòng , không kịp di cư vào Nam .Đến năm 1955 ông bị đày đi vùng kinh tế mơi định cư tại vùng đất khổ Khe Nai ( Vĩnh Phú) Gia đình lên đây 4 người , ông bà hai con một trai một gái.   Lên đây chẳng bao lâu vợ và đứa con trai chết vì bịnh sốt rét, ông sống với người con gái không có mùa xuân, tuổi chừng  25 trông già đến 40 , gương mặt héo hắt không có một nụ cười !

       Tôi qua lại bản làng ở đây nhiều năm dài mà không thấy mùa  Tết nào, chỉ thấy những cụm đào trên đồi màu hồng nhạt buồn hiu hắt Có những buổi chiều rất muộn gặp vài sơn nữ, qua câu chuyện các nàng cho biết chồng đã đi Nam biền biệt, nay phải chờ trông rất buồn, còn chi mà biết Tết!

       Riêng chúng tôi ở trong trại tù , mỗi lần Tết đến , nhớ về phương Nam lòng ngậm ngùi biết mấy! Bây giờ trong cảnh đời tha hương Tết về đầy nỗi nhớ thương:

                      Có ai trở lại mùa  xuân trước

                      Nhớ nhặt dùm tôi những nụ cười

                      Của mẹ hiền của đàn em thơ dại

                      Của người yêu trong giấc mọng xuân tươi!

 

Hàn Thiên Lương

      

Wednesday, September 2, 2026

NGÔI CHÙA KHÔNG MÁI (PHÓNG TÁC CỦA BS. VL NGUYEN)

 


TRUYỆN CỰC NGẮN
💝 BS THI ANH
Ngôi chùa không mái
(Phóng tác theo chuyện kể của bs VL Nguyen)


Ngày xưa, ở một ngôi làng nhỏ nằm sát biên giới, đất đai cằn khô, gió lạnh thổi suốt bốn mùa. Dân làng sống lam lũ, quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, chưa từng được nghe một tiếng chuông chùa ngân. Trong làng có một nhà sư còn rất trẻ, đôi mắt rất trong và lòng thì nhiều trăn trở. Một sớm mai, nhà sư quỳ trước sân đình thưa với các cụ già:

"Quê mình nghèo, mọi người đã khổ vì đói lại còn khổ vì không có chỗ nương tựa cho tâm hồn. Con xin đi khắp thiên hạ, vừa học đạo, vừa gieo duyên, để sau này dựng một mái chùa cho làng."

Nói rồi thầy ra đi, chỉ mang theo bình bát, manh áo nâu sờn và đôi chân trần.

Suốt hai mươi năm ròng rã, nhà sư trẻ đi bộ qua biết bao đèo cao, suối sâu, qua những phiên chợ ồn ào và những xóm núi heo hút. Gặp ai, thầy cũng chắp tay giảng về lòng từ bi của Đức Phật Thích Ca, về luật nhân quả, về việc sống thiện lành giữa cõi vô thường. Người ta kính trọng thầy, kẻ góp nắm gạo, người góp đồng xu lẻ. Thầy không giữ gì cho riêng mình, chỉ nắn nót ghi vào một cuốn sổ đã sờn gáy. Hai mươi năm sau, số tiền ấy cuối cùng cũng đã đủ để dựng một ngôi chùa gỗ cho quê nhà.

Thầy hân hoan mang tiền trở về làng cũ.

Nhưng buồn thay, ngôi làng không còn như xưa. Một trận hạn hán lớn kéo dài, ruộng đồng nứt nẻ, lúa chết khô ngoài đồng. Người già trẻ con nằm lả đi vì đói. Đêm ấy, thầy ngồi lặng trước đống tiền mình đã dành dụm cả một đời trai trẻ, thế rồi sáng hôm sau, thầy đem tất cả ra đổi lấy gạo, lấy thuốc, chia cho từng nhà. Dân làng khóc, quỳ lạy tạ ơn. Thầy chỉ mỉm cười: "Nếu Phật có ở đây, Người cũng sẽ làm như vậy thôi."

Khi nạn đói qua đi, thầy lại ra đi.

Lần này thầy đi mười lăm năm. Vẫn là đôi chân trần ấy, vẫn là lời giảng về từ bi ấy, chỉ khác là bây giờ lưng thầy đã hơi còng. Thầy kể cho mọi người nghe rằng ngôi chùa ở quê thầy đã hóa thành những bát cơm cứu đói năm nào. Ai nghe cũng cảm động, lại phát tâm nhiều hơn. Rồi một ngày, tiền lại đủ.

Thầy lại về. Nhưng vừa đến đầu làng, thầy sững sờ. Một trận động đất vừa quét qua. Nhà cửa đổ nát, bao gia đình phải sống màn trời chiếu đất. Không một chút đắn đo, thầy lại đem hết số tiền dự định xây chùa ra để mua gỗ, mua tranh, cùng dân làng dựng lại từng mái nhà. Thầy ở lại vài năm cho đến khi làng yên ổn, cho vết thương của người và của đất lành lại, rồi thầy lại chống gậy ra đi.

Thầy nghĩ, lần này nhất định phải xây cho được ngôi chùa. Thầy đã già lắm rồi. Lạ thay, khi nghe kể câu chuyện "chùa hóa thành nhà", người đời càng kính phục, tiền cúng dường về nhanh hơn bao giờ hết. Chỉ năm năm, đã đủ.

Thầy run run trở về làng cũ, thì một trận lũ lớn đã về. Nước dâng ngập đồng, cuốn trôi mùa màng, gia súc. Tiếng khóc lại vang lên khắp làng. Lần này, thầy không nói gì, chỉ lặng lẽ mở tay nải, lấy hết ra cứu giúp.

Rồi từ đó thầy ở lại hẳn. Già yếu, thầy không còn đủ sức đi xa nữa.

Một hôm, mấy người già trong làng đến gặp thầy hỏi, giọng vừa thương vừa trách: "Thưa thầy, cả một đời thầy nói muốn xây chùa cho làng, vậy rốt cuộc đến bao giờ chùa mới được xây?"

Nhà sư già ngước nhìn mây trời, nhìn những đứa trẻ đang chơi đùa trước những ngôi nhà mà chính tay thầy đã góp công dựng lại, nhìn những cánh đồng đã xanh tươi trở lại, rồi chắp tay mỉm cười hiền hậu:

"Tôi đã xây xong rồi chứ."

Mọi người ngơ ngác.

"Bốn mươi năm qua, tôi đã xây được một ngôi chùa trong tim mỗi người. Chùa ấy không có mái ngói, không có tường gỗ, nhưng có đầy lòng từ bi. Chùa ấy không sợ hạn hán, không sợ động đất, không sợ lũ lụt cuốn trôi. Nếu mỗi người đều giữ được chùa ấy trong tim, thì cần gì phải xây một ngôi chùa bằng gạch nữa?"

KHÔNG THỂ THEO NHAU (THƠ- HOÀNG LỘC)

 


không thể theo nhau

em biết gì về trăng mà hỏi tròn hay khuyết
có khi khuyết lại tròn, tròn mà khuyết thì sao?
như anh đứng một mình trong trời gió tuyết
chợt ấm lòng hạnh phúc của em cho...
em đã yêu chưa mà cho anh hạnh phúc?
bởi tên sông là biển gọi bao giờ
khi sông chảy qua những ghềnh những thác
cũng đau lòng tưởng tiếc ngọn nguồn xưa...
mùa đã trọng đông, anh vẫn làm người lạc xứ
phủi không cùng những bông tuyết đầy vai
biết em nhớ anh mà em không thể
cùng theo anh bước hết những dặm đời.
hoàng lộc

GIÓ CHIỀU THÁNG BẢY (PHÚC KHÊ)

 


GIÓ CHIỀU THÁNG BẢY
Chiều nay, gió tháng Bảy hiu hắt thổi về từng cơn lạnh xao xác. Những ngọn cây ngoài hiên khẽ lay động, chao nghiêng một nỗi buồn thật nhẹ. Giữa khoảng lặng của buổi chiều hoang hoài ấy, lòng tôi chợt nhớ mẹ. Nỗi nhớ mong manh như làn sương sớm, càng muốn ôm trọn vào lòng lại càng thấy xa xôi...
​Tôi nhớ một buổi sớm tinh mơ.
​Mẹ ngồi bên tôi, lặng lẽ. Mái tóc người đã quá nửa màu mây, nhưng đôi mắt vẫn dịu dàng bao dung. Mẹ dặn dò tôi đủ điều trước giờ lăn bánh: phải biết giữ gìn sức khỏe, biết tự lo bản thân khi xa mẹ... Tôi ngày ấy còn quá trẻ, mang đôi chân nôn nóng đi tìm khoảng trời riêng. Tôi nghe lời dặn của mẹ như nghe những điệp khúc quen thuộc mỗi ngày, nào hay biết đó là lần cuối cùng được ngồi im lìm bên mẹ.
​Ngoài kia, sương giăng mờ chớm lạnh. Xe sắp chuyển bánh.
​Tôi bước lên, nhìn mẹ qua khung kính nhỏ.
Đến tận bây giờ, vệt nắng nhạt soi vào ánh mắt mẹ buổi sáng hôm ấy vẫn nhói lên trong tôi: một ánh mắt già nua, thâm trầm và sâu thẳm niềm đau xót. Mẹ không nói gì, chỉ đứng đó, gầy guộc và nhỏ bé giữa mênh mông sương chần chừ. Tôi ngoái nhìn cho đến khi bóng mẹ chìm nghỉm sau những hàng cây. Khi ấy, tôi tự hứa thật giản đơn: “Con đi, rồi khi xuôi cạn gập gềnh, con sẽ đón mẹ về ở cùng.”
​Nhưng lời hứa ấy đã vĩnh viễn ngủ quên trong những tháng năm mải miết.
​Mẹ tôi — một người phụ nữ lặng thầm mà giàu nghị lực. Những năm tháng ở vùng kinh tế mới gian truân, túng thiếu, một mình mẹ tảo tần bươn chải nuôi đàn con ăn học thành người. Mẹ chưa bao giờ than thở về gian nhọc, chỉ lặng lẽ gieo từng giọt mồ hôi vào đất như một lẽ tự nhiên. Những buổi sớm mẹ đi khi chúng tôi còn say giấc, những đêm mẹ về khi bếp lửa đã tàn canh. Chúng tôi lớn lên từ sự hy sinh thầm lặng ấy, để rồi vô tình quên mất rằng: mỗi bước chân chúng tôi dài thêm, là mỗi nếp nhăn trên trán mẹ sâu lại.
​Để rồi một ngày, khi tôi muốn quay về gom nhặt lời hứa cũ, thì mẹ đã không còn.
​Lời hứa đưa mẹ về sống cùng nay trở thành vết cắt âm thầm, cứ mỗi độ tháng Bảy ghé qua lại nhói lên buốt nhói. Giờ đây, khi đã làm cha làm mẹ, bước qua những vạt nắng chiều của đời người, tôi mới thấu thía ánh mắt bất lực của mẹ năm nào. Mẹ đã biết trước điều mà đứa con nông nổi khi ấy chưa thể hiểu: những đứa con rồi sẽ mải miết bay về phía mặt trời, chỉ có người mẹ là đứng lại, lặng lẽ hóa thành vệt bóng dài trông theo.
​Nếu thời gian cho tôi quay lại buổi sáng mờ sương ấy, tôi sẽ không vội gạt vệt sương để bước lên xe.
​Tôi sẽ ngồi lại bên mẹ thêm một chút. Sẽ ôm lấy bàn tay gầy gộc, chầm chậm thì thầm: “Mẹ ơi, con thương mẹ lắm...” Một câu nói tha thiết ấy, cả một thời tuổi trẻ tôi đã nợ mẹ, và nợ chính mình.
​Ngoài hiên, một chiếc lá chao nghiêng rồi khẽ chạm nền gạch lạnh.
​Tôi chợt nhận ra, đời người có những chuyến đi tưởng chừng là xa cách tạm thời, đến khi ngoảnh lại mới hay đó là lần vĩnh biệt. Và có những lời hứa ngỡ còn cả một đời để trả, nhưng rồi cả một đời cũng chẳng bao giờ đủ nữa.
​Tháng Bảy lại về.
Mẹ thì đã xa ngút ngàn mây trắng.
​Chỉ còn tôi ngồi lại giữa chiều lặng gió, thả lòng mình chìm vào vệt ký ức dạt dào — nơi có bóng hình mẹ dịu dàng, xa xăm mà buốt giá một nỗi đau chưa từng khép lại.
Giữa tháng Bảy, Bính Ngọ
Phúc Khê

THẾ LÀ ẢNH ĐẾ Á CHÂU NĂM 1974 ĐÃ ĐI GẶP ẢNH HẬU Á CHÂU NĂM 1974 (LÊ QUANG THANH TÂM)

 


THẾ LÀ ẢNH ĐẾ Á CHÂU NĂM 1974 ĐÃ ĐI GẶP ẢNH HẬU Á CHÂU NĂM 1974
Ngôi sao điện ảnh Hong Kong (Trung Quốc) Trần Quang Thái vừa ra đi về cõi vĩnh hằng ở tuổi 80, khép lại một chương rất đẹp của thế hệ minh tinh võ hiệp lừng lẫy thập niên 1970.
Trần Quang Thái (Chen Kuan Tai, tên Hoa: Trần Quán Thái/陳觀泰), ngôi sao võ thuật nổi tiếng của điện ảnh Hong Kong (Trung Quốc), qua đời sáng 2/9/2026, hưởng thọ 80 tuổi. Ngày 24 tháng 9 này mới là ngày kỷ niệm sinh nhật của ông. Nguyên nhân ban đầu được nói là nghi xuất huyết não.
Đọc tin ông mất, tôi chợt nhớ đến một sự trùng hợp rất đặc biệt của điện ảnh châu Á.
Năm 1974, tại Liên hoan phim Châu Á - Thái Bình Dương, Trần Quang Thái được trao danh hiệu Ảnh Đế, còn minh tinh Thẩm Thúy Hằng của Việt Nam được vinh danh Ảnh Hậu. Hai ngôi sao, hai nền điện ảnh, nhưng cùng đứng trên bục vinh quang của điện ảnh châu Á trong cùng một năm.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, giờ đây cả hai đều đã rời xa cõi tạm.
Một điều khiến tôi càng bâng khuâng hơn là sự trùng hợp của thời gian. Thẩm Thúy Hằng từ giã cuộc đời vào tháng 9 năm 2022. Và đúng vào những ngày đầu tháng 9 năm nay, Trần Quang Thái cũng lặng lẽ ra đi.
Thế hệ vàng của Liên hoan phim Châu Á - Thái Bình Dương năm 1974 giờ đã dần khép lại. Những người từng làm nên một thời huy hoàng của màn bạc châu Á lần lượt rời sân khấu cuộc đời, chỉ còn những bộ phim và những tấm ảnh lưu giữ mãi thanh xuân của họ.
Vĩnh biệt Trần Quang Thái. Và cũng là một lời tưởng nhớ đến Thẩm Thúy Hằng, Ảnh Hậu Á Châu năm nào.
Lê Quang Thanh Tâm

Tuesday, September 1, 2026

CẢM TẠ (THƠ - NHẠC/ BẰNG SƠN)

 


CẢM TẠ - BẰNG SƠN.

Bằng Sơn xin mượn lời bài nhạc này như một lời cảm tạ

Thầy cô, bạn bè và gia đình thân thuộc đã sưởi ấm lại linh hồn người anh của Bằng Sơn sau nhiều năm xa vắng, đã bỏ chúng ta về miền đất lạnh.

https://youtu.be/bPXmBOiO6Mc?is=WBmYHumKA-ETK3jc

HÃY CHO EM MỘT GIẤC MƠ! (THƠ- VŨ TUẤN)

 


HÃY CHO EM MỘT GIẤC MƠ!

Có những đứa trẻ sinh ra không còn cha
Chỉ có mẹ suốt một đời gian khó
Em lớn lên giữa vùng quê nghèo khổ
Cuộc sống mưu sinh đè nặng thân gầy.

Có những đứa trẻ phải nhịn đói suốt ngày
Vì trời mưa, rau rừng không kiếm được
Cánh đồng quê em ngập trong biển nước
Mẹ vẫn chưa về, gạo nhà hết từ lâu...

Có những đứa trẻ sinh ra đã gánh nỗi đau
Mẹ đi chợ vùng cao rồi không về nữa
Cha đi tìm, bỏ em bên bếp lửa
Gió thét gào qua vách lá đơn sơ...

Có những đứa trẻ suốt năm tháng tuổi thơ
Cùng cha oằn mình theo từng con sóng
Cha ra đi trong một ngày biển động
Để suốt bao năm mẹ vẫn đợi cha về.

Có những đứa trẻ trong ngày rét tái tê
Em đi tìm gì trong từng thớ đất?
Tìm áo cơm? Hay tìm điều đã mất
Hình dáng mẹ cha, em chưa thấy bao giờ!

Nếu có thể cho em một giấc mơ
Được đến trường trong bộ quần áo mới
Dưới mái nhà tranh có bữa cơm nóng hổi
Cha vỗ về, vòng tay mẹ yêu thương....
Vũ Tuấn

MỘT CHUYẾN TÀU – MỘT TẤM LÒNG (NGUYÊN THANH)

 


MỘT CHUYẾN TÀU – MỘT TẤM LÒNG
Năm 1981, Hắn là một thanh niên xung phong, đơn vị đóng trong lòng hồ Đá Bàn, Ninh Hòa, tỉnh Phú Khánh cũ.
Những năm tháng ấy, cuộc sống còn nhiều thiếu thốn. Một lần nhớ nhà quá, hắn lén rời đơn vị để về thăm mẹ. Trước khi đi, hắn chuẩn bị ba củ khoai mì được đào lên từ rẫy của đơn vị làm lương thực dọc đường. Với hắn lúc ấy, ba củ khoai mì cũng là một thứ gì đó quý giá, đủ để cầm hơi trên quãng đường từ Lòng Hồ về Tuy Hòa.
Hắn đi bộ ra khỏi Lòng Hồ, lần theo con đường đất về Ninh Hòa. Đến Ngã ba Dốc Lết, vừa mệt vừa khát, hắn ghé vào một quán nước bên đường xin một ít nước uống.
Đang ngồi nghỉ, hắn nhìn thấy bên đường có khoảng hai mươi thùng mắm đựng trong những can nhựa loại hai mươi lít. Hỏi thăm, hắn được biết người ta đang chờ xe để chở số mắm ấy về Tuy Hòa bán.
Trong đầu hắn chợt lóe lên một ý nghĩ.
Hắn hỏi chị bán mắm:
— Chị có cho tôi đi nhờ xe chở mắm về Tuy Hòa được không? Tôi phụ chị khiêng mắm lên xe, chị trả giúp tôi tiền xe là được.
Hắn nghĩ đó là cách duy nhất để mình có thể về được nhà mà không cần tiền.
Nhưng lúc ấy hắn đã đói và kiệt sức. Hắn cố sức rinh một thùng mắm lên xe. Chiếc can nặng trĩu, đôi chân vốn đã rã rời càng thêm run. Hắn ì ạch mãi mới đưa được một thùng lên.
Còn mười chín thùng kia, người dân địa phương đã nhanh chóng phụ nhau khiêng sạch lên xe.
Cơ hội về Tuy Hòa theo chuyến xe ấy cũng theo đó mà mất.
Hắn lại tiếp tục tìm đường ra ga Ninh Hòa.
Ba củ khoai mì mang theo cũng đã hết. Trong túi lại không có một đồng. Đến ga, không có tiền mua vé, hắn bèn tìm cách đi cọp tàu lửa.
Chuyến tàu vừa đi được một đoạn thì nhân viên kiểm soát phát hiện và yêu cầu hắn xuống tàu.
Hắn vừa run vừa sợ, đang lúng túng giữa lúc chẳng biết phải làm gì. Cả ngày hôm ấy, hắn chưa có một miếng cơm, chỉ biết uống nước để cầm hơi. Cái đói khiến người hắn rã rời, nhưng nỗi lo bị bỏ lại giữa đường còn khiến hắn hoang mang hơn.
Đúng lúc ấy, một nhân viên đường sắt bước đến.
Anh nhìn hắn một lúc rồi hỏi chuyện. Biết hắn là thanh niên xung phong, anh không trách cứ, cũng chẳng hỏi thêm điều gì.
Anh chỉ nói:
— Đi theo tôi.
Rồi anh dẫn hắn xuống toa phục vụ.
Anh bảo hắn ngồi xuống, sau đó gọi cho hắn một đĩa cơm nóng có thịt, một ly cà phê và một điếu thuốc.
Hắn ăn ngấu nghiến mà gần như không biết mình đang ăn gì.
Miếng cơm đầu tiên vào bụng, cả người hắn bỗng rã ra. Cái đói suốt một ngày như được tháo xuống từng chút một. Hắn uống một ngụm cà phê. Vị đắng mà sao lúc ấy lại ngọt đến lạ.
Rồi hắn châm điếu thuốc, rít một hơi thật sâu. Nước mắt bỗng trào ra. Hắn không biết đó là vì khói thuốc cay mắt, hay vì một cảm xúc nào đó vừa chạm đến tận cùng lòng mình.
Có lẽ, cũng từ giây phút ấy, lần đầu tiên hắn cảm nhận được rằng giữa cuộc đời rộng lớn và những năm tháng thiếu thốn, mình vẫn không bị bỏ rơi lại một mình.
Suốt đoạn đường từ Ninh Hòa ra Tuy Hòa, anh không nói gì nhiều. Hắn cũng chẳng biết nói gì ngoài mấy tiếng cảm ơn.
Chuyện ấy đến nay đã hơn bốn mươi lăm năm.
Người nhân viên đường sắt năm nào, hắn không còn nhớ rõ tên. Thời gian đã làm phai đi nhiều ký ức, nhưng bữa cơm trên chuyến tàu hôm ấy thì hắn chưa bao giờ quên.
Hắn vẫn nhớ ba củ khoai mì mang theo từ Lòng Hồ.
Nhớ quán nước nhỏ ở Ngã ba Dốc Lết.
Nhớ hai mươi thùng mắm và cái ý nghĩ ngây ngô rằng chỉ cần mình khiêng được chúng lên xe thì sẽ có một chuyến xe đưa mình về nhà.
Và hắn nhớ nhất một người xa lạ đã không quay lưng trước một thanh niên đang đói và lúng túng giữa đường.
Trong những năm tháng thiếu thốn nhất, một đĩa cơm có thể giúp một người vượt qua cơn đói.
Nhưng một tấm lòng của người xa lạ có thể làm nên một ký ức đủ sức đi cùng người ta suốt cả cuộc đời.
Đời người có những chuyến tàu đi qua rồi mất hút.
Nhưng có những nghĩa tình, dù chỉ gặp một lần, lại đi qua cả một đời vẫn không thể nào quên.
- Câu chuyện trên, được trích từ nhật ký Nguyên Thanh.
Nguyên Thanh- 31082026.

LÒNG NGƯỜI THA HƯƠNG (THƠ HÀN THIÊN LƯƠNG)

 




Monday, August 31, 2026

LÒNG MẸ (THƠ- PHẠM THANH DƯƠNG)

 


LÒNG MẸ
Thơ:: Phạm Thanh Dương

Kính dâng mẹ mùa Vu Lan báo hiếu
Con muốn viết những lời yêu thương nhất
Mà bấy lâu con giữ chặt trong tim
Đẹp làm sao ôi hình ảnh mẹ hiền
Con xa mẹ lòng triền miên nỗi nhớ.
Mẹ mãi là ánh bình minh rực rỡ
Cho tương lai luôn rộng mở đời con
Mẹ mãi là ánh trăng sáng diệu huyền
Trong lời ru đã gắn liền năm tháng.
Cuộc đời con như mùa đông gặp nắng
Xua giá băng mẹ sưởi ấm đời con
Có những lúc lòng hiu hắt héo hon
Mẹ là mưa rửa sạch buồn u ám.
Mẹ là ngọc chói ngời không vết rạn
Soi tương lai sán lạn đường con đi
Mẹ cho con những mơ ước diệu kỳ
Lời mẹ dậy con khắc ghi xương cốt.
Những trưa hè nghe võng đưa kẽo kọt
Tiếng ầu ơ mẹ thánh thót ru con
Vòng tay mẹ như suối mát trào tuôn
Lòng mẹ mãi như nước nguồn biển cả.
Lễ vu lan lòng con trống vắng quá
Vì giờ đây mẹ hiền đã không còn
Bông hồng trắng cài trên ngực áo con
Lòng thành kính dẫu chưa tròn chữ hiếu.
Nam Định, sáng thứ bẩy 29/8/2026

LỚP HỌC THẾ GIỚI (DÂN CAO- SƯU TẦM)

 


LỚP HỌC THẾ GIỚI

- MỸ (USA): là trưởng lớp, giàu nhứt lớp. Nó chính là đứa quyền lực và đặt ra luật chơi cho cả lớp. Tuy thế nó chỉ già nhưng trí óc còn non nớt, đôi khi có những "động thái" ngờ nghệch lắm. Nhưng không ai đoán được là nó ngờ nghệch thiệt hay giả vờ lú lẫn

 

- TRUNG CỘNG: lớp phó tự phong, không ai bầu nhưng nó tự phong là lớp phó. Hầu hết cả lớp ghét nó vì nó có tính tham lam, độc ác và hay bắt nạt những thằng yếu hơn nó. Thằng này có tài copy y chang bài của đứa khác nhanh như chớp. Thằng Sở Lưu Manh này thì khỏi nói, chuyên môn đi dụ cho mấy đứa nghèo trong lớp mượn tiền, khi mắc nợ nhiều quá trả không nổi thì nó xiết nhà, xiết đất. Không nhờ thằng Mỹ ngờ nghệch thì đến giờ nó vẫn còn là thằng khổng lồ với đôi chân bằng đất sét. Mỹ và Âu châu cưng yêu thú vật mà không giỏi chữ Hán nên không hiểu câu "dưỡng hổ di họa" là gì.

 

- DO THÁI (ISRAEL): Thông minh và học giỏi toán nhứt lớp nên giữ chức lớp phó học tập, nhưng hơi có tính keo, không cho ai cóp bài hay mượn tài liệu bao giờ. Thằng này thì thủ đoạn vô lường. Con trai Đức Chúa Trời mà nó còn dám treo lên thập giá luôn, chẳng chút e dè. Dân Ả Rập vừa ghét nhưng lại vừa hãi nó lắm. Nó được võ lâm ban biệt danh là "Nhất Kiếm Trấn... Ả Rập". Ai mà đụng nó thì nó chơi lại tới bến. Mỗi lần có tên Ả Rập nào chọc nó thì trưởng lớp Mỹ phải can muốn chết vì sợ nó chơi quá tay sẽ đưa đến Thế chiến 3.

 

- PHÁP (FRANCE): Bạn này là dân chơi cầu ba cẳng, nổi tiếng thế giới về mỹ phẩm, rất đỏm dáng, điệu đàng lãng mạn khỏi nói, ra đường là xịt nước hoa nồng nặc. Khi vào lớp, nó thích nhất ai hỏi nó câu: “Paris có gì lạ không em?”

 

- ANH (ENGLAND): Thằng này học dẫn đầu lớp môn… tiếng Anh (English), nhưng hay hờn dỗi, suốt ngày đòi nghỉ chơi với mấy đứa bạn thân lâu năm. Nhờ học giỏi nên không thèm để mấy thằng ngu hơn lợi dụng. Nó thà làm đệ tử thằng giàu còn hơn làm sư phụ thằng nghèo để khỏi nuôi báo cô.

 

- BA TƯ (IRAN): Đây là xứ “1001 Đêm” của công chúa Jasmine, Aladdin và cây đèn cầy, ý lộn…, cây đèn thần… Nhưng đó là chuyện xưa. Còn nay, thằng này chỉ lo chăm chú luyện Thẩm Du Đại Pháp, chà chà cây đèn của nó để mong Thần Đèn xuất hiện giúp nó làm giàu uranium nhanh nhanh, bất chấp giáo viên đang dạy cái gì trên bảng.

 

- NGA (RUSSIA): thằng này lạnh lùng và gấu nhứt lớp. Tánh thằng này thô bạo lắm nên có biệt danh là “LA SÁT”, chuyên đi cưỡng hôn gái đẹp hàng xóm. Nó có tật xấu hay say sưa, hở ra là chuốc rượu vodka bạn bè. Hồi Thế Chiến 2, thằng Đức háo thắng lỡ dại đập nó một lần, sau đó bị nó đập lại phù mỏ, ba má thiếu điều nhận không ra, rồi thừa cơ cưỡng hôn luôn mười mấy người đẹp hàng xóm của nó. Hiện tại không ai dám đập nó kể cả trưởng lớp, chỉ có nó lâu lâu say xỉn đập hàng xóm thôi. Cái thằng [muốn làm] Mỹ con [nhưng] không có “đô-na” này chỉ cậy có mấy thứ võ công tà đạo mà hù thiên hạ. Vì sự hèn nhát của võ lâm Tây Âu và công tử trưởng lớp Mỹ nên cũng là mối đe dọa của giang hồ. 

 

- UKRAINE: là một nữ sinh hiền lành, xinh đẹp, học giỏi có hạng ở trường. Trước kia nàng bị thằng Nga La Sát cưỡng hôn. Nhân cơ hội thằng khốn nạn đấu nội công với lớp trưởng bị nội thương suýt chết nên nàng và mười mấy người đẹp khác nộp đơn ly dị thành công. Mấy năm trước nàng hay mặc bộ bikini hiệu Crimea & Donetsk - Luhansk tuyệt đẹp khi bơi ở trường. Thằng La Sát chồng cũ ghen quá nên đã đè ra lột bộ bikini chiếm giữ làm của riêng trước sự bất lực hèn hạ của bọn công tử đồng môn.

 

- THÁI LAN (THAILAND): Em này cứ vài ba bữa thì xin nghỉ học để tổ chức thi Hoa Hậu Tiffany. Nhờ sự khôn ngoan nhất mực nên mấy mươi năm giang hồ loạn thế mà nó vẫn giữ được gia trang yên ổn. Nay tự nhiên luyện môn Quỳ Hoa Bảo Điển, cặp kè với thằng phó lớp rồi khoe đã uống thuốc ngừa thai nên chẳng sợ vướng bầu. Giời ạ! Chơi với thằng Sở Lưu Manh thì bầu bì gì. Chỉ e bị giang mai lậu mủ hay nhẹ lắm cũng bị lây ghẻ tầu rồi lở loét mà chết thôi...

 

- TRIỀU TIÊN (NORTH KOREA): Thằng này bị bệnh tự kỷ nặng, trong lớp không chơi với ai, cộng thêm chứng hoang tưởng, suốt ngày mang hàng nóng rởm ra dọa thằng trưởng lớp để tống tiền. Nó khùng khùng vậy chứ thuộc loại “uy vũ bất năng khuất”, không biết sợ ai hết kể cả trưởng lớp. Vì vậy, cả lớp phải kiêng dè nó. Trong 10 lần nó mang hàng nóng rởm ra dọa thì hết 7 lần trưởng lớp và hàng xóm phải hùn tiền cứu đói nó.

 

- ĐỨC (GERMANY): Thế kỷ trước nó là học sinh cá biệt, hung hãn nhứt lớp, gây nên Thế Chiến 2, khiến sơ sơ khoảng 70-85 triệu người chết. Sau đó bị trưởng lớp và các đồng minh đập hội đồng một trận nhừ tử. Giờ thì biết khôn nghe lời trưởng lớp rồi.

 

- VENEZUELA: Con bé này rất khoái thi sắc đẹp, hiện là hoa khôi của lớp. Nó bị thằng “phó lớp tự phong” dụ tiến lên “thiên đường xếp hàng cả ngày” nên nó tặng "quà" lung tung cho bất cứ thằng nào muốn... Giờ thì bệnh Ếch giai đoạn cuối rồi.

 

- Ả RẬP SAUDI (ARAB SAUDI): Có thể là một con bé xinh đẹp, tuy nhiên chưa ai nhìn thấy mặt nó, chỉ nhìn thấy cặp mắt to tròn, đen láy thôi. Ai nhìn lâu vào cặp mắt ấy bị thôi miên ráng chịu. Có thể trưởng lớp đã bị con bé này thôi miên nên thỉnh thoảng hắn dùng máy bay vận tải loại khủng C-5 Galaxy chở tiền mặt (đô la) qua tặng nàng. 

 

- TÂN GIA BA (SINGAPORE): Lớp phó lao động, vệ sinh. Thằng này khôn ngoan, giữ vệ sinh rất kỹ, tính khó chịu. Đừng bao giờ nhai chewingum với hút thuốc trước mặt nó, hay vẽ bậy lên tường, coi chừng ăn roi của nó vào đít. Đất nhà của thằng này nhỏ xíu, nhỏ đến độ nếu nó có máy bay chiến đấu, vừa đề máy bay lên là đã ra khỏi không phận quốc gia, nên nó không cần có quân đội mà chả có ma nào dám đụng tới nó, giống như nó có bùa hộ mạng. Thằng này thuộc loại "phú quý bất năng dâm", từng chỉ mặt thằng Đông Lào rằng "cút cha bản mặt Mã Giám Sinh của mày và dắt theo luôn con ‘Thúi Kiều’ về xứ Lèo cho tao, ngay. A lê hấp!”

 

- THỤY SĨ (SWITZERLAND): Thằng này tính cẩn thận, nghiêm túc, được giao làm thủ quỹ của lớp. Ai mà gởi tiền cho nó giữ thì không sợ mất tiền, chỉ sợ quên mật mã của tài khoản thôi. Nó khôn ngoan lắm, luôn đứng ngoài các cuộc chiến, chỉ mong thân chủ gởi tiền càng nhiều càng tốt và mau sớm bị bệnh mất trí nhớ (Alzheimer).

 

- Ý ĐẠI LỢI (ITALY): Thằng này đẹp trai, tính tình phóng khoáng, nhà lại có shop hàng hiệu nên hay được mấy đứa con gái trong lớp bu xung quanh. Nhưng thằng nay có sở thích nuôi móng tay dài để cấu mông mấy con bé trong lớp. Mà bọn gái lại khoái ra mặt mới thật là kỳ cục.

 

- ÚC ĐẠI LỢI (AUSTRALIA): Cả trường có mình nó cưỡi kangaroo đi học. Chung quanh nhà nó có nhiều rừng, không biết ai (ở không quá) đốt mà cứ bị cháy hoài. Thằng này giàu có nhờ đất đai cụ cố (vồ được của thổ dân Úc) để lại. Cũng thuộc loại công tử dân chơi, dám đòi điều tra thằng phó lớp về việc thả con cúm Tầu ra tàn hại cả lớp.

 

- BA TÂY (BRAZIL): Thằng này là dân ham chơi hơn ham học, giỏi đá bóng với nhảy nhót nên được bầu làm lớp phó phụ trách văn nghệ thể thao.

 

- CU BA (CUBA): Nhà thằng này cách nhà trưởng lớp một cái ao làng nhỏ, có thể dùng xuồng thúng bơi qua, con nhà nghèo nhưng được cái liên hoan lớp không bao giờ quên đem mía và xì gà nhà trồng vào chiêu đãi các bạn. Thằng này là bạn nối khố của thằng Đông Lào và nhờ được thằng Đông Lào ngậm kỹ khi ngồi canh giữ hòa bình thế giới nên vẫn còn yên tâm ngủ kỹ để... chống đói. Tuy nghèo nhưng nó không ngu: thằng Đông Lào dụ nó đổi nhà hoài để được ở gần nhà trưởng lớp cho dễ vượt biên mà nó đâu có chịu.

 

- BƯỚM MÁ (BURMA): Tên cúng cơm trước đây của nó là MIẾN ĐIỆN, cũng thuộc loại quân phiệt. Vừa vào lớp là bị chọc ghẹo, ghép cặp với thằng Cuba nên nổi sùng tuyên bố một câu xanh dờn: “Không có Cu Ba, Cu Má gì hết. Tao thà ở giá chứ nhất định không lấy tên nghèo kiết xác Cu Ba.”

 

- ĐẠI HÀN (SOUTH KOREA): Nhóm trưởng nhóm nhảy hiện đại của lớp. Nhóm của nó mặt giống nhau y chang (chắc có cùng bác sĩ thẩm mỹ.) Lúc Saigon là Hòn Ngọc Viễn Đông thì mùa đông thằng này còn trùm mền giấu cái lò than be bé trước ngực để sưởi ấm. May nhờ bọn Hàn cộng kiệt quệ sau trận chiến với thằng "đế quốc sen đầm" không còn đòi “phỏng giái” miền Nam nữa nên nó có điều kiện phát triển một mạch. Giờ thì ai nó cũng dám cạnh tranh. 

 

- NHỰT BẢN (JAPAN): Thằng này cũng con nhà giàu, lái Lexus đi học, nhưng được cái lễ phép, chào bạn mà cũng cúi gập đầu. Trong giới giang hồ thì nó xứng đáng được gọi là đại hiệp Phù Tang. Chẳng phải nhờ tài cứu nhân độ thế gì mà nhờ vào đức tính biết bỏ cái sai theo cái đúng, bỏ tự ái vặt để chớp lấy thời cơ và tự cứu mình. Cái sai lầm lớn nhất của thằng này là lỡ dại dám đánh lén trưởng lớp Mỹ trong trận Trân Châu Cảng (Pearl Harbor, Hawaii) hồi Thế Chiến 2. Sau đó bị trưởng lớp đánh lại tả tơi như cái mền rách. Nếu không, giờ này công tử lùn có thể đang ngồi rung đùi cho thằng phó lớp đánh giày bằng lưỡi.

 

- ĐÔNG LÀO (EAST LAOS): Thằng này nghe tên là biết nhà nó ở đâu, thuộc diện con nhà nghèo ăn xin tứ phương nhưng bị bịnh hoang tưởng hay thần kinh gì đó không biết. Lúc nào cũng nghĩ mình đang ở thiên đường và đặc biệt là không biết nó là ai nên cái mặt cứ vênh vênh lên và hay gây hấn với các bạn trong lớp rồi hỏi: “Mày biết bố mày là ai không?” 

 

Nghe võ lâm thiên hạ đồn hồi nhỏ nó bị té giếng nên nó khùng nặng, chửi trưởng lớp hằng ngày, nhưng cứ tìm cách cho bà con dòng họ qua nhà trưởng lớp chơi rồi ở lỳ không về. Ngược lại, nó khúm núm theo bợ thằng “phó lớp tự phong” như bợ đờ-ít ông cố nội nó, không bao giờ dám cãi lời, bảo ăn gì thì nó ăn nấy. Bởi vậy bệnh khùng của nó càng ngày càng nặng vì chỉ thích uống thuốc giả của thằng “phó lớp tự phong” đưa cho. Thằng tiểu lưu manh này từ khi bị trúng Thiết Sa Chưởng của đồng chí Bình Lùn thì chứng hung hăng đã giảm đến chín phần. Chỉ còn cái mồm là hay xoen xoét khoe thành tích tưởng tượng. Nó thuộc loại đầu trọc không có tóc, kèm chứng tửng tửng nên liều mạng nhất lớp, hay đem bom vô lớp để cưa rồi lấy thuốc nổ đi đánh cá. Mỗi lần nó cưa bom thì cả lớp mạnh thằng nào thằng nấy vắt giò lên cổ mà chạy, ai cũng sợ nó…"CHỆT" (phát âm theo tiếng "Huệ").

 

Dan Cao sưu tầm