Wednesday, December 1, 2021

MỐI TÌNH TÀU-VIỆT "CHIẾC ÁO BÀ BA IN HÌNH CHỮ HỶ" (ĐOÀN XUÂN THU)

 

Mối tình Tàu-Việt qua truyện ngắn ‘Chiếc Áo Bà Ba In Hình Chữ Hỷ’

 

Trần Doãn Nho

 

KENNEDALE, Texas (NV) – Lần đầu tiên tôi được biết Đoàn Xuân Thu qua một bài giới thiệu của nhà văn Lương Thư Trung về thơ của anh ở trang mạng “Thất Sơn Châu Đốc.” Tưởng anh làm thơ là chính, nhưng khi tìm đọc thêm về Đoàn Xuân Thu ở trang nhà của Hội Petrus Trương Vĩnh Ký, tôi thấy anh làm thơ nhiều mà viết văn cũng nhiều, nhiều hơn hẳn thơ (*).

Chiếc xe hủ tiếu của chú Phu, cha Muội. (Hình minh họa: Dân Huỳnh)

 

Văn của anh đầy chất Nam Bộ, lạ, vui và tinh nghịch. Anh có biệt tài biến tất cả những câu chuyện đời, chuyện chính trị, chuyện văn chương hay những chuyện hết sức nghiêm túc, đứng đắn, thậm chí cả những chuyện buồn và rất buồn thành chuyện… trào phúng. Cái chất trào phúng đó có thể tìm ngay trong các tựa đề: “Anh Ba cà khịa,” “Dề cơm chấy,” Tình, tiền…té!,” “Cáo Chung hoặc Cáo Phó,” “Bốc phét,” “Bỏ đi tám” …

Bằng một giọng văn thật trộn giả, giả trộn thật, chuyện “người” pha lẫn truyện “mình,” anh chuyển cõi người ta đầy những ái ố ai bi lạc dục thành… nụ cười, một thứ cười trộn bi, trộn ố, trộn ái, trộn dục… trộn vân vân. Tinh nghịch mà sâu, vui mà thấm, cười mà khóc.

Một trong những bài viết – một truyện ngắn – đọng mãi trong tôi là “Chiếc Áo Bà Ba In Hình Chữ Hỷ.”

Câu chuyện dựng lại hình ảnh khá điển hình của cuộc đời một thanh niên miền Nam vào thời chinh chiến trước năm 1975: đi học, đi cua gái, đi lính, đi tù, đi buôn lậu kiếm sống, đi vượt biên… Truyện mở đầu tưng tưng tửng tửng, không cần loanh quanh rào đón:

“Mới đầu nghe ba em gọi, tôi tưởng tên em là Muỗi. Tôi ghẹo em: ‘Muỗi này! Đừng chích anh, đau lắm.’ Em trề môi, vẻ không bằng lòng: ‘Tên em là Muội. Muội là em. Em là Muội.’ À ra thế!”

Câu ghẹo đó bắt đầu cho một cuộc tình, như mọi cuộc tình trên thế gian, nhưng ở đây, có điều hơi khác: mối tình Hoa Việt, hay nói cho “dân dã” một chút, mối tình Tàu-Việt.

Có vẻ ngoài thông lệ: gái Tàu, trai Việt. Cô tên Muội. Cha Muội là chú Phu, người gốc Quảng Đông. Chú không giàu, chỉ “có chiếc xe hủ tiếu, bán điểm tâm dưới hai tàng me đại thụ, trên vỉa hè.” Còn chàng – nhân vật chính xưng “tôi” – cũng nghèo, vì gia đình đông con, mẹ “có quầy bán cơm tấm gần bên.” Xem như láng giềng. Năm ấy, chàng học Đệ Nhứt.

Hai người quen nhau vì đều ra phụ chạy bàn vào ngày Chủ Nhật. “Em giúp ba em. Tôi giúp má tôi.” Chàng tán tỉnh nàng, nhưng nàng sợ cha nàng không bằng lòng. Vì theo cha nàng:  “Con trai Việt Nam làm biếng lắm, đi chơi tối ngày, không lo buôn bán. Không buôn bán lấy gì ăn. Không có gì ăn, làm sao lấy vợ. Nếu lấy được vợ làm sao nuôi vợ, nuôi con.” Mặc! Chàng tán riết, nàng xiêu lòng.

“Cuối năm đó tôi đậu Tú Tài hai. Hai năm xa Mỹ Tho, đi học Đại Học Cần Thơ, tôi không còn dịp gặp Muội mỗi sáng Chủ Nhựt, để nói chuyện tào lao bắc đế nữa.” Nhưng chàng hứa là khi tốt nghiệp xong, làm ông giáo, chàng sẽ hỏi cưới Muội. “Tôi sẽ có tiền nuôi Muội, để ba Muội không còn chê con trai Việt Nam làm biếng nữa. Tôi sẽ không còn ăn cơm tấm má nấu. Tôi sẽ ăn hủ tiếu Muội nấu, trừ cơm, trong những ngày mưa bán ế.”

Nhưng rồi mọi chuyện thay đổi. “Tôi không chờ được Muội mà ngược lại Muội phải chờ tôi. Chờ tôi suốt cả một thời con gái.”

Mùa Hè năm 72 lửa đỏ. Các trận đánh lớn đồng loạt nổ ra ở Quảng Trị, Kon Tum, An Lộc. Tin chiến sự chiếm đầy mặt báo. Chàng tốt nghiệp, nhưng thay vì đi nhận nhiệm sở, thì phải nhập ngũ theo lệnh tổng động viên.

“Tôi rời trường Bộ Binh Thủ Đức, về Thủy Quân Lục Chiến. Sư đoàn là lực lượng tổng trừ bị, nên tôi lội khắp nơi: từ Cà Mâu, Chương Thiện, Bến Tre ra tận Thừa Thiên, Quảng Trị.” Chàng viết thư về bảo nàng chờ. Và nàng hứa chờ, “dẫu trời sập chăng đi nữa.” Nhưng rủi thay, trong một trận đụng độ lớn, chàng bị đạp phải mìn, bị thương. Nàng tới bệnh viện thăm. “Muội sợ tôi chết, Muội khóc. Khóc cho giấc mộng tôi muốn làm thầy giáo đi bán chữ nuôi Muội; Muội đi bán hủ tiếu cho tôi ăn trừ cơm những ngày mưa bán ế đã không thành.”

Trong cái rủi có cái may. Nhờ bị thương, trong lúc rời viện chờ giám định y khoa, hai người có dịp đi chơi với nhau. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhất của đời chàng.

“Tôi hỏi Muội: ‘Đẹp tiếng Quảng là gì?.’ Muội nói: ‘Hụ len. Còn yêu là ói.’ Vậy thì ‘Nị hụ len; ngọ ói nị.’ Muội mắc cỡ, ửng hồng đôi má.”

Chàng dẫn cô đi chợ, mua biếu tình nhân một xấp gấm Thượng Hải có in chữ Tàu.

“Tôi hỏi: ‘Chữ Tàu đó nghĩa là gì?’

Muội nói: ‘Đó là chữ hỉ. Hỉ là vui. Vải này dành cho người ta may áo cưới.’

Tôi hỏi: ‘Muội muốn màu gì?’

‘Màu đỏ hên lắm! Muội xin Trời, Phật cho anh đi đánh giặc bình an, hết giặc, về với Muội.’

Tôi nói: ‘Thôi! Đời anh xui quá xá rồi còn gì, muốn đi bán chữ mà cũng không được, mới đi lính có một năm đã bị thương rồi, hên đâu hỏng thấy.”

Nói vậy, nhưng chàng chọn vải áo màu xanh đọt chuối và may cho nàng một chiếc áo bà ba. Cặp tình nhân sung sướng chờ ngày hôn lễ.

Áo bà ba, Muội yêu. (Hình minh họa: Phát Trương/Unsplash) 

Nhưng, lại một lần nữa, cuộc đời không chìu ý họ. Vết thương không đủ nặng để chàng có thể ở lại hậu cứ. Lành xong, chàng phải trở lại đơn vị, tiếp tục ra chiến trường đánh nhau với Cộng Sản cho đến ngày tan hàng.

Là sĩ quan của một đơn vị thiện chiến, chàng phải đi ở tù năm năm. Và khi trở về nhà thì “bèo nhèo như một chiếc áo rách.” Như mọi sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa khác, chàng ra khỏi nhà tù nhỏ, để vào một nhà tù lớn hơn. “Tôi chỉ có chữ, mà chữ bây giờ chẳng ai mua. Chế độ này không cần chữ. Lúc tôi lên trình diện, lão phó công an phường lẩm nhẩm đánh vần lịnh tha của tôi mà nước miếng tràn ra cả khóe miệng. Chế độ này cần lý lịch. Mà lý lịch tôi hạng 15, nghĩa là hạng bét, tận cùng đáy xã hội, thì tôi làm được gì bây giờ?”

Chàng tránh gặp lại Muội, người yêu cũ, không phải vì mặc cảm, mà “chỉ vì tôi không muốn mình trở thành gánh nặng cho Muội.” Chàng đi buôn lậu dầu dừa để kiếm sống.

Vào một buổi chiều, tình cờ chàng gặp lại cha nàng, chú Phu. Chàng chở chú về nhà, được đãi ăn hủ tiếu và uống rượu. “Tô hủ tiếu, chú Phu vừa mới nấu, cũng chịu cùng số phận tang thương theo vận nước, chỉ nước lèo, bánh và lèo tèo những lát thịt mỏng như tờ giấy quyến.” Ăn xong, trong cơn ngà ngà say, chú Phu vào nhà trong, lấy ra cái bọc ny lông, đưa cho chàng, nói: “Con Muội! Nó gởi cho nị. Con Muội! Hu hu! Nó chết rồi! Ngộ biết nó thương nị. Lúc nị đi ở tù, nó nói nó chờ nị được tha về, nó sẽ đi bán hủ tiếu nuôi nị. Nhưng có được đâu! Tụi nó đánh ăn tụi mình rồi lại giành ăn, đánh lẫn nhau. Thiệt hết biết! Hết Pol Pot, Bành Trướng Bắc Kinh, rồi Nạn Kiều.” Sợ bị đuổi về Trung Quốc, chú Phu cho nàng đi vượt biên. Đêm trước khi đi, nàng nhờ cha nàng giữ cái bọc ny lông để trao lại cho chàng.

“Tàu nó ra cửa được ba ngày đêm thì bơm nhớt bị hư, máy lột dên, trôi dạt. Ở hải phận quốc tế, tàu buôn qua lại nườm nượp mà không ai vớt. Ba tuần linh đinh trên biển, tuyệt vọng quá, mấy người đi trên tàu gom quần áo, giày dép lại, đốt. Cuối cùng có chiếc tàu buôn tội nghiệp dừng lại, thả thang dây xuống. Ba tuần trên biển, nị nghĩ coi, sức đâu nữa mà leo. Nó sút tay, rớt xuống biển. Chết chìm. Hu hu.”

Kể xong, “Chú Phu không còn nước mắt nữa để khóc, chú chỉ kêu hu hu, tiếng kêu của con thú bị một vết thương trí mạng, bị ví vào đường cùng, không lối thoát thân.”

Chàng mở cái bọc ny lông. Thì ra, đó là “chiếc áo bà ba hình chữ hỷ tôi may cho em ngày cũ. Muội ơi!”

“Chiếc Áo Bà Ba In Hình Chữ Hỷ” đơn giản, ghi lại một mối tình cũng đơn giản. Không có gì éo le gay cấn; không sướt mướt khóc than. Nhưng vẫn là tình lớn, lại là một mối tình đậm mùi thời đại. Riêng mà rất chung. Trước và sau 1975, đã có thể có hàng ngàn, thậm chí hàng vạn những mối tình dang dở như thế. Truyện này còn có một chi tiết ý nghĩa hơn: gái Tàu yêu trai Việt. Tuy tác giả, bằng giọng văn trào phúng cố hữu, không tìm cách “bi thảm hóa” cuộc tình, nhưng rốt cuộc, không tránh được nỗi bi ai.

“Muội ơi! Xác em giờ ở phương nào. Trôi vào đất Thái hay vào Nam Dương. Áo bà ba, Muội yêu, hòa biển tím. Tình còn đây trời đày ta mất nhau. Tôi không còn khóc được nữa, nước mắt tôi đã cạn lâu rồi. Miệng tôi méo xệch như mếu, mắt chớp chớp, mặt nhăn nhúm, giựt giựt. Muội ơi! Anh sẽ đem chiếc áo bà ba hình chữ hỷ của chúng mình theo, ra biển!” 

NHỚ BIẾT MẤY! (Thơ tình Á Nghi phần 38)

 NHỚ BIẾT MẤY! (Thơ tình Á Nghi phần 38)-Tranh ảnh: CHU VY TIẾP, BÙI PHÚC HOÀN, CVN, NGUYỄN THÀNH TÀI

 

 

 

 


 

 

 

 

ANH CÓ TRIỆU CHUYỆN CƯỜI

TRONG MÁU TẾU

Chưa điểm cuối anh chợt dừng rong ruổi

Em lẻ loi, trơ trọi, làm sao cười?

Em nhớ Người, chỉ biết khóc, than ơi

Thương nhớ quá! Người làm hay, nói giỏi.

 

Anh có triệu chuyện cười trong máu tếu

Em thích ngồi nghe anh kể chuyện vui

Những buổi chiều nắng rất thiếu, buồn hiu

Chia chung rượu, xẻ ngọt bùi đắm đuối.

Á Nghi, 22.11.2021

 

 

 

 

 

 

 

 

RỐI

Người này hờn chuyện không đâu,

Kẻ kia lại giận những câu vô tình

Tang gia bối rối (thình lình)

Nhận vào câu khế, bất bình lời chanh.

💔

Thương anh bách hạnh ngọt lành

Tánh tình vui vẻ. Thế Vinh ơi à!

Bây giờ em trước ngả ba

Nên đi hay ở Canada buồn?

 

Gia đình Ý, Mỹ gọi luôn

Thương thân cô phụ lệ tuôn mỗi ngày!

Á Nghi, 23.11.2021

 

 

 

 

 

 

 

 

TÌM ĐÂU ĐƯỢC BẠN

NHƯ… ANH?

Cùng phái, em ngại thân

(Cứ hở ra là giận

Vòng vo rất khó gần)

Trong khi em thẳng thắn!

 

Nhớ anh trêu em hoài:

“Chỉ mình anh thiện tánh

Thương mình anh đủ oai

Cần chi thêm bá tánh!”

 

Bạn gái giận, không ôm

Ngại họ đồn đồng tính;

Bạn khác phái? Dị òm!

Đồn, ái tình cả tỉnh.

 

Mỗi lần anh giận chi

Chỉ cần ôm anh chặt

Anh hết giận tức thì

Chẳng thêm lời thắc mắc.

Á Nghi, 23.11.2021

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GẦN MÀ XA

Căn nhà nhỏ chia làm hai thế giới

Em phòng này đóng cửa với văn thơ,

Anh phòng kia đọc báo cho bớt… khờ

Hai mạch thở, hai tâm hồn chới với.

Á Nghi, 26.2.2009.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ạ… ƠI!

*

Tặng TH & những cô sinh viên ngây thơ

*

Ạ ơi… ơi! Ạ ời… ời!

Yêu ai một nửa, ai thời khổ đau

Yêu nhiều có hại khổ nhau?

Mà người yêu ấy tại sao nửa vời?

💔

Yêu người, tôi hại khổ tôi

Tình đem trao hết, nhận rồi, người quên

Chiều buồn, nhân nỗi vui lên

Đêm buồn, gắn điện, thử đèn, tìm trăng.

Quanh tôi bóng tối lỡ làng

Sao tôi vẫn thấy một chàng-đang-yêu?

💔

Ạ… ơi! Ơi… ạ! Trớ trêu

Khổ đau sao vẫn nâng niu Hồng Vàng?

Đặt môi hôn nụ nồng nàn.

Hoa Yêu thơm ngát, thở than chi người? 

Ạ… ời ời! Ạ… ơi ơi!

Á Nghi, 12.2.2009.


NGƯỜI BẠN CỦA CHA (KHỔNG VĂN ĐƯƠNG)

 

    NGƯỜI BẠN CỦA CHA

 

Hồi tôi mới độ 15 tuổi, bố tôi mang về một con chó đực. Con chó có bộ lông trắng, đôi mắt màu nâu đen rất đẹp. Năm đó mất mùa đói kém, gia đình tôi phải thường xuyên ăn độn khoai sắn. Lạ lùng thay, con chó này cứ lớn phổng phao, mượt mà. Nó phải nặng đến 15kg. Cũng như nhiều gia đình khác, những con chó nuôi đều không được đặt tên. Nó là loài vật, nên vô danh ! Mỗi lần muốn gọi, chỉ cần: "Êu, Êu" là nó xuất hiện, ve vẩy đuôi, miệng rít lên những tiếng như tiếng rên, rất dễ thương ! Thường ngày, khi không có ai cần đến, nó nằm khoanh tròn trong gậm giường, đầu hướng ra phía cửa. Có khách lạ, nó sủa lên vài tiếng báo hiệu. Còn là người quen thân, nó vùng dậy, xông ra, vẫy đuôi rối rít và kêu lên mừng rỡ.
Từ ngày mua được con chó này, nhà tôi như được bình an hơn. Cha tôi quý con chó lắm. Mùa đông giá rét, ông lấy một chiếc bao tải quấn quanh mình, giữ ấm cho nó.. Những ngày hè nóng nực, ông mang nó ra ao tắm cho sạch lông. Nhà tôi nghèo như thế, vậy mà đôi khi ông vẫn đi đâu đó tìm được một khúc xương mang về cho nó gặm. Con chó rất quyến luyến cha tôi, suốt ngày luẩn quẩn bên ông.
Một hôm có hai người khách lạ đến nhà tôi hỏi mua chó. Họ nói, họ ở làng bên cạnh, cách làng tôi một cánh đồng. Ngày mai gia đình họ có đám giỗ, cần một con chó để thịt! Cha tôi nghe vậy không muốn bán, nhưng gia cảnh nhà tôi lúc đó rất nghèo. Cả cha mẹ và bốn anh em tôi, mặc dù bữa ăn phải độn nhiều khoai sắn nhưng không ngày nào thật sự được ăn no. Mẹ tôi bàn với cha tôi lâu lắm. Nếu tiếp tục nuôi thì không còn gì để cho nó ăn, dù rằng con chó vô cùng dễ ăn. Nó có thể ăn vài cọng rau thừa, dăm bảy cái vỏ khoai lang, mấy cái xương lõi sắn, vài hạt cơm rơi vãi quanh mâm hoặc bất cứ cái gì có thể ăn được mà con người cho phép. Tuy nhiên, nuôi nó cũng như thêm một miệng ăn nữa. “Người chẳng có mà ăn, lấy đâu ra cơm nuôi nó mãi ?” - Mẹ tôi bảo thế.
Có một điều rất lạ là khi cả cha và mẹ tôi miễn cưỡng đồng ý bán con chó, thì tự nhiên nó chạy biến đi đâu mất! Không lẽ con chó này hiểu được tiếng người ? Chúng tôi chia nhau đi tìm mọi xó xỉnh, xung quanh nhà, thậm chí sang cả nhà hàng xóm, nhưng bặt vô âm tín. Cho đến khi cha tôi nước mắt lưng tròng, lên tiếng gọi, thì từ trong đống rơm ở phía sau chuồng lợn nó chui ra ! Người ta lấy cái chày giã gạo chẹn cổ nó xuống, trói mõm và bốn chân nó lại. Con chó tội nghiệp kêu rên ư ử, hai mép nó sùi bọt. Cha tôi ôm lấy nó, khóc. Nhìn bộ dạng cha tôi, thương lắm. Tôi liên tưởng đến lão Hạc, một nhân vật của nhà văn Nam Cao khi phải bán cậu Vàng !...
Người ta trả tiền cho mẹ tôi và dùng đòn ống khiêng nó đi. Cha tôi buồn bã lên giường nằm, tay trái vắt ngang qua trán, tay phải để lên bụng và thở dài thườn thượt... Chiều hôm đó ông bỏ ăn. Một bát cơm và đĩa khoai phần ông vẫn còn nguyên trong trạn. Mẹ tôi bảo, nó chỉ là một con chó, việc gì phải tiếc quá như vậy ? Nếu muốn, lại sẽ mua con khác về nuôi ! Cha tôi không nói gì, cứ nằm im như người bệnh nặng....
Đêm hôm đó trời tối đen như mực. Cả nhà tôi đã ngủ yên, chỉ một mình cha tôi thao thức. Thỉnh thoảng ông trở dậy, bật diêm hút thuốc. Rồi ông nằm xuống thở dài, trằn trọc, quay ra, lật vào, ngao ngán. Tâm trạng ông nôn nao, buồn phiền như tiếc nuối một vật gì đã mất đi, quý lắm... Vào khoảng 2-3 giờ sáng, cha tôi là người đầu tiên phát hiện những tiếng động rất lạ ở vách cửa.. Cha tôi yên lặng lắng nghe. Không có nhẽ đêm đầu tiên không có con chó giữ nhà là đã có kẻ trộm ? Mà nhà tôi có gì đáng giá để kẻ trộm phải rình mò ? Nhưng chỉ một phút sau, linh tính báo cho ông biết, con chó đã trở về ! Nó cào mạnh vào cửa, kêu ư ử như cầu cứu. Cha tôi vồng dậy, kéo cửa ra. Con chó mừng rỡ nhảy sổ vào nhà. Mẹ tôi trở dậy thắp đèn. Tội nghiệp con chó. Cổ nó còn nguyên một vòng xích sắt có khóa, nối với đoạn dây thừng lớn đã bị nó cắn đứt kéo lê theo. Đầu và bụng nó ướt lút thút, bốn chân và đuôi dính đầy bùn. Nó đói quá, hai bên sườn xẹp lại, sát vào nhau. Cha tôi vội tháo vòng xích, lấy cái khăn rách lau khô lông và lau sạch bùn ở đầu, ở bụng, ở chân và đuôi nó, rồi vào trạn lấy bát cơm còn để phần ông từ hồi chiều hôm trước, trộn với một ít tương cho nó ăn. Lạ lùng thay, con chó đói gần chết, và lại lần đầu tiên được ăn một bát cơm ngon như thế, vậy mà nó ngước mắt nhìn cha tôi, như nghi ngờ và ngần ngại... Một lúc sau, nó mới cúi đầu xuống ăn một cách từ tốn. Cha tôi vuốt ve nó rất lâu, sau đó cho nó vào gầm giường. Ông lên giường nằm và một lúc sau ông đã chìm vào giấc ngủ bình thản và ngon lành.
Sáng hôm sau, mới tinh mơ hai người mua chó hôm trước quay trở lại nhà tôi. Con chó đánh hơi thấy trước nên nó trốn biệt. Cha tôi điều đình và trả lại tiền cho hai người mua chó. Cả nhà tôi đều hiểu rằng, dù có phải chết đói, cha tôi cũng không bao giờ bán con chó cho ai nữa.
Từ hôm đó chúng tôi để tâm chăm lo cho con chó nhiều hơn. Cha tôi, dù cả bữa cơm ông phải ăn khoai là chính (tiêu chuẩn mỗi người chỉ một bát cơm), song ông luôn dành cho con chó một nửa bát. Con chó hình như cũng hiểu được điều này. Nó trở nên nhút nhát hơn, cảnh giác hơn với mọi người. Nhưng với cha tôi, nó cứ luẩn quẩn bên chân ông. Khi ông ra đìa, nó luôn đi theo ông như hình với bóng. Còn những lúc ông đi làm xa, không cho nó đi theo thì nó ra đầu thềm nhà nằm ngóng ra cổng, chờ cho đến khi nào ông về, nó nhảy xổ ra, mừng rối rít rồi theo ông vào nhà !
Khoảng chừng hai năm sau, kinh tế gia đình tôi khá giả hơn trước. Con chó cũng lớn hơn, khỏe ra, mượt mà, rất đẹp. Nó luôn luôn theo sát cha tôi, không rời nửa bước. Vào một buổi trưa cuối mùa hè, cha tôi ra đìa để vớt bèo lục bình về làm phân xanh. Cái đìa này lầy bùn, cỏ và cây dại mọc dày đặc từ hàng trăm năm nay. Dưới gốc rễ cây đan quyện vào nhau như những tấm lưới thép, tạo thành những hang hốc sâu đầy bùn. Ở dưới đó, rất nhiều lươn và cá trê lưu cữu to bằng bắp chân người lớn. Đôi khi người ta còn bắt được cả rái cá, kỳ đà. Nhưng không một ai có thể tưởng tượng ra dưới cái đìa rậm rạp đó lại có một con trăn hoang to như một cây tre bương, dài cỡ 3 mét, sống lâu năm và chắc nó cũng đã ăn hết cả mấy tạ cá dưới đìa.
Hôm đó cha tôi lội dưới bùn vớt những đám bèo dày đặc vứt lên bờ. Đến gần gốc một cây vạy, ông nhìn thấy đuôi một con trăn lớn thò ra. Cha tôi quyết định bắt sống hoặc đánh chết con trăn này. Ông chộp lấy đuôi con trăn, đạp hai chân vào gốc vạy, kéo con trăn ra ngoài. Con trăn chống cự. Khi bị lôi ra khỏi hang, nhanh như một tia chớp, con trăn cong người cắn chặt vào bắp chân cha tôi. Ông ngã ra bờ đìa và kêu lên một tiếng sợ hãi. Ngay lúc đó con chó không kịp sủa một tiếng nào, nó nhảy bổ vào, cắn vào cổ con trăn và dính liền hàm răng vào đó, như không bao giờ muốn nhả ra nữa. Con trăn quật mình cuốn chặt lấy thân con chó. Chỉ bằng một cú núc, nó làm con chó gãy đôi xương sống ! Mõm con chó vẫn cắn chặt vào cổ con trăn. Hai bên mép nó ứa ra hai dòng máu và ở lỗ hậu môn lòi ra một đống phân nhão ! Cha tôi đã ý thức được sự nguy hiểm, ông vớ lấy con dao quắm mang theo để chặt cây, nhằm vào đầu con trăn chém rất mạnh. Con trăn chỉ quằn quại được một lát, nó mềm nhũn ra và bất động. Cha tôi cứ để máu ở chân chảy ròng ròng, ông quay ra cố gỡ mõm con chó ra khỏi cổ con trăn và ôm chặt nó vào lòng. Nhìn thân mình con chó ướt sũng, bê bết bùn, mềm ẹo, mắt nhắm nghiền, cha tôi khóc. Ông nghĩ rằng nó đã chết. Cha tôi mang con chó về nhà, tắm, lau khô và để nó nằm vào một cái nong đặt ở cuối thềm. Ông bảo tôi đi tìm một cái thùng gỗ, đặt con chó vào và mang nó đi chôn. Khi cha tôi nhấc nó lên, định cho nó vào hòm thì đôi mắt nó mở hé ra và chớp. Cha tôi mừng quá, sai tôi đi tìm ông lang Tá về băng, bó nẹp cố định xương sống cho nó. Xong xuôi mọi việc, cha tôi mới thấy đau ở bắp chân. Ông ngồi xuống bậc thềm, để cho ông lang rửa sạch, sát trùng, bôi thuốc và băng bó vết thương.
Buổi chiều, ông bảo mẹ tôi nấu một nồi cháo gạo, rồi đập hai quả trứng gà vào quậy đều. Đây là một món ăn sang trọng để tẩm bổ mà gia đình tôi rất ít khi được ăn. Ông múc cháo ra tô, chờ nguội và vuốt ve dỗ dành cho con chó ăn. Nó nằm im, đôi mắt ướt nhìn cha tôi, nhưng không ăn một miếng nào. Cả xóm tôi đem con trăn ra làm thịt chia nhau, ai cũng khen con chó quá khôn, nhưng không ai tin rằng nó còn có thể sống thêm được vài ngày nữa. Nhiều người bảo mẹ tôi đem con chó ra mà thịt, kẻo để nó chết uổng phí của trời ! Chỉ riêng cha tôi không nghĩ thế. Ông luôn tin rằng con chó sẽ sống cùng ông, và nếu chẳng may nó chết, ông sẽ đem chôn nó như chôn một con người !
Khoảng hai tháng sau, với sự chăm sóc của cha tôi, con chó đã bình phục. Tuy nhiên vì xương sống của nó bị gãy nên hai chân sau hoàn toàn bị liệt. Mỗi lần đi, nó chỉ dùng hai chân trước chống xuống đất và lết trên đầu gối của hai chân sau. Điều làm cả nhà tôi ngạc nhiên, từ khi con chó đi được theo kiểu lê lết, nó chỉ gặp khó khăn trong khoảng một tháng đầu. Sau những ngày ấy, nó lết nhanh không kém gì những con chó bình thường.
Từ dạo đó, cha tôi cưng con chó như con. Một suất cơm đạm bạc và ít ỏi của ông, bữa nào cũng được chia làm đôi. Thảng hoặc, ngày nào có một hai miếng thịt, cha tôi cũng dành cho nó một phần. Con chó rất khôn, hình như nó biết tất cả mọi điều đang diễn ra xung quanh. Nó không bao giờ quấy rầy chúng tôi. Nhưng với cha tôi, nó quấn quýt, liếm láp chân tay, không muốn rời ra nửa bước. Ban đêm ông nằm ngủ, nó nằm dưới chân giường. Hình như chỉ như thế thì cả chó và người mới thấy yên tâm !.
Cuộc sống như vậy trôi đi. Cả nhà tôi luôn biết ơn con chó và gần như ngày nào cũng nhắc đến chuyện con trăn ! Cho đến tháng hai năm 1959, nhà tôi có đại tang. Cha tôi bị một cơn bạo bệnh rồi qua đời ! Tôi còn nhớ như in, hôm đưa ma cha tôi, trời mưa tầm tã, rét lắm, nhưng người đi đưa rất đông. Anh chị em, chú bác, cô dì, dòng họ ai cũng khóc như mưa. Không mấy ai để ý trong dòng người đông đúc đó, con chó liệt cũng có mặt.
Nó ướt lút thút như chuột lột, rét run lẩy bẩy, cố lết trên đôi chân liệt, len lỏi giữa dòng người than khóc sướt mướt trong đám tang. Không ai hình dung ra được con chó liệt đó có thể đi theo đám tang ra tận nghĩa địa, nơi chôn cất cha tôi, và sau đó bằng cách nào nó lại tự lê lết về nhà ? Chỉ đến khi trời tối mịt, thắp đèn lên, mới tìm thấy nó nằm sâu trong gầm giường, bộ lông hãy còn ẩm ướt và đôi mắt buồn rầu khó tả, cứ nhìn đi đâu đó, như hướng về một cõi nào mơ hồ nhưng ở đâu xa lắm...
Sáng hôm sau, cúng cơm cho cha tôi xong, chúng tôi gọi chó ra cho nó ăn. Không còn thấy nó nằm trong gầm giường nữa. Nó đã lết ra đầu thềm tự khi nào, nằm quay đầu ra cổng ngóng chờ xem một ngày nào đó liệu cha tôi có trở về ? Tôi bế nó vào nhà, vỗ về và dỗ dành cho nó ăn, nhưng tuyệt nhiên nó không đụng vào bất cứ thứ gì. Tôi đem mấy miếng thịt lợn luộc, những thứ mà ngày thường nó vô cùng thích ăn. Nó quay đầu ra chỗ khác. Tôi đặt nó trở lại gầm giường. Nó không chịu nằm yên, lại lết ra đầu thềm, nằm ngóng ra cổng, kiên trì chờ đợi và im lặng như một mô đất.
Sau hơn một tuần lễ con chó nhịn ăn như thế, nó gầy rạc đi. Cả nhà bận cúng tuần cho cha tôi, nhưng ngày nào tôi cũng để tâm và dỗ dành, hy vọng nó ăn lấy một chút. Nhưng nó không màng.
Rồi một buổi sáng tinh mơ, trời còn đầy sương và se se lạnh, chúng tôi ra nghĩa trang thắp nhang và đặt tấm bia đá trên mộ cha tôi. Tất cả mọi người đều kinh ngạc đến mức không còn tin ở mắt mình : Con chó liệt đã nằm chết trên mộ cha tôi tự bao giờ, hai chân trước chồm lên ôm lấy ngôi mộ, hai chân sau bại liệt như đang quỳ, cơ thể nó đã cứng đơ, đôi mắt nhắm nghiền, thanh thản, nhưng dường như còn hơi ươn ướt...
Chúng tôi trở về nhà đóng một cái hòm gỗ, khâm liệm con chó tử tế và chôn nó dưới chân mộ cha tôi... Tôi cắm mấy nén nhang lên ngôi mộ nhỏ bé này, lòng miên man nghĩ ngợi : Không biết giờ này linh hồn cha tôi đang phiêu diêu bên trời Tây cực lạc, Người có biết con chó đầy ân tình và tội nghiệp của Người đã mãi mãi đi theo Người...

Khổng Văn Đương

THỦY TÁNG (NGUYỄN THỊ THÊM)

 

Thủy Táng

 

Tôi viết bài này để chia sẻ với quý bạn về một sự kiện trong đời tôi - ngày tôi thả tro cốt chồng về biển. Chỉ là một bịt tro nho nhỏ nhưng đó là di tích của người chồng quá cố. Là một con người đã từng sống và chiến đấu cho lý tưởng tự do. Là cha của những đứa con, cho chúng hình hài và trí tuệ để vào đời. Tôi thả tro cốt chồng vào sóng biển là mất tất cả những gì hữu hình thuộc về anh. Bài viết này cũng chia sẻ với quý bạn về hình thức thủy táng tro cốt mà trước kia tôi cũng chưa bao giờ biết.

 

.......

 

Những ngày cuối đời chồng tôi có di nguyện là sau khi chết được hỏa tiêu và đem tro cốt rải biển. Tôi dự định để tro cốt chồng tại chùa, sau ba năm mãn tang tôi sẽ thực hiện nghi thức đó.

 

Chúng tôi ở gần chùa Phật Tuệ nên thường xuyên đến lễ bái nghe kinh và làm công quả. Khi ông xã tôi vừa tắt hơi, thầy Quảng Trí và các sư cô đã có mặt để tụng kinh siêu độ cho anh ấy. Thầy và các Sư Cô đã thực hiện các nghi thức Phật giáo cho gia đình tôi trong những ngày tang lễ. Tôi xin phép Thầy được để hũ tro cốt anh tại chùa Phật Tuệ để tôi được thường xuyên đến thăm viếng và tụng kinh hồi hướng cho anh.

 

Ba năm đã qua, thầy đã làm lễ xả tang cho tôi nhưng dịch Covid 19 không cho phép tôi thực hiện di nguyện của chồng. Chùa nhỏ, thầy lại có lòng từ bi. Gia đình ai có người mất cần thầy đến làm lễ là thầy đi liền không kể giàu nghèo, xa gần. Những gia đình neo đơn, khó khăn thầy giúp đỡ tận tình, đem tro cốt hình ảnh về chùa thờ và cúng 7 thất nghiêm túc dù thân nhân có mặt hay không. Mỗi chủ nhật cúng vong các sư cô chuẩn bị cơm chay đầy đủ. Tang chủ không cần trả một đồng nào, miễn có mặt để làm lễ là chùa đã vui.

 

Tôi đến chùa nhìn trên bàn thờ vong, những hũ tro cốt mỗi ngày mỗi nhiều để chật cả bàn thờ trong lòng vô cùng áy náy. Tôi dò hỏi nhiều nơi nhưng do dịch bệnh, không chùa nào tổ chức mướn tàu đem tro rải biển hết. Bàn với thầy, thầy cũng bó tay vì thầy chưa tổ chức lần nào, hơn nữa trong thời kỳ cách ly phải đành chịu vậy thôi. Thầy nói:" Nếu có chùa nào tổ chức thì cô ghi tên và đem tro cốt chú rải biển. Cô cho thầy biết để Phật Tử nào để tro cốt ở chùa muốn đem đi thì họ tháp tùng luôn."

 

Vào đầu tháng 5 nhiều người đã chích ngừa xong hai đợt vaccine, chùa Bát Nhã ra thông báo sẽ tổ chức mướn tàu đem tro cốt thủy táng vào ngày thứ bảy 14/8/2021. Cũng là cái duyên, tôi bất ngờ đọc được thông báo đó và tôi liên lạc liền với chùa Bát Nhã xin được tháp tùng.

 

Chùa Bát Nhã là một ngôi chùa lớn nằm trên đường West first St ,Santa Ana do Hòa Thượng Viện Chủ Thích Nguyên Trí sáng lập. Chùa đã có mặt tại Orange County miền Nam Cali trên 20 năm nay. Vì là ngôi chùa có nhiều uy tín nên rất nhiều gia đình Phật Tử thỉnh quý chư tăng làm lễ khi có tang sự. Thân nhân cũng gửi hình ảnh và bình tro cốt tại chùa để hương linh nghe kinh và gia đình đến cúng bái. Do đó khu vực thờ vong chùa Bát Nhã rất rộng, mấy dãy bàn dài trang nghiêm đầy hình ảnh những Phật Tử đã quá vãng. Bên sui gia tôi những người thân đã mất đều gửi ở chùa này cúng bái hàng năm.

 

Mỗi năm chùa đều tổ chức một đợt thủy táng tro cốt cho thân nhân những gia đình Phật Tử tại chùa. Nếu Phật Tử bên ngoài muốn ghi tên thủy táng thân nhân chùa cũng hoan hỉ. Do dịch Coronavirus, chùa đã ngưng tổ chức thủy táng hơn một năm rồi. Cho nên lần này số lương người tham dự ghi tên rất đông.

 

Theo thông báo, thân nhân muốn đem tro cốt thủy táng phải đến chùa nhận đơn về điền. Theo số phone ghi trên thông báo, tôi gọi đến xin liên lạc với Phật Tử Từ Tâm Xả là người phụ trách phát và nhận đơn. Rất vui vẻ và nhiệt tình cô cho biết sẽ có mặt vào ngày chủ nhật hàng tuần. Cô khuyên tôi nên đến sớm để có chỗ đậu xe vì cuối tuần Phật Tử đến chùa rất đông. Cô cũng chỉ nơi đậu xe nhờ nếu đến trễ parking không còn chỗ.

 

Hai mẹ con tôi đến chùa Bát Nhã vào ngày 9/5/2021, văn phòng tiếp đơn nằm sau lưng chánh điện. Người tiếp tôi là Phật Tử Từ Tâm Xả, một phụ nữ trung niên xinh đẹp và hoạt bát. Sau khi nghe tôi trình bày cô đưa cho tôi một mẫu đơn:

 

ĐƠN GHI DANH XIN THỦY TÁNG TRO CỐT CHO THÂN NHÂN.

Tên họ, pháp danh, địa chỉ, số phone người đứng đơn

Tên họ, pháp danh, ngày tháng năm sinh và ngày mất của hương linh và quan hệ gia đình.

 

ĐẠI LỄ TRAI ĐÀN THỦY TÁNG TRO CỐT sẽ tổ chức vào ngày thứ bảy 14/8/2021 (nhằm ngày 7 tháng 7 năm Tân Sửu)

Lệ phí thủy táng một tro cốt là 200$

Lệ phí một thân nhân tham dự trên tàu là 80$ (Tôi đi 2 người)

 

Tùy hỷ công đức phát bồ đề tâm sửa mái chùa Bát Nhã bị dột ướt:

Tôi ký tên và ký check trả tiền ngay lúc đó. Cô Từ Tâm Xả viết biên lai cho tôi và bỏ check vào hộp tiền trước mặt.

Muốn biết thêm chi tiết tôi có thể gọi số phone về chùa Bát Nhã, số phone Ni Sư Huệ Chiếu và Phật tử Từ Tâm Xả.

Theo quy định tôi phải mang hũ tro cốt của chồng tôi đến chùa Bát Nhã trước bốn ngày để Ban Tổ Chức lên danh sách, chuẩn bị thủy táng và ghi linh vị.

 

Tôi và con gái dự trù đem tro cốt đến chùa Bát Nhã vào ngày thứ hai (Là ngày off của con tôi). Tôi đã gọi phone cho Ni Sư Huệ Chiếu báo thời gian tôi đến chùa. Ngày lễ Phật Đản tôi đã xin phép thầy Quảng Trí sẽ đem thủy táng tro cốt của chồng. Trước đó mấy ngày tôi cũng gọi báo tin cho thầy và Sư Cô. Nhưng hôm đó thầy và các sư cô phải đi hộ niệm cho một đám tang ở xa nên không có mặt. Theo lời thầy dạy, hai mẹ con tôi đem hoa và trái cây đến chánh điện lạy Phật và đốt nhang ở bàn thờ vong xin thỉnh bình tro cốt của chồng đem đi.

 

Ôm bình tro cốt, nhìn hình anh ấy tôi thật sự mủi lòng không ngăn được nước mắt. Một con người giờ chỉ là một mớ tro bị gói kín khằn chặt trong một cái hũ như thế này.

 

Ngày nào áo trận súng mang

Ngày nào quân lính hàng hàng tiến công

Ngày nào vợ vợ chồng chồng

Ngày nào tù tội chờ mong ngày về

Ngày nào lìa xứ xa quê

Máy bay cất cánh não nề lệ sa.

Bây giờ rời cõi ta bà

Tấm thân tứ đại chỉ là nắm tro

Đi về từ cõi hư vô

Biển xanh, trời rộng rải tro tiễn người.

 

Trên suốt đoạn đường đi tôi niệm Phật nguyện cầu hương linh anh siêu thoát. Đời người ngắn ngủi, cuộc sống vô thường, tiền bạc của cải cũng chẳng mang theo được. Dù giàu sang đến mấy, tài giỏi danh vọng thế nào rồi cũng chỉ một mớ tro trong hũ hay một nấm mồ nằm đơn độc một mình. Ở nước Mỹ to rộng này, con cái vì công ăn việc làm như chim bay tứ hướng. Một nấm mồ nằm đó rồi thời gian qua, đời cháu, đời chắt cũng không ai nhớ đến. Thôi thì ta chỉ là một hạt bụi nhỏ trong vũ trụ bao la, ta về với biển, bay theo gió ngàn để nhẹ lòng con cái.

 

Đến không rồi lại về không

Phủi tay ta cũng nhẹ lòng âu lo

Không còn tranh chấp so đo

Mồ hoang mả lạnh đôi co phiền lòng

 

Thứ sáu 13/8/2021 các hũ tro cốt phải được đem hết về chùa Bát Nhã. Đêm đó có một buổi lễ cầu siêu cho tất cả hương linh sẽ đem đi thủy táng. Hũ hài cốt được mở ra và tro người chết sẽ chuyển vào túi nylon màu vàng đặt trong một cái giỏ nhựa bên trên có để hoa tươi. Giỏ được cột bằng những sợi dây dài. Thiết kế để thân nhân đứng trên boong tàu có thể thòng cái giỏ nhựa đó xuống gần tới mặt nước biển. Lúc đó thân nhân sẽ giật mạnh một đầu giây, hoa tươi lẫn tro cốt sẽ được hất tất cả xuống biển. Mỗi hương linh sẽ có một linh vị được đặt phía trước giỏ nhựa.

 

Ngày thứ bảy 14/8/2021 hai mẹ con có mặt tại chùa trước 8 giờ sáng. Mọi người đã đến khá đông. Những dãy bàn dài trước bàn thờ vong đã để đầy những giỏ tro cốt và bài vị. Linh vị nam một dãy, nữ một dãy. Thân nhân tới linh đường nhận diện giỏ tro cốt người nhà mình, linh vị viết đúng hay sai để chút nữa thỉnh đi ra xe bus.

 

8:10 am thầy gọi loa mời tất cả thân nhân đi thủy táng vào trong chánh điện. Chánh điện chùa Bát Nhã rất rộng, những tọa cụ đã để sẵn sàng ngay ngắn. Ban Tổ Chức gọi tên thân nhân và tên hương linh để kiểm tra, thông báo chương trình và thể thức thủy táng. Sau đó thầy và chư tăng cùng mọi người tụng kinh cầu siêu cho hương linh. Tiếng tụng kinh vang lên trong chánh điện, thầy xướng tên hương linh để cầu siêu và mời hương linh theo phái đoàn lên đường.

 

8:45 phút buổi lễ kết thúc. Thân nhân lần lượt qua linh đường nhận tro cốt và bài vị người nhà mình lên xe bus để ra bến tàu. Có 3 chiếc xe bus đã túc trực sẵn, mọi người lần lượt lên xe. Khi yên vị, mỗi người nhận được một ổ bánh mì chay và một chai nước. Ban trai soạn cũng có đem thức ăn làm sẵn đến bán trước khi xe chuyển bánh. Địa điểm lên tàu thủy táng hôm nay là 100 Aquarium way, Long Beach miền Nam Cali.

 

Xe đến nơi vẫn còn sớm vì theo hợp đồng 10 giờ mới được lên tàu nên mọi người ôm giỏ tro cốt và bài vị xếp hàng dài theo hành lang bến tàu. Nét mặt mọi người đều lộ vẽ đau buồn và trân trọng. Có gia đình đi 2 người để thủy táng một tro cốt. Có một anh một mình bưng hai giỏ và hai bài vị. Hỏi ra mới biết thân nhân người chết ở quá xa nên thuận tiện lo cho người nhà, anh nhận lời đi thủy táng dùm luôn. Có cô gái đứng tựa cầu tàu khóc mãi không thôi. Cô kể chồng cô mới chết đây vì Covid. Có gia đình đi khá đông thì ra có đến mấy bài vị, cha chết vì bệnh, con chết vì tại nạn. ...

 

Có một cô trung niên cứ nhìn vào giỏ tro cốt mà nói gì đó, thỉnh thoảng quẹt nước mắt thút thít khóc. Cô kể rằng cô và bên chồng không thuận thảo. Kể từ ngày chồng cô chết nhà chồng đổ lỗi tại cô, họ không cho cô đem thủy táng và cũng nặng nhẹ với cô lắm lời. Lần này cô cương quyết đem tro chồng đi rải biển. Cô không muốn chồng cô nghe mãi những tranh chấp hai bên.

 

Nước mắt cứ như mưa, rơi trên những nỗi buồn thế gian không bao giờ dứt. Sự tử biệt sanh ly chỉ có người tu hành giác ngộ mới có thể tĩnh lặng trong tâm. Còn chúng ta mất đi người thân là nỗi đau, nỗi buồn không thể nào nguôi. Nghe mọi người tâm sự, tôi cũng không nén được cảm xúc. Mỗi người mỗi hoàn cảnh, không có cái chết nào giống cái chết nào. Nhất là những cái chết trẻ bỏ lại vợ dại con thơ, cha mẹ già cần chăm sóc. Những cái chết vì dịch bệnh cũng thật tức tưởi nao lòng. Bây giờ mọi người chờ một chuyến tàu, hương linh chờ giờ được thả mình giữa biển khơi trôi về vô tận. Tôi nghĩ trong số những hương linh này có người đã từng vượt biển đi tìm tự do. Khi đến bến bờ, lao tâm, lao lực lo cho con ăn học thành người thành gia lập thất. Thời gian trôi qua, sức tàn lực tận trả lại cho thế gian thân tứ đại vô dụng. Xác thiêu thành tro và chờ giờ được thủy táng. Thân tro bụi trả về với hư vô. Xong một kiếp người.

 

Đoàn người xếp hàng chờ giờ lên tàu dài lắm, các chư tăng phụ trách ( đa số còn rất trẻ) đi tới đi lui dặn dò, nhất là nhắc nhở mọi người nên đi vệ sinh trước khi xuống tàu. Đã có hai chiếc tàu đã ra khơi, một chiếc đang cho một gia đình người Trung Đông xuống. Có lẽ họ thuê hẳn một chiếc tàu nhỏ để rải tro cốt người thân.

 

Gần 10 giờ, tăng đoàn và các Phật tử thiện nguyện xuống tàu trước. Những vật dụng được khiêng xuống và sắp đặt trang hoàng cho buổi lễ cầu siêu trên biển. Tuần tự từng người xuống tàu. Tôi và con gái ngồi ở một băng ghế sát thành tàu, trước mặt là một dãy bàn trang trí tượng Phật, bông hoa, trái cây và thức ăn chay để cúng linh. Mỗi người đặt bài vị thân nhân mình trên bàn thờ Phật. Một số người để giỏ tro cốt người thân mình lên bàn bên cạnh.

 

Vì số người hiện diện khá đông nên ghế ngồi không đủ, nhóm người trẻ chọn cách đứng để làm lễ. Ưu tiên những người lớn tuổi đều có ghế ngồi nghiêm chỉnh. Ghế được sắp làm nhiều dãy để Phật tử cùng ngồi cầu nguyện. Nhìn qua một lượt tôi đoán số lương tro cốt hôm nay đi thủy táng có khoảng trên 80 còn thân nhân trên tàu này chắc phải hơn 100 người.

 

Tàu nổ máy rời bến được một lúc, các chư tăng bắt đầu làm lễ . Tiếng mỏ, tiếng khánh, tiếng tụng kinh vang lên trên biển tạo một cảm giác thiêng liêng và xúc động. Các thầy tụng thời kinh cầu siêu và cúng vong khá dài. Các vị sư còn trẻ lại dùng loa nên âm thanh vang vọng trên biển vắng. Từng hương linh có mặt thủy táng hôm nay được xướng tên và mời về dự lễ. Tàu vẫn lướt sóng ra khơi, mọi người vẫn chắp tay niệm kinh vãng sanh và cầu nguyện. Tàu chạy ra khỏi bờ khá xa, thời kinh đã hết, thầy cho phép mọi người ôm giỏ tro cốt thứ tự lên boong tàu. Những người Phật tử thiện nguyện hướng dẫn mọi người cách thủy táng.

 

Tàu vẫn chưa dừng lại, tôi kiếm một băng ghế, ngồi ôm giỏ tro cốt cầu nguyện. Lòng tôi thật bùi ngùi nhớ tới anh. Không biết hồn sẽ về đâu, tro sẽ trôi đi đâu? Thủy táng như vậy có làm hài lòng người đã mất hay không? Tôi phân vân không biết mình đã làm tròn trách nhiệm với chồng chưa? đúng hay sai?. Thầm thì với anh, tôi xin anh tha thứ những lỗi lầm mà tôi mắc phải nếu có. Xin anh hãy an lòng ra đi và cầu nguyện mọi điều tốt đẹp, hạnh phúc cho anh ở kiếp sau.

 

Ngày nào vuốt mắt tiễn anh đi

Bây giờ đến lúc phải biệt ly

Nắm tro còn lại xin rải biển.

Bốn xá tạ từ dạ khắc ghi

 

Tàu dừng lại giữa biển, một số người đứng sẵn tại thành tàu đã được cho phép thủy táng tro cốt người thân. Các chư tăng vẫn niệm Phật vang vang trên loa. Tôi đứng dậy và cùng con gái đến bên thành tàu. Khoảng cách từ boong tàu tới mặt nước biển khá xa, con tôi thòng từ từ sợi dây cột giỏ tro cốt xuống. Một đầu sợi dây cột kèm được tôi giữ chặt. Khi giỏ hoa gần xuống tới mặt nước, con tôi hất mạnh sợi dây tôi giữ. Tro và hoa rơi vào lòng đại dương. Những cánh hoa trôi bập bềnh trên biển, tro nổi trắng một vùng rồi tan vào nước. Tất cả tro cốt nam nữ người lạ, người quen đều hòa tan với nhau không phân biệt. Mà có gì để phân biệt khi xả sạch bụi trần.

 

Một đời người, một túi tro.

Chao ôi! nặng nhẹ biết sao dò

Nặng oằn một kiếp bao vinh nhục

Nhẹ gánh càn khôn, nhẹ như tro.

 

Sau khi hoàn tất nhiệm vụ thiêng liêng của mình, hai mẹ con tôi đem giỏ không để chung vào một góc trên boong tàu, xuống thang về lại lòng tàu ngồi chờ. Trên bàn thờ Phật nhang vẫn thắp, chư tăng và Phật Tử vẫn niệm Phật không ngừng. Khi tất cả đã hoàn mãn, tàu nổ máy chạy về. Một số người vẫn ở lại trên boong tàu ngắm biển. Các Thầy mời mọi người dùng nước, trái cây và thức ăn trong không khí trầm mặc bùi ngùi. Tôi nuốt không vô dù đã đói.

 

Tàu về tới bến đậu lại. Những người trẻ phụ thu dọn và chuyển đồ đạc lên bờ tập trung chờ xe bus. Chúng tôi cầm theo bài vị thân nhân mình đem về chùa để cúng an vị linh. Vì không biết chỗ xe bus đổ người và đón người hai hướng khác nhau nên chúng tôi chờ khá lâu. Sau cùng phải băng qua đường mới lên xe về chùa. Về tới chùa Bát Nhã khoảng 1 giờ hơn, mọi người đem linh vị đặt lại ở bàn thờ vong để làm lễ. Ban trai soạn mời Phật tử ở lại dùng bún bò huế chay nhưng mẹ con tôi từ chối và xin được về trước để lo cúng ở nhà.

 

Ngày đem tro chồng rải biển là một ngày thiêng liêng đối với tôi và gia đình. Các con ở xa gọi về liên tục hỏi thăm tình hình và lo lắng cho mẹ. Tôi xin lỗi thân nhân bên chồng ở Việt Nam vì đã không đem thi hài hay tro cốt anh về nhập lăng như phong tục. Di nguyện của anh tôi phải thực hiện và tôi đã làm xong nhiệm vụ của mình.

 

Nguyện cầu hương linh anh siêu thoát.

Nguyện cầu mười phương Chư Phật gia hộ cho hương linh chồng tôi.

 

Bốn lạy tạ từ ta mất nhau

Thủy chung ta giữ trước như sau

Chút tro xin gửi vào lòng biển.

Thênh thang trời rộng vẫy tay chào.

 

Nguyễn thị Thêm