Wednesday, December 1, 2021

THÁNG MƯỜI HAI NHỚ BẠN (KIM LOAN)

 

THÁNG MƯỜI HAI NHỚ BẠN

 

Bốn đứa chúng tôi chơi rất thân, từ khi còn là giáo sinh Sư Phạm cho đến lúc ra trường mỗi đứa dạy một nơi nhưng vẫn gặp gỡ nhau thường xuyên vì hợp tính tình hay quậy phá, và có chút…máu điên.

Trong nhóm, tôi với Trang là hai đứa có sở thích đọc sách và “gu” nghe nhạc giống nhau. Gia đình Trang thuộc loại khá giả, ngoài căn nhà nó ở với ba má cùng hai đứa em ở khu Hàng Xanh, nó còn có nhà ông bà ngoại ngay mặt đường Hiền Vương sầm uất, (sau này là đường Võ Thị Sáu), đó là căn nhà lầu đúc 3 tầng kế bên tiệm giò chả Phú Hương thuở xưa, và một căn nhà trong hẻm lớn gần đó, đi bộ hai phút là ra phở Hoà Pasteur và viện Pasteur ngay đầu ngõ. Cả ba căn nhà này, tôi đã nhiều lần đến chơi, ăn dầm nằm dề những ngày cuối tuần, hoặc mùa hè rảnh rỗi …

Trang có nét đẹp đậm đà, đôi mắt to, lông mì dài, chiếc mũi cao xinh xắn, nhất là cặp lông mày dày và đen, dù trang điểm hay không, nó vẫn nổi bật nhất trong nhóm bốn đứa.

Nó cũng biết yêu sớm, với mối tình “high school sweetheart” kéo dài từ ba năm trung học cho tới lúc nó ra trường làm cô giáo. Long, người yêu của nó, là chàng công tử con nhà giàu nhất nhì khu cư xá Thanh Đa. Long học Đại Học Tổng Hợp môn Tiếng Anh vì chủ đích cùng gia đình chờ ngày qua Mỹ diện ODP. Long cao ráo, trắng trẻo và đẹp trai, ăn nói lanh lợi và rất có duyên.

Tôi hỏi Trang:

- Long sẽ đi định cư qua Mỹ, tụi bay tính sao? Tình đang rất đẹp và thơ mộng biết bao!!!

Nó buồn buồn:

- Thì Long hẹn tao ba năm sau, nếu tao không đi vượt biên thì Long sẽ quay về Việt Nam cưới tao.

- Úi, nghe sao xa vời và mong manh quá …

- Biết làm sao hơn khi hoàn cảnh như thế, mà thôi, đây cũng là thử thách cho cả hai đứa.

 

Ngày tiễn Long ra phi trường, theo lời Trang tả, là mưa ào ạt nhưng vẫn chưa nhiều bằng nước mắt của Trang. Chàng và nàng cứ đứng nắm tay không rời, Long bị loa phóng thanh phi trường gọi tên mấy lần mới dứt được nhau. Rồi nàng chạy xe thẳng về nhà tôi, nằm khóc vùi suốt buổi chiều.

Thư qua tin lại cho vơi nỗi nhớ nhung được khoảng một năm, thì cô bạn cũ thời trung học của cả chàng và nàng đi vượt biên qua trại tỵ nạn Bidong, Malaysia, sau đó qua định cư bên Mỹ chung thành phố với chàng. Ban đầu, cô bạn giữ lời hứa “chăm sóc” chàng giùm nàng, rồi sau đó tiện thể (dù không được nhờ vả), đã chăm sóc luôn cả trái tim và cuộc đời của chàng. Người ta bảo xa mặt cách lòng quả không sai, và lửa gần rơm lâu ngày cũng đã bén!

Thế là “thiệp hồng viết tên Anh và…con kia” đã gửi về Việt Nam cho nàng đúng vào những ngày rét mướt của Sài Gòn giữa tháng mười hai. Nhận tin sét đánh ngang tai, nàng khóc lóc vật vã hận đời (còn tin ai trên cõi đời này nữa chớ, khi mà người yêu và bạn thân rủ nhau phản bội bất ngờ!). Chúng tôi chẳng biết nói gì để khuyên lơn ủi an nó, ngoài việc đến thăm, đưa nó đi chơi cho khuây khoả. Tưởng vết thương lòng rồi sẽ nguôi ngoai, đùng một cái, chúng tôi nghe tin nó...“mất dạy”, bỏ trường lớp bỏ học trò, bỏ Sài Gòn trốn về Đà Lạt vì không chịu nổi sự cô đơn, lạnh lẽo của Mùa Noel đang đến. (Ở Đà Lạt không lạnh sao, con dở hơi!?).

Chúng tôi tá hoả, chưa biết tính toán sao, một đứa trong nhóm còn đổ thêm dầu vào lửa, bảo rằng:

- Đà Lạt là thành phố Tình Yêu của đôi lứa, nhất là mùa Noel, nó đến đó, cái “ Thành Phố Buồn, lắm tơ vương, cơn gió chiều lạnh buốt tâm hồn …” của ông Lam Phương khi đang thất tình, nó dám nhảy xuống hồ Than Thở lắm á!

Đứa kia cũng đồng tình:

- Đúng rồi! Người ta có Đồi Thông Hai Mộ còn nó sẽ là Đồi Thông Một Mộ…lẻ loi, tội quá!

Tôi cuống cuồng:

- Vậy thì ba đứa tụi mình phải lên ngay Đà Lạt giải cứu nó, mang nó về Sài Gòn …. 

 

Chúng tôi bàn qua tính lại vài ngày rồi quyết định đi lên thành phố sương mù, chấp nhận để lại Sài Gòn sau lưng, để lại “người thương” để đi tìm bạn. Đến ngày lên đường, thì đứa em nó chạy đến tìm tôi, báo tin:

- Chị Trang đã về nhà rồi mấy chị ơi!

Tôi vui mừng, thở phào nhẹ nhõm rồi đùa với em nó:

- Vậy là quá tốt! Té ra nó cũng nhát, chưa dám nhảy xuống hồ Than Thở, chắc sợ …lạnh, mà nó cũng chẳng biết bơi! Để chiều này tụi chị sẽ ghé thăm liền.

- Dạ không được rồi chị ơi!!

- Là sao??? Có chuyện gì nữa ?

- Chị ấy về chiều qua, người mệt mỏi rã rời, chẳng nói với ai lời nào, rồi đi nghỉ trong phòng. Đến tối chị ấy bảo đi ra đường cho khuây khoả, mà đến giờ vẫn chưa thấy về, gia đình em lo sợ quá chị ơi!!!

Mấy cái “chị ơi!!!” của thằng em nó làm chúng tôi thêm rối bời, hoang mang, âu sầu não nề giữa trời Sài Gòn hiu hiu gió lạnh.

 

Suốt cả tuần lễ sau đó, vào mỗi buổi chiều tối sau giờ đi dạy, ba đứa tôi đạp xe đi khắp nơi tìm nó. Đến nhà các người thân, bạn bè quen biết, đến các quán café mà nó và Long thường hẹn hò, thậm chí đến cả phi trường Tân Sơn Nhất …cũng chẳng có tăm hơi của nó. Thành phố lung linh muôn sắc màu của mùa Giáng Sinh đang tới, mà chúng tôi buồn so, rầu rĩ, mấy giai điệu nhạc Noel bỗng trở nên nhạt nhẽo không còn gợi chút cảm hứng lâng lâng như ngày nào. Có ai định nghĩa hết được Tình Bạn không? Bạn, một chữ ngắn gọn nhưng hàm chứa biết bao ân tình tuyệt vời, khó quên…

 

Cho đến hôm nay, khi tôi viết những dòng chữ này, thì nó vẫn độc thân, chưa bao giờ lập gia đình, sống một mình ở Sài Gòn, nhưng tâm trí vẫn đi…lang thang…

Năm 2009, tôi có về Sài Gòn, bạn bè mấy đứa gặp nhau đi ăn uống tâm tình, nó vẫn bình thường khi nói về những tháng ngày đi học vui vẻ, nhưng chỉ một lát sau, nó lại chuyển qua nói huyên thuyên những chuyện tầm phào, không đầu không đuôi, đầy hoang tưởng. 

Chúng tôi cố khuyên nhủ, đưa nó về thực tại, nhưng hễ nó bắt đầu hoang tưởng thì chẳng còn để ý đến xung quanh, cứ độc thoại một mình, khi nào xong mới thôi, không ai có thể cản nổi .

Ông bà ngoại và ba má nó đều đã mất, căn nhà ở Hàng Xanh cũng đã bán, hai đứa em trai nó có vợ con chia nhau ở căn nhà mặt tiền đường Võ Thị Sáu, còn nó được riêng cả căn nhà trong hẻm phở Hoà, gặm nhấm nỗi cô đơn với căn bệnh hoang tưởng ngày càng trở nặng !

Tháng Mười Hai lại về, ước gì nó đừng nghe tiếng vọng của quá khứ, đừng nhớ lại cái tháng Mười Hai oan nghiệt thuở nào, cái tháng làm nó trở nên điên dại, đớn đau, đi hoang để chúng tôi phải khổ sở đi tìm khắp các ngõ ngách Sài Gòn giữa những âm điệu bơ bơ tái tê của những bài nhạc Giáng Sinh thật buồn ....

 

Trang ơi! Tụi mình bốn đứa có chút “máu điên” cho đời thêm vui, sao mày lại điên thật??

 

Edmonton, 12/2021

KIM LOAN

ÁO TƯƠNG TƯ (ĐOÀN XUÂN THU)

 

Áo tương tư!

đoàn xuân thu

 

Áo xưa, em giặt, còn đây;

mà người giặt áo chân mây cuối trời!

 ***

 

Đò dọc, xuôi về quê em, ven biển,

xóm, làng em nghèo, nghèo trớt mồng tơi!

học trò anh, da mốc thích, mốc cời;

chân đất, đầu trần, chai sần ruộng rẫy!

Chập chùng sóng, biển, chiều buồn sóng bủa,

nhớ nhà, anh, chiều thui thủi… bến sông,

bến sông chiều, chiều tím, tím mặt sông

anh ngó, anh mong, trông về thành phố!

May mà có em! Ra sông giặt áo!

“giặt áo anh, được không? Thưa thầy giáo!

không giặt một lần, giặt suốt trăm năm.”

câu nói giỡn? Thâm trầm như ẩn dụ?

***

Ba mươi tháng tư, giặc chiếm Sài Gòn,

hấp hối tự do, gông cùm nô lệ!

đời tang tóc, khóc thiên đường cộng sản!

ăn độn sắn khoai, nói chuyện trên trời!

 

Đò dọc xuôi về ven biển; đào vong,

giã biệt bến sông, nơi em giặt áo,

anh tìm em, người giặt áo không công,

em đã đi khi đồng chung… yên bão!

***

Áo xưa em giặt, giờ anh vẫn mặc,

không mặc một lần, mặc suốt trăm năm!

áo rách rồi! Ai khâu vá cho anh?

tình ta tan vỡ ai hàn? Ai gắn?

***

Nhìn đau đáu, cửa biển mờ bóng khói,

dõi đăm đăm, sóng đang bủa, đang dồi…

áo bà ba, hoa cà, hòa biển tím

tình còn đây trời đày ta mất nhau!

 

đoàn xuân thu.

melbourne

THÁNG MƯỜI HAI MÙA HOA CẢI (NGUYỄN THỊ THANH DƯƠNG)

 

THÁNG MƯỜI HAI MÙA HOA CẢI.


Tôi tương tư một loài hoa dân dã ,

Tháng mười hai mùa hoa cải gọi mời ,

Cứ đong đưa đừng bay mất hoa ơi ,

Đừng theo gió bay về trời xa lắm.

 

Không về phố chợ cho người mua bán ,

Ai yêu hoa thì tìm đến nơi đây ,

Tôi gặp mùa hoa ở cuối chân mây,

Hoa cải vàng trên cánh đồng vô tận.

 

Gió chuyển mùa đông trời se se lạnh ,

Đi trong sương mù chợt thấy hoa vàng ,

Tưởng xa xăm khi tôi mộng thiên đàng ,

Hóa ra thiên đàng ở ngay trước mặt.

 

Hoa không trang điểm hội hè đình đám,

Hoa mọc hồn nhiên trên khúc đường quê ,

Bên bờ sông vắng hoa cải vàng mơ,

Cánh bướm chập chờn thành câu thơ đẹp.

 

Thơ có sẵn tôi không cần ghi chép,

Ngồng cải vươn cao khoe những đóa hoa ,

Đang mùa đông tôi cứ ngỡ xuân về ,

Không gian tình tự tôi vừa mười tám.

 

Tôi thả tóc gió hôn từng sợi tóc ,

Tôi mời gió phất phơ tà áo bay,

Tôi gọi mù sương của tháng mười hai ,

Cùng tôi đón chào một mùa hoa cải.

 

Hoa đẹp thế nhưng tôi không nỡ hái ,

Đời có gì là riêng của mình đâu ,

Chia với thế gian khoảnh khắc tâm đầu ,

Tình tri kỷ vì một mùa hoa nhé.

 

Mùa hoa ngắn ngủi nên tôi vội vã ,

Hôm nay yêu sợ mai sẽ phai tàn ,

Đi giữa rừng hoa tôi mặc áo vàng ,

Hoa cải về trời tôi buồn ở lại.

 

Nguyễn Thị Thanh Dương.

 


COI NHƯ GIỌT ẤY ĐÃ RƠI XUỐNG GIƯỜNG (NGUYỄN HÀN CHUNG)

 Nguyễn Hàn Chung

Coi như giọt ấy đã rơi xuống giường

con anh giờ đã ra người trẻ trai. (Hình: Thận Nhiên)

 

Bữa thôi nôi tuổi con rơi

tựu trung chỉ có mấy người rất thân

anh còn du hí phong trần

biết đâu một phút quây quần thành cha

 

Nuôi con ngày nắng tháng ba

ngày mưa tháng chín lụt và bão giông

nổi nênh con gái không chồng

có con. Quê kiểng cảm thông mấy người!

 

Hai mươi năm một giấc vùi

con anh giờ đã ra người trẻ trai

giống anh đôi mắt, dái tai

nói vo câu chuyện rất dài vẫn duyên

 

Hỏi cha, em dối quy tiên

hỏi mồ, em dối vượt biên gãy buồm

ảnh anh em cất trong buồng

cho con xem thấy nó buồn, tội kinh

 

Giờ anh yên ấm gia đình

nên con chỉ của một mình em thôi!


NGUYỄN THANH NGA - ĐÓA HỒNG GAI TRONG NGỤC TÙ CỘNG SẢN (THANH PHONG)

 


Nguyễn Thanh Nga – Đóa Hồng Gai trong ngục tù Cộng Sản

 

GARDEN GROVE –Nhiều người đã viết về chị Nguyễn Thanh Nga tức “Đóa Hồng Gai,” không những trên các báo chí Việt ngữ, ngay cả đạo diễn Beckie của hãng phim Principal (Anh Quốc) cũng đã phỏng vấn, chương trình Thúy Nga Paris by Night 90 cũng đã vinh danh chị với chủ đề “Chân Dung Người Phụ Nữ Việt Nam.” Chị đã viết hồi ký mang tên “Đóa Hồng Gai” và đã được nhiều nơi tại Hoa Kỳ cũng như Úc Châu mời đến nói chuyện.

Tuy chị Thanh Nga rất khiêm nhường, không muốn nhắc đến mình nữa, nhưng vào dịp tháng Tư, tháng Tưởng Niệm Quốc Hận, chúng tôi muốn nêu lại tấm gương anh dũng, bất khuất của một chiến sĩ Quốc Gia đã bị chế độ độc tài đảng trị Cộng Sản trả thù. Không chỉ mình chị mà hầu như cả gia đình chị, người bị bắn, người bị bỏ đói cho đến chết và bản thân chị trở thành phế nhân, nhưng tinh thần Quốc Gia, niềm tin tôn giáo đã vực chị dậy để chị có cơ hội làm chứng nhân về một chế độ dã man, tàn ác nhất trong thời đại chúng ta.

 

***

Chị Nguyễn Thị Thanh Nga chào đời năm 1952 tại xã Lộc Vĩnh, quận Thường Đức, tỉnh Quảng Nam trong một gia đình mà thân phụ cũng như các chú, bác và anh em ruột thịt đều phục vụ trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Xã Lộc Vĩnh quê chị là vùng xôi đậu, ban ngày rõ ràng là thuộc quyền kiểm soát của quốc gia, nhưng đêm xuống, Việt Cộng từ các vùng Hồ Bàu, Lộc Bình mò tới tuyên truyền, quyên góp tiền bạc, thu thuế hay khủng bố.

 

Vào mùa Xuân năm Giáp Thìn 1964, ba người chú ruột Nguyễn Khánh Ngọc, Nguyễn Khánh Sứ, Nguyễn Khánh Hưởng bị Việt cộng bắn chết. Người bác tên Nguyễn Khánh Thăng bị bắt dẫn đi thủ tiêu. Hơn một tháng sau, Thanh Nga tận mắt chứng kiến thân phụ mình là ông Nguyễn Khánh Cống cũng bị Việt cộng bắt trói dẫn đi khi cả nhà đang ngồi ăn cơm.

Thời gian sau một bạn tù sống sót được phóng thích đã tìm đến nhà kể cho gia đình chị nghe về số phận của ông cụ. Sau khi bị bắt, chúng đem ông vào rừng sâu, cột hai tay vào thân cây cùng với ông Phan Bài, cựu xã trưởng và ông Sính, không cho cả ba ăn, uống cho đến khi chết chúng hất xuống cái lỗ đã đào sẵn, rồi lại đến lượt hai người anh ruột là Nguyễn Khánh Trừng và Nguyễn Khánh Tỏa cũng bị công an Việt Cộng theo dõi và bắn chết tại nhà, một người chú khác là Nguyễn Khánh Nhẫn bị bắt đem đi mất tích.

 

Vào mùa Đông năm 1964, trong một cuộc giao tranh giữa quân đội VNCH và cộng quân, mẹ Thanh Nga trúng đạn, máu ra rất nhiều nhưng may mắn chuyển kịp lên bện viện Hội An cứu kịp, căn nhà của gia đình Thanh Nga cùng dân làng biến thành đống tro tàn sau trận chiến.

 

Trước nỗi đau khổ tột cùng, nhà cửa không còn, tài sản tiêu tan, người thân bị sát hại gần hết, năm 19 tuổi, Thanh Nga xin phép mẹ đi kiếm việc làm. Nhờ sự quen biết của người cậu và được sự giới thiệu của Đại tá Nguyễn Bỉnh Thuần, Thanh Nga được vào làm việc tại Nha Đại Diện Bộ Phát Triển Nông Thôn Quân Khu I. Sau thời gian ngắn, cấp trên thấy Thanh Nga có khả năng bén nhạy về tình báo nên chuyển Thanh Nga đến làm việc cho Văn Phòng Thường Trực Ủy Ban Phượng Hoàng Quân Khu I từ tháng 5 năm 1971 đến năm 1974 khi Nha Đại Diện Bộ Phát Triển Nông Thôn giải tán. Sau đó Thanh Nga chuyển về làm việc tại Tòa Thị Chính Đà Nẵng cho đến cuối tháng 3/1975 khi Đà Nẵng rơi vào tay Cộng quân.

 

Thanh Nga đã kể nỗi gian truân trên đường trốn chạy Việt cộng từ miền Trung vào Saigon, một cuộc hành trình vô cùng gian khổ mà thân gái yếu đuối như cô phải trải qua, thật khó có người con gái nào có thể chịu đựng nổi như Thanh Nga.

Vì hoạt động trong Ủy Ban Phượng Hoàng Quân Khu I, lại là người con trong gia đình bị Việt Cộng tàn sát gần hết, Việt Cộng nghĩ rằng, lòng hận thù chế độ Cộng sản của Thanh Nga khiến cô có thể làm những việc gây nguy hiểm cho chúng để trả thù. Hơn nữa, bắt được Thanh Nga, chúng sẽ khai thác cô về hoạt động của Ủy Ban Phượng Hoàng, tìm xem cơ sở nào của chúng đã đầu hàng phía Quốc Gia, ai đã chỉ điểm phá vỡ các ổ nằm vùng của chúng, vì thế ngay sau khi chiếm Đà Nẵng, chúng đã chỉ thị công an truy tìm Thanh Nga khắp nơi.

Phần Thanh Nga, trên đường chạy loạn, cô lạc mất mẹ và chị, một mình tìm mọi cách vào Saigon, băng rừng, lội suối, có lúc đi xe thồ, xe đạp, xe chở heo, cuối cùng cô cũng tìm đến được nhà người quen ở Hố Nai, và sau khi tìm hiểu, Thanh Nga gia nhập tổ chức Phục Quốc của Linh Mục Trần Học Hiệu, được giao nhiệm vụ theo dõi hoạt động của Việt Cộng trong vùng, và thuyết phục thanh niên theo kháng chiến phục quốc.

 

Từ Đà Nẵng, công an Việt Cộng theo dõi người thân trong gia đình Thanh Nga, và thật không may, chị ruột Thanh Nga không nghe lời em dặn. Khi biết em đang ở Hố Nai, người chị đã tìm đến thăm và không ngờ có công an theo sát. Thanh Nga bị bắt ngay và giải giao về lao xá Đà Nẵng. Thanh Nga bị tra khảo liên miên, bất kể ngày đêm, sau đó bị tống vào phòng “kiên giam“một căn phòng nhỏ xây kín, mái lợp tôn, không cửa sổ, không lỗ thông hơi, chỉ có một cửa ra vào luôn đóng kín, chỗ nằm là bệ xi măng cao khoảng 12 inches, ngang khoảng 30 inches, không mùng, màn, chiếu, gối. Hai chân chị bị cùm vào vòng sắt gắn vào bệ nằm. Ăn và tiểu tiện, đại tiện tại chỗ. Mỗi ngày có một tên đến mở cùm cho Thanh Nga đi đổ đồ dơ. Mỗi tuần cho tắm một lần nhưng có khi bọn cán bộ cho một tên tù hình sự cầm xô nước đứng ở cửa tạt mạnh vào người chị. Phân, nước tiểu bắn tung tóe vào người và chúng để mặc rồi khóa cửa bỏ đi. Mỗi ngày khẩu phần ăn là một chén cháo lỏng và một ly nước nhỏ. Theo Thanh Nga, cái khổ nhất trong phòng kiên giam là thời tiết, mùa đông thì lạnh cắt da, mùa hè thì nóng như thiêu như đốt, thân gái lại bị hành hạ mỗi tháng một lần về kinh nguyệt và đói khát triền miên nên chẳng bao lâu, thân hình chị trở thành tiều tụy chỉ còn da bọc xương. Nhưng Thanh Nga vẫn cố gắng chịu đựng và luôn cầu xin Thiên Chúa và Đức Mẹ Maria gìn giữ mình, miệng Thanh Nga luôn lẩm bẩm hát bài “Lạy Mẹ xin yên ủi chúng con luôn luôn. Mẹ từ bi xin phá những nỗi u buồn.” và chị sống được là nhờ niềm tin tôn giáo.

 

Sau 9 tháng trong kiên giam, công an Việt Cộng dùng đủ mọi phương thức hỏi cung, điều tra từ nhẹ nhàng đến thâm độc chúng đều bó tay trước tinh thần dũng cảm và sự khôn khéo, mưu lược của một người chiến sĩ Quốc Gia, một nữ tình báo Phụng Hoàng xuất sắc. Thanh Nga được ra khỏi phòng kiên giam và đưa đi khổ sai tại trại tù Tiên Lãnh, Tam Kỳ. Thanh Nga đã chứng kiến nhiều chiến sĩ Quốc Gia bị chúng đem xử tử vì đã tỏ thái độ chống lại chúng một cách tích cực như Đại úy Vũ Hoàng Thông (TSQ), anh Trần Quang Trân … và nhiều, rất nhiều chiến sĩ kiên cường khác.

 

Dù ra khỏi phòng kiên giam, đi lao động khổ sai, Nguyễn Thị Thanh Nga vẫn luôn bị theo dõi và hành hạ. Một hôm trong khi đang sốt nặng, chị bị bắt đi gánh lúa vào kho. Mỗi người phải gánh 40 kg lúa mỗi chuyến nhưng Thanh Nga chỉ có thể gánh 30 kg. Chị đang gắng sức gánh thì tên nữ cán bộ Trương Thị Thanh Tặng, vốn có ác cảm với chị, gọi Thanh Nga đứng lại và quở mắng, bảo chị chỉ lao động cầm chừng, tư tưởng chưa thông. Nghe tên này nói, Thanh Nga lẳng lặng gánh lúa đi không trả lời. Tên Tặng gọi giựt lại. Thanh Nga chưa kịp dừng chân thì y thị chạy tới kéo gánh của Thanh Nga lại khi chị đang gánh lúa lên dốc, mất thăng bằng, Thanh Nga ngã xuống hố.

 

Bọn cán bộ tới xem nhưng cho là Thanh Nga nằm ăn vạ nên chúng bỏ đi không xem xét, chữa trị. Đã thế, chúng còn cấm chị em bạn tù không được săn sóc, giúp đỡ chị. Nhưng các bạn đã lén lút giúp Thanh Nga qua cơn nguy biến. Từ đó, Thanh Nga không còn đứng dậy nổi, tiêu, tiểu tại chỗ. Nhờ chị em ngấm ngầm giúp đỡ, sáu tháng sau Thanh Nga đã chống gậy đi lại được, và cán bộ thấy chị như vậy, chúng bắt chị đi lượm rác. Thanh Nga không thể cúi xuống lượm từng cọng rác bỏ vào giỏ, chị ngồi bệt xuống đất kéo lê cái giỏ từ chỗ này qua chỗ khác. Hai tay phải chống gậy, chị không thể bê giỏ rác nên lấy sợi dây buộc vào cái giỏ rồi quấn vào tay kéo đi.

 

Đến tháng 12/1984 chân Thanh Nga đau nhức không chịu nổi, luôn bị cơn đau và cơn sốt hành hạ, không ăn uống được, lúc đó chúng mới cho chị đi bệnh viện. May mắn cho chị, khi đến bệnh viện Huyện Tam Kỳ rồi chuyển qua bệnh viện Đà Nẵng tuy mỗi nơi trước giường nằm của chị công an đều gắn tấm bảng: “Không được tiếp xúc với người này nếu không được phép của cán bộ.” Nhưng Thanh Nga được một số bác sĩ, y tá, y công nguyên là người của chế độ cũ nên đối xử rất tử tế và chăm sóc chu đáo cho chị. Tuy nhiên cả hai nơi không đủ phương tiện mổ và ráp xương gẫy cho chị, bác sĩ đề nghị chuyển chị vào Saigon nhưng bọn công an Đà Nẵng nhất quyết không cho, Thanh Nga bị giải giao trở lại trại tù Tiên Lãnh.

Thanh Nga không còn lành lặn, chân thấp chân cao, những cơn đau nhức hành hạ chị triền miên. Biết có tha về Thanh Nga cũng không còn sức để hoạt động chống lại chúng nên ngày 20 tháng 6 năm 1985, sau gần 10 năm trong ngục tù Cộng Sản, Thanh Nga bất ngờ nhận được giấy phóng thích. Nhưng ra khỏi nhà tù nhỏ Tiên Lãnh, Thanh Nga bước vào nhà tù lớn là nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

 

Cầm tấm giấy ra trại, chị bị chỉ định về cư trú tại Hố Nai trong khi gia đình Thanh Nga lúc đó ở Đà Nẵng. Thanh Nga đã vận dụng sự quen biết và dùng tiền của bạn bè hải ngoại gửi về giúp để mua chuộc được công an, xin lại được các bản sao giấy tờ trước đây đã làm việc với chính quyền VNCH để nộp hồ sơ xin đi Mỹ theo diện HO. Khoảng tháng Tư năm 1991 từ Saigon ra Đà Nẵng hỏi thăm giấy Hộ Chiếu, Thanh Nga gặp lại người bạn tù là Đại úy Đỗ Ngọc Nuôi, và qua sự móc nối, Thanh Nga gia nhập Mặt Trận Hoàng Cơ Minh để tiếp tục chống lại bọn Cộng sản. Thanh Nga đã hoàn thành xuất sắc một số công tác được giao, và tháng 11 năm 1992 Thanh Nga được xuất cảnh sang Hoa Kỳ theo diện HO 10 và hiện cư ngụ tại thành phố Garden Grove.

 

Trước khi chia tay, nhìn chị nhăn nhó vì đau đớn ở chân, chúng tôi hỏi sao chị không đi mổ. Thanh Nga cho biết, bác sĩ nói phải mổ, nhưng mổ thì có nhiều rủi ro hơn không mổ nên chị chưa dám quyết định. Hiện nay, mỗi ngày Thanh Nga phải đi chữa vật lý trị liệu, châm cứu và uống thuốc. Có những nơi chữa rất tốt như phòng mạch bác sĩ Đặng Huy Thiệu thì MediCal lại không trả tiền nên Thanh Nga phải trả tiền mặt mà tiền thì không có, phải trả tiền thuê nhà, tiền gas, điện, nước v.v… nên thật là nan giải. Nhưngchị tâm sự: “Nhìn lại cuộc đời của mình diễn biến như những phép lạ nối tiếp nhau, gian nan nào Nga cũng vượt qua hết nên ngày nào Nga cũng cầu nguyện, cảm tạ Thượng Đế về những gì Ngài đã làm cho Thanh Nga. Nga cũng cầu xin Ngài làm như vậy cho đồng bào của mình đang đau khổ trên quê hương Việt Nam.”

 

Thanh Phong/Viễn Đông

 

Nguồn: https://www.hoinvtncs-mg.de/archive/4433

 

AUDIO:

 

Đóa Hồng Gai – Hồi ký của Nguyễn Thanh Nga - Đoan Trang đọc.

(10 videos)

 

Đóa Hồng Gai - phần 1/10

https://www.youtube.com/watch?v=O8YoD1CFSa4&list=PLTzRMLq3e4Fkho7R3IYRYhzvth4pRVgmI

Đóa Hồng Gai - Phần 2/10

https://www.youtube.com/watch?v=sQyb_zq1hf8&list=PLTzRMLq3e4Fkho7R3IYRYhzvth4pRVgmI&index=2

Đóa Hồng Gai - Phần 3/10

https://www.youtube.com/watch?v=L9sn_ORD_J8&list=PLTzRMLq3e4Fkho7R3IYRYhzvth4pRVgmI&index=3

Đóa Hồng Gai - Phần 4/10

https://www.youtube.com/watch?v=Rh6LWmMmaV0&list=PLTzRMLq3e4Fkho7R3IYRYhzvth4pRVgmI&index=4

Đóa Hồng Gai - Phần 5/10

https://www.youtube.com/watch?v=aiBnnMTbS1A&list=PLTzRMLq3e4Fkho7R3IYRYhzvth4pRVgmI&index=5

Đóa Hồng Gai - Phần 6/10

https://www.youtube.com/watch?v=jeHdTG-sn2k&list=PLTzRMLq3e4Fkho7R3IYRYhzvth4pRVgmI&index=6

Đóa Hồng Gai - Phần 7/10

https://www.youtube.com/watch?v=ORheEx0g2rY&list=PLTzRMLq3e4Fkho7R3IYRYhzvth4pRVgmI&index=7

Đóa Hồng Gai - Phần 8/10

https://www.youtube.com/watch?v=qiahaK1Gzqg&list=PLTzRMLq3e4Fkho7R3IYRYhzvth4pRVgmI&index=8

Đóa Hồng Gai - Phần 9/10

https://www.youtube.com/watch?v=2gO0X8Atzfc&list=PLTzRMLq3e4Fkho7R3IYRYhzvth4pRVgmI&index=9

Đóa Hồng Gai - Phần 10/10

https://www.youtube.com/watch?v=RboXW9r2iCU&list=PLTzRMLq3e4Fkho7R3IYRYhzvth4pRVgmI&index=10

-----o0o-----


TỰ TRUYỆN & RU GIẤC NGỦ SAY (TRẦN VĂN SƠN)

 


 TỰ TRUYỆN.


“…Con chào đời tháng tư bảy mươi lăm
Anh hai con chưa đầy hai tuổi rưỡi
Ba mẹ con bị ném lên vùng kinh tế mới
Ngôi nhà từ đường đảng xẻ thịt phanh thây 

…Mẹ gánh hai con mỗi đứa một đầu
Thất thểu đêm ngày trốn về thành phố
Chiếu đất màn trời đầu đường xó chợ
Mưa nắng che thân ống cống gầm cầu 

Ba-mẹ-con bị bắt nhốt vào tù
Tội duy nhất đảng cướp nhà bịt miệng
Con khát sữa khóc la khản tiếng
Bầu vú khô mẹ vắt kiệt tia máu cuối cùng 

Bạn tù thương pha nước lã muối đường
Đứa con lớn gặm khoai sùng ngộ độc
Mẹ thoi thóp ôm hai con khóc ngất
Cấp cứu rền vang tiếng vọng hư vô… 

…Ba ra tù tháng mười một tám mươi ba
Chín năm khổ sai ba miền Nam-Trung-Bắc
Gia đình ta sống tiếp đời khổ nhục
Hành khất trời, hành khất đất Phương Nam 

Hành khất dung thân ở cuối đường hầm
Tia nắng rọi nhắc ba mặt trời vẫn mọc…”
(“Tự Truyện” – trang 135, 136, 137)

Khi Trần Văn Sơn ra tù, trở về quê quán với hình ảnh bi thương: 

“Cõng con dắt vợ leo đồi
Phá rừng làm rẫy cất chòi tịnh tâm
Vợ con tắm vũng trâu nằm
Lưng gùi tay rựa quanh năm cuốc cày
Đầu trần chân đất hôm nay
Mai sau rồi cũng bóng mây lưng đèo”
(“Lên Rừng Làm Rẫy” – trang 213)

Qua bao thăng trầm, đắng cay của cuộc sống, gia đình Trần Văn Sơn đã được qua Mỹ. Đời sống dần dần sáng sủa, hai con học hành thành đạt, có công ăn việc làm. Anh đã thấy bình yên và bằng lòng với cuộc sống hiện tại. Anh nhìn lại đời mình, và tự mình tìm đến Phật Giáo, như một hướng đi mới của tâm linh.

Đọc “Ru Giấc Ngủ Say” (trang 104) của Trần Văn Sơn để thấy: 

“Sư cụ ơi, cho con xin đốm lửa
Soi tờ kinh lần tràng hạt nam mô
Rừng u tịch lũng sâu vang tiêng mõ
Chỗ con nằm phiến đá mọc bên hồ 

Sư cụ ơi, cho con xin nắm đất
Trước sân chùa con gieo hạt nhân sinh
Chuông vọng nguyệt nuôi mầm hoa bất tử
Chim chóc họp đàn tĩnh lặng nghe kinh 

Sư cụ dạy con chữ Nhẫn vỡ lòng
Khắc trên đá cùng chữ Tâm cứu rỗi
Gốc bồ đề ngàn năm rễ tủa hình rồng
Bầy thỏ bạch dựa lưng chắp tay sám hối   

Sư cụ dạy con quên cái nhớ trong đầu
Nhớ cái có vầng trăng soi bóng nước
Mỗi buổi sáng con nhìn con lần cuối
Ngày qua ngày tịnh cốc khuất chân mây 

Con học thuộc lòng trang kinh Phổ Độ
Hiểu chưa thông một chữ Ngã vô thường
Sư cụ dạy con mỗi tối niệm hương
Khêu ngọn bấc lung linh ngôi tam bảo 

Con thiền định lòng vẫn còn phiền não
Tụng Phổ Môn chưa thanh tẩy nợ đời
Quẩy nước lên đồi mơ ngày xuống núi
Tưới luống rau thương sĩ khí một thời 

Sư cụ dạy con nhặt lá vàng rơi
Gom một chỗ ủ phân nuôi cây lá
Trên sườn non có một bầy tượng đá
Tướng cướp buông đao kinh động núi rừng 

Con u mê cõng nghiệp chướng trên lưng
Vất bỏ nó sợ thành hình nhân rỗng
Sư cụ dạy con đong đưa nhịp võng
Ru giấc ngàn năm dưới gốc bồ đề.”


Đọc đến cuối những bài thơ của Trần Văn Sơn, tôi mới hiểu ra chữ “Hồi Sinh” mà tác giả dùng làm tựa đề tuyển tập thơ-văn này.

Nhà thơ Trần Văn Sơn sinh dưới chân Lầu Ông Hoàng, Phú Hải, Phan Thiết, Bình Thuận. Hội viên Hội Văn Nghệ Sĩ Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Cộng tác với báo chí: Văn, Nghệ Thuật, Khởi Hành, Phổ Thông, Khai Phá, Thế Đứng…

Bìa tuyển tập thơ văn “Hồi Sinh” của nhà thơ Trần Văn Sơn là tranh của họa sĩ Nguyễn Đình Thuần, do Bạn Văn Nghệ xuất bản năm 2020, tại Hoa Kỳ.

 

Sách dày 340 trang, in trên giấy vàng dày, tốt. Trình bày trang nhã, đẹp mắt.

Địa chỉ liên lạc: Email: tvson1945@gmail.com; điện thoại: (657) 944-8309.