Wednesday, May 4, 2022

BA LẦN ĐỔI TIỀN SAU 30/04/1975

 

Ba lần đổi tiền sau 30/4/1975

1/ Đổi tiền ngày 22/9/1975

Ngày 3/5/1975 chính quyền cách mạng tiếp quản NHQG của chính quyền Sài Gòn và vẫn sử dụng đồng tiền của chế độ cũ trong lưu thông để không gây rối loạn trong lưu thông tiền tệ ở miền nam những ngày đầu giải phóng. Ngày 6/6/1975 - 5 tuần sau ngày giải phóng, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã ra Nghị định số 04/PCT - 75 về thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam do Ông Trần Dương làm Thống đốc và thông qua danh nghĩa để thừa kế vai trò hội viên của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam cũ của Việt Nam Cộng hòa này trong các tổ chức tài chính quốc tế như: IMF, ADB, WB.

Tiếp theo, đài phát thanh yêu cầu người dân phải về nhà trước 23 giờ ngày 21/9 để đợi thông báo quan trọng. Lúc 2 giờ ngày 22/9/1975, đài loan tin về quy định đổi tiền và kéo dài thời gian giới nghiêm đến 11 giờ sáng. Thời gian đổi tiền sẽ bắt đầu vào lúc 11 cho đến 23 giờ cùng ngày, tức chỉ có 12 giờ đồng hồ để hoàn thành việc thu và đổi tiền. Thể thức:

- Từ Quảng Nam, Đà Nẵng vào nam thì hối suất là 500 đ VNCH = 1 đ tiền CHMNVN.

– Từ Thừa Thiên Huế trở ra Bắc thì hối suất là 1000 đ VNCH = 3 đ tiền CHMNVN.

Tỉ lệ hối đoái:

1 USD = 1,51 đ CHMNVN (Cộng Hoà miền nam Việt Nam)

1 USD = 2,90 đ NHVN. (Ngân hàng Việt Nam)

Mỗi gia đình được đổi 100.000 đồng VNCH ra thành 200 đồng CHMNVN để tiêu dùng thường nhật (300 đồng ở Thừa Thiên). Tiểu thương có thể đổi thêm 100.000 đồng nữa. Những xưởng lớn thì hạn là 500.000 đồng. Số tiền còn lại, tối đa là 100.000 cho một gia đình và 1.000.000 đồng cho công xưởng thì phải ký thác vào ngân hàng.

Ở miền Bắc, 1 đồng giải phóng đổi 1 đồng thống nhất, ở miền Nam 1 đồng giải phóng đổi 8 hào thống nhất. Đồng thời nhà nước cũng phát hành thêm các loại tiền 5 hào, 1 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 20 đồng, 30 đồng, 50 đồng, 100 đồng. Sau đó, từ đầu năm 1976, các gia đình có tiền đổi được phép rút 30 đồng mới mỗi tháng. Tuy nhiên đến tháng 12/1976 thì dân chúng không được rút tiền nữa.

2/ Đổi tiền ngày 3/5/1978

Sau khi thống nhất Việt Nam năm 1976, ngoài mục đích thống nhất tiền tệ giữa hai miền Nam Bắc, đổi tiền lần này được coi là một trong những phương thức tiến hành cuộc cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam Việt Nam. Với quyết tâm xóa bỏ hình thức kinh tế tư bản hiện hữu tại miền Nam, chính quyền mới đã thực thi mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa trên cả nước.Theo sắc lệnh của thủ tướng mang số 88 CP ký ngày 25/4/1978 thì lệnh đổi tiền này được giữ kín đến ngày 3/5, đến lúc đó mới công bố toàn quốc. Ở miền Bắc, một đồng mới trị giá bằng một đồng cũ (tiền phát hành năm 1958); ở trong Nam, một đồng mới bằng 0,80 đồng cũ (phát hành năm 1975). Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử cận đại cả nước Việt Nam chỉ dùng một mẫu tiền chung.

Dân thị thành được đổi tối đa:

- 100 đồng cho mỗi hộ 1 người;

- 200 đồng cho mỗi hộ 2 người;

- Hộ trên 2 người thì người thứ 3 trở đi được đổi 50 đồng/người;

- Tối đa cho mọi hộ thành phố bất kể số người là 500 đồng.

Dân quê được phép đổi theo ngạch sau:

- 100 đồng cho mỗi hộ 2 người ;

- Hộ trên 2 người thì người thứ 3 trở đi được đổi 30 đồng/người;

- Tối đa cho mọi hộ dưới quê bất kể số người là 300 đồng.

Số tiền đang có trên mức tối đa phải khai nộp và ký thác vào ngân hàng. Khi cần dùng có lý do chính đáng thì tiền đó có thể rút ra. Một điều buộc nữa là trương chủ phải chứng minh số tiền này là tiền kiếm được bằng sức lao động chân chính.

3/ Đổi tiền ngày 14/9/1985

Ngày 12/9/1985, báo Tuổi Trẻ đăng tại trang nhất: Bẻ gãy thủ đoạn tung tin đổi tiền của gian thương và đã viết: Với sự tăng cường hiệu lực của bộ máy chuyên chính vô sản mọi hậu quả tin đồn phải được thanh toán triệt để. Thế nhưng chỉ hai ngày sau, sáng sớm 14/9/1985, hệ thống phát thanh, truyền hình và báo chí trong cả nước bất ngờ đưa tin thời sự nóng hổi Đổi Tiền. Nhà nước công bố đổi tiền theo tỷ lệ 10 đồng tiền NHNN cũ ăn 1 đồng tiền NHNN mới phục vụ cuộc cách mạng về giá và lương. Mỗi gia đình chỉ được đổi 20.000 đồng cũ lấy 2.000 đồng mới; mỗi người độc thân chỉ được đổi 15.000 đồng cũ lấy 1.500 đồng mới; mỗi hộ kinh doanh công thương nghiệp chỉ được đổi 50.000 đồng cũ lấy 5.000 đồng mới. Nhà nước đã cho phát hành thêm vào lưu thông một khối lượng lớn tiền tương đương với 1,38 lần khối lượng tiền mới đã phát hành trong đợt đổi tiền trước đó để phục vụ công cuộc cải cách lương và giá.

Thế nhưng, đời sống kinh tế xã hội Việt Nam những năm sau đổi tiền rơi vào hỗn loạn với mức lạm phát cao tới ba con số: năm 1986 là 774%, năm 1987 là 323%, và năm 1988 là 393%. Theo ông Nguyễn Thượng Hòa – nguyên Quyền Chủ nhiệm Uỷ ban Vật giá Nhà nước, tổng bí thư Đỗ Mười đã tập trung giải quyết 5 vấn đề mà ông cho là trực tiếp gây ra lạm phát. Cụ thể, để tiếp tục khắc phục mất cân đối cung cầu hàng hóa, vào tháng 2/1989, ông Đỗ Mười chỉ đạo tìm mọi cách đẩy mạnh sản xuất hàng hóa trong nước, tạo nên một quỹ hàng hóa để ứng phó với những biến động về cung cầu hàng hóa có thể xảy ra khi thực hiện những biện pháp quyết liệt chống lạm phát. Theo lời kể của ông Nguyễn Thượng Hoà, ông Đỗ Mười đã yêu cầu Bộ Ngoại thương xóa bỏ những quy định không hợp lý về nhập khẩu phi mậu dịch, không những cho phép mà còn khuyến khích cán bộ, chuyên gia, học sinh, sinh viên, lao động ở nước ngoài, Việt kiều khi trở về nước đem hàng về càng nhiều càng tốt, Nhà nước không đánh thuế, không thu mua.

Về xuất nhập khẩu và ngoại tệ, tháng 3/1989, Nhà nước xóa bỏ chế độ hai tỷ giá song hành: bỏ tỷ giá chính thức (lúc đó là 3.500 đồng/USD, thấp hơn gần 25% so với tỷ giá trên thị trường (4.550 đồng/USD); thực hiện một tỷ giá ngoại tệ duy nhất được vận dụng linh hoạt theo diễn biến tỷ giá được hình thành trên thị trường qua hoạt động xuất nhập khẩu. Ngoài ra, ông còn thực hiện chính sách: ngân sách không trợ cấp xuất khẩu, không bù lỗ nhập khẩu; khuyến khích kiều bào ở nước ngoài gửi kiều hối về nước; chuyển từ lãi suất thực âm sang lãi suất thực dương; tổ chức lại hệ thống ngân hàng bao gồm Ngân hàng Nhà nước làm chức năng quản lý nhà nước và nhiều ngân hàng chuyên doanh hoạt động bằng vốn tự thu hút trong xã hội theo nguyên tắc hạch toán kinh doanh có lãi.

Không những vậy, toàn bộ giá hàng tiêu dùng và tư liệu sản xuất của Nhà nước đều được nâng lên sát giá thị trường. Tiền lương được điều chỉnh lên, không những đủ bù lại tác động của việc tăng giá hàng mà còn có cải thiện một phần đời sống của họ: tiền lương tối thiểu được nâng gấp 4 lần, tổng quỹ tiền lương được tăng lên gấp 5 lần so với năm 1988. Những biện pháp mạnh mẽ, quyết liệt này khi đưa ra đã gây những phản ứng của cả các nhà kinh tế và các doanh nghiệp. Trước tình hình đó, ông Đỗ Mười rất thận trọng. Ông cử một đoàn cán bộ gồm: Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Thương mại, Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước xuống Hải Phòng làm thí điểm. Kết quả cho thấy, việc thực hiện các biện pháp trên không gây ra những rối loạn kinh tế - xã hội như có ý kiến lo ngại. Trên cơ sở đó, ông đề nghị Hội đồng Bộ trưởng áp dụng trên phạm vi cả nước.

Kết quả là lạm phát bị chặn đứng, chỉ số giá từ tháng 5 đến tháng 7/1989 giảm so với các tháng trước, có tháng chỉ số là âm: tháng 4 giảm 1% so với tháng 3; tháng 5 giảm 2% so với tháng 4. Tiếp đó, do lạm phát tiếp tục giảm trong tháng 6 và tháng 7, 8, 9, ngân hàng đã hai lần điều chỉnh lãi suất xuống cho phù hợp với chỉ số lạm phát nhưng vẫn bảo đảm người gửi tiền được hưởng lãi suất cơ bản. Các chuyên gia kinh tế nước ngoài thời đó đã vô cùng ngạc nhiên vì đã dũng cảm thực hiện những cải cách cơ bản, nhất là việc xóa bỏ bao cấp gạo, việc thực hiện một tỷ giá ngoại tệ duy nhất trên cơ sở tỷ giá hình thành trên thị trường (mà họ gọi là phá giá đồng tiền Việt Nam), việc chuyển đổi từ lãi suất thực âm sang lãi suất thực dương mà không gây xáo trộn kinh tế, chính trị, xã hội.

Việc nâng lãi suất tiền gửi tiết kiệm lên 12% là một ví dụ điển hình. Trong khi chỉ số lạm phát là 7% một tháng, với lãi suất tiền gửi tiết kiệm 12%, nhân dân thấy gửi tiền vào ngân hàng vừa bảo đảm được giá trị tiền gửi vừa có lợi thêm 5% nên đã ồ ạt gửi tiền vào ngân hàng. Lãi suất tiền vay ngân hàng được nâng lên 10-11%, tức là bằng chỉ số lạm phát cộng với thực lãi mà người vay phải trả cho ngân hàng là 3 - 4%. Ngân hàng phải quản lý chặt chẽ việc cấp tín dụng cho các doanh nghiệp nhà nước, giảm tín dụng cho Nhà nước để bù đắp bội chi ngân sách. Tổ chức lại hệ thống ngân hàng, bao gồm Ngân hàng Nhà nước làm chức năng quản lý nhà nước và nhiều ngân hàng chuyên doanh hoạt động bằng vốn tự thu hút trong xã hội theo nguyên tắc hạch toán kinh doanh có lãi. Ngân hàng phải thu hút vốn từ xã hội để bảo đảm nhu cầu tín dụng, hạn chế việc phát hành thêm tiền mặt ra thị trường.

Khi Nhà nước sửa đổi chính sách đối với nhập khẩu phi mậu dịch, hàng từ nước ngoài đem về rất nhiều, hầu hết là hàng mà nhân dân trong nước rất cần như tân dược, vải vóc, đồ điện tử,... Người đem hàng về phấn khởi vì có thêm thu nhập, nhân dân cũng phấn khởi vì có hàng để mua. Số lượng kiều hối gửi về cũng tăng gấp nhiều lần. Đối với nông dân, việc nâng giá mua lúa lên sát giá thị trường khiến nông dân phấn khởi, bán gần triệu tấn lúa cho Nhà nước, nhờ đó Nhà nước không còn phải nhập khẩu gạo mà vẫn có lực lượng để bình ổn giá thị trường, ngoài ra có gạo để xuất khẩu.

Trong những tháng sau đó, chỉ số giá có tăng trở lại, nhưng mức độ tăng thấp hơn nhiều. Đó là do tài chính phải chi những khoản rất lớn cho an ninh, quốc phòng để rút quân khỏi Campuchia và giảm quân số, cho xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế (điện, giao thông vận tải...) để tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế và thu hút vốn đầu tư của nước ngoài (FDI, ODA), cho xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội, phát triển dịch vụ xã hội, để trả nợ đến hạn và lãi tiền vay nước ngoài. Ngược lại, nguồn thu lại gặp những khó khăn mới, như không còn nguồn viện trợ, nguồn vay và nguồn nhập khẩu vật tư chiến lược (xăng dầu, kim khí, phân hoá học) với giá ưu đãi từ Liên Xô. Cho nên ngân sách lại tiếp tục bội chi và lại phải tiếp tục vay ngân hàng, ngân hàng lại phải phát hành thêm tiền để cân đối ngân sách.

Chỉ từ năm 1992 trở đi, khi nền kinh tế phát triển, GDP tăng, đời sống nhân dân được nâng cao dần, tỷ lệ huy động GDP cho ngân sách tăng lên; mặt khác, có thêm nguồn thu mới từ dầu thô, xuất khẩu gạo, vay và viện trợ nước ngoài mới chấm dứt được việc ngân sách phải vay ngân hàng và cơ bản khắc phục được lạm phát.

LỜI CẦU NGUYỆN CỦA ĐÀN ÔNG.

 

Lời Cầu Nguyện Của Đàn Ông

- Vô Danh

 

 

Con quỳ lạy Chúa trên trời

Sao cho con trốn được người con yêu

Rằng con thiếu nợ đã nhiều

Nàng còn mua sắm đủ điều Chúa ơi !

Con cày hai dzóp hụt hơi

Người con yêu lại đua đòi chơi xe

Biểu gì con cũng phải nghe

Nếu con cãi lại là te tua đời

Trước đây con tưởng gặp thời

Chúa ban con được tìm người con yêu

Giờ đây thân xác tiêu điều

Đời con phải chịu rất nhiều đắng cay

Thân con chẳng khác trâu cày

Nợ nàng con trả dài dài chưa xong

Con giờ như cá lòng tong

Sụt ba chục ký, ốm nhong, rã rời

Thế mà đâu hết nợ đời

Nấu cơm, rửa chén, bị đòi... tù ti

Người đâu gặp gỡ làm chi

Để cho khổ thế còn gì là Xuân ?

Chúa ơi ! con khổ vô ngần

Chúa mà không giúp là thân con tàn

Con đang thiếu nợ trăm ngàn

Nhìn đồ nàng sắm, hai hàng lệ rơi

Con quỳ lạy Chúa trên trời

Giúp cho con trốn được người con yêu.

 

Lời cầu nguyện trên đây đã tới tai Chúa, nhưng Chúa ở Thượng Giới bận lắm, vì phải lo giải quyết những nỗi khổ của các nạn nhân chiến tranh, thiên tai ... Nạn nhân của Vợ chỉ là chuyện nhỏ cá nhân, giao cho phụ tá, cấp dưới nơi Trung Giới tập sự giải quyết. :

 

Ta là Tiểu Thánh dưới Trời,

Nghe con cầu nguyện, đôi lời với con:

Tại ngươi ham thích gái non,

Giá này phải trả, sao còn than van ?

Việc chi phải trốn xa nàng,

Nghe ta mách bảo vài hàng khuyên răn:

Nếu nàng mua sắm lăng nhăng,

Không mang theo " thẻ", lại quên mang tiền

Hễ nàng lớn tiếng liên miên,

Bông gòn tai nhét, ngồi thiền là xong.

Nồi, niêu, chén, dĩa ... cả chồng,

Rửa chi cho mệt, quẳng ngay ra đường

Đi mua đồ giấy mà dùng

Đỡ hao tiền nước, khỏi nhờ sà - bông.

Nàng mà õng ẹo ... với chồng,

Mười ngày chẳng tắm, nàng không quấy rầy.

Nợ nần lỡ đã chất đầy,

Ngươi khai bank-rupt, chóng chầy cũng qua.

Kiếp sau nhớ chọn gái già,

Vợ cưng chồng trẻ như là cưng con.

Thân ngươi nay đã mỏi mòn,

Sống hết xí quách; chết còn Chúa lo.

Người khôn có vợ được nhờ,

Kẻ ngu có vợ thành bò, thành trâu.

Động lòng ngươi đã nguyện cầu,

Mấy lời khuyên bảo giải sầu cho ngươi./.

 

Vô danh

NGƯỜI MỸ GỐC VIỆT BỎ ĐẤT LIỀN, ĐẾN "KHAI HOANG" TRÊN ĐẢO HAWAII (ĐOAN TRANG)

 

Người Mỹ gốc Việt bỏ đất liền, đến ‘khai hoang’ trên đảo Hawaii

April 30, 2022

 

Đoan Trang/Người Việt 

 

HONOLULU,  Hawaii (NV) – “Đi Hawaii, nhớ đến thăm khu dân cư mới hình thành ở Honolulu mà các vườn trái cây của người Việt mình đã đến mùa thu hoạch, lại còn có hai ngôi chùa Việt Nam nữa. Thích lắm!”

 

Mảnh đất chết trở nên xanh tươi, nhờ công lao người đi “khai hoang” là những gia đình gốc Việt ở Kunia Loa Ridge Farmland. (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

 

Một vị linh mục quen biết, mà chúng tôi hay gọi thân mật là “Cha Thảo,” gợi ý như thế khi biết chúng tôi có ý định bay sang Hawaii, quần đảo nằm hoàn toàn trong miền nhiệt đới trên Thái Bình Dương và không thuộc về châu lục nào, tiểu bang thứ 50 của Hoa Kỳ.

Nghe “vườn cây ăn trái đến mùa thu hoạch” là đã thích rồi, lại thêm một vị linh mục Công Giáo “giới thiệu” về hai ngôi chùa Phật Giáo, càng khơi gợi tính tò mò của chúng tôi.

 

Chánh điện ngôi chùa Thanh Nguyên ở khu dân cư mới Kunia Loa Ridge Farmland. (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

 

Vùng đất sơ khai 

Nôn nóng, háo hức là thế, nhưng bắt tay vào chuẩn bị cho cuộc hành trình không dễ tí nào. Chẳng ai biết cái “khu dân cư mới” ấy ở đâu, ngay cả cư dân có hai ba chục năm sống ở thủ phủ Honolulu trên đảo O’ahu của Hawaii cũng… ú ớ.

“Làm gì có khu dân cư mới nào! Chắc ở đảo khác.” Gương mặt đăm chiêu thấy rõ trên màn hình Facetime khi chị Tammy Trần trả lời. Ngay cả anh Peter Huỳnh, người làm nghề lái taxi và hướng dẫn du khách ở Honolulu, cũng không biết. “Nghe lạ quá, nhưng nếu có chùa thì để tui hỏi mẹ vợ tui, vì mẹ hay đi chùa.”

Đợi phản hồi của mẹ vợ anh Peter mãi không thấy, chúng tôi “cầu cứu” Cha Thảo.

 

Đường lên chùa Thanh Nguyên. (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

 

Thì ra, khu dân cư mới này “có tên có tuổi” đàng hoàng. Đó là Kunia Loa Ridge Farmland (KLRF), cách trung tâm Honolulu khoảng 30 phút lái xe. Dù đã quen với đường đi nước bước trên đảo được vài ngày, nhưng để vào được bên trong khu dân cư, “khách lạ” như chúng tôi phải có người quen “dẫn đường” và mở code vào cổng.

“Người quen” ấy là cô Cát Tâm, do Cha Thảo giới thiệu. Dù đã bước sang tuổi thất thập cổ lai hy, cô Tâm khỏe như… cô gái xuân thì. Cô đi nhanh như chạy, lanh lẹ và khỏe khoắn hơn nhiều so với mấy chục năm sống ở Oregon. Cô bảo chỉ mới ra đảo vài năm nay, nhưng “giờ kêu vô (đất liền) là không chịu à nhe.”

 

Một góc đường trong khu dân cư Kunia Loa Ridge Farmland. (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

 

Buổi trưa, mặt trời trên cao, nhưng gió thổi bay hết những cơn nắng nóng, thậm chí còn đưa về cái mát dịu nhẹ y như khí hậu vùng cao nguyên. Ôi, Đà Lạt! Tôi reo lên trong lòng. Giống lắm. Là vùng đồi núi, thỉnh thoảng có những con dốc cheo leo, KLRF rộng tới hơn 850 mẫu, và dân cư vẫn còn thưa thớt.

Cô Cát Tâm đưa chúng tôi đến thăm một trong hai ngôi chùa trước. Vẫn còn đường đất, cỏ dại mọc um tùm, nhưng tên đường và bảng hiệu giao thông được lắp đặt đầy đủ. Chùa nằm trên đường nào nhỉ? “Cứ quen mà đi thôi, chứ đọc đã khó, đố mà nhớ được cái tên,” cô Tâm nói rồi chỉ một tên đường khó nhớ, khó đọc: Honouliuli.

 

Ngôi nhà đang cất của cô Hương Kaufmann. Trong hình, từ trái: bà Betty Nguyễn, cô Cát Tâm, cô Hương Kaufmann. (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

 

Khai hoang 

Thầy Thích Nguyên Thẩm, trụ trì Chùa Thanh Nguyên, còn khá trẻ, vui vẻ đón khách như người nhà.

“Mười năm trước, thầy trụ trì ngồi tu trong một cái thùng gỗ. Kia kìa,” cô Betty Nguyễn, một cư dân của KLRF chỉ một góc chùa, nói. “Ngày qua ngày, Phật tử và bá tánh các nơi chung tay góp sức mà ngôi chùa trở nên khang trang, đẹp đẽ như thế này đây.”

 

Ông bà Tùng Trần trước căn nhà trong khu dân cư Kunia Loa Ridge Farmland. (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

 

Quả thật, chánh điện của ngôi chùa thật rực rỡ nhưng không kém trang nghiêm. Trong khuôn viên nhà chùa còn có một “sân khấu mini” để tổ chức những ngày lễ lớn như Phật Đản, Vu Lan. Chùa nằm ở nơi hẻo lánh là thế, vậy mà mấy năm trước đại dịch COVID-19, tuần nào cũng có dăm bảy chục, có khi cả trăm người đến viếng Phật. Suốt gần hai năm dịch bệnh, không ai muốn đi đâu, nhưng thỉnh thoảng cũng có vài nhóm người rủ nhau lên lễ Phật. Các thầy nấu thức ăn, mời cơm Phật tử.

Cô Betty kể, khoảng năm năm về trước, nơi đây là vùng đất chết, chỉ có cát và đất, nắng và gió, cây khô và cỏ dại, là nơi đặt kho hàng và bãi đậu xe, nên rất ít người qua lại.

 

Ông Tùng Trần và chùm xoài có trái to hơn bàn tay. (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

 

Honolulu là thành phố du lịch, đất hẹp người đông, kiếm chỗ thuê làm kho hàng cũng khó, nên các doanh nghiệp “chịu khó” đi xa một chút là ở khu đất này. Vì giá thuê chỗ để xe, hoặc một kho hàng cũng mất cả ngàn mỗi tháng, nên “lỡ” thuê rồi, nhiều người mua luôn! “Tính mà xem, nếu thuê thì mỗi năm tốn hơn chục ngàn, trong khi giá đất khi đó có $40,000/mẫu rộng thênh thang. Tội gì mà không mua cơ chứ! Vừa có chỗ làm kho, đậu xe không tốn tiền, mà đất lại là của mình, chính phủ cho thuê tới 99 năm lận mà,” cô Betty kể.

(*) Xem video: Người Việt ‘khai hoang’ vùng đất chết trên đảo Hawaii

Phong Su Kunia Loa Ridge Farmland

0 seconds of 3 minutes, 47 secondsVolume 90%

 

Cứ có đất là trồng cây. Với khí hậu nhiệt đới, lại được chăm bón tốt nên trái cây ở đây ngon ngọt không kém đặc sản ở các vựa trái cây miền tây Việt Nam. Nếu ai đã từng ghé vườn trái cây Lái Thiêu, hay các vựa trái cây ở Tiền Giang, Vĩnh Long,… thì hình ảnh của những ngôi nhà có chủ nhân là người Việt ở đây cũng hao hao như thế.

 

Ông bà Tùng Trần đứng ở căn nhà của mình chỉ hướng về Honolulu. (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

 

Nhà nào cũng trồng vải, mít, xoài, ổi, đu đủ, sapoche, cam, quýt, cóc,… trái nào trái nấy to, nhìn mà ham. Buồng chuối cũng mập mạp, mũm mĩm. Hôm chúng tôi ghé thăm nhà cô Hương Kaufmann, lúc cô đang… dọn chuồng gà. Vừa xịt nước cho sạch, cô vừa kể: “Tui lên đây hai năm thôi, mà thích quá, nào nuôi gà, trồng cây. Nhãn, xoài, sakê, vải, mít, đu đủ, chanh,… thứ gì cũng ra trái. Tiếc quá, em lên sớm chừng tháng, tha hồ mà ăn vải.”

“Sống trong bể ngọc kim cương, không bằng sống giữa tình thương bạn bè.” Cô Hương nói, trồng cây để bạn bè có lên chơi thì mọi người có trái mà hái. Một mẫu đất hơn 4,000 m2. Thênh thang là thế, nên cô Hương chia lại một nửa cho người bạn. Nhưng đất đai vẫn còn dư dả, cô đang cho cất một căn nhà, để bạn bè đến chơi có chỗ nghỉ ngơi. Cô Hương có cả chục người bạn thân, toàn 70 tuổi trở lên. Ở tuổi này mà còn sống khỏe thì nhu cầu gặp gỡ bạn bè càng nhiều.

 

Ông chủ tiệm Phở 808 Tùng Trần nay trở thành “nông dân thứ thiệt.” (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

 

“Nơi đây vùng đồi núi, không khí trong lành, thích lắm. Nhà xây xong, có khi tháng nào mình cũng có khách lên chơi,” cô Hương khoe.

Ai mua đất ở đây cũng cất một cái nhà và trồng nhiều cây ăn trái như nhà cô Hương, nên dần dà một cộng đồng người Việt hình thành. Có thể nói, người Việt “chiếm lĩnh” khu dân cư này, khi 30% trong tổng số 400 nóc gia đã hình thành ở KLRF có chủ nhân là người Việt. Số còn lại là dân bản địa người Hawaii, Philippines, Nhật, Nam Hàn,… Tứ hải giai huynh đệ. Chẳng biết nhau, nhưng cứ người Việt gặp nhau, là vui như Tết.

 

Ông Tùng Trần vừa bẻ buồng chuối to để tặng bạn lên chơi. (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

 

Hưởng thụ và dưỡng già 

Ở một ngọn đồi khác, có ngôi nhà của vợ chồng ông bà Tùng Trần, người đã chọn Hawaii làm quê hương từ bảy năm qua. Dù vẫn còn căn nhà ở Honolulu, nhưng ông Tùng và vợ là Bác Sĩ Đào Hà cứ “bám riết” căn nhà này mà chẳng muốn đi đâu. Điện xài free (vì dùng hệ thống solar) xăng rẻ, nước cũng… miễn phí (vì xài nước mưa) và đặc biệt thời tiết lúc nào cũng mát mẻ, gió mát trăng thanh, bà Hà nói “bỏ đi không đành.”

Mấy năm trước, ông bà Tùng có chủ tiệm Phở 808 ở thành phố Kapolei, cũng trên đảo O’ahu của Hawaii. Khi mua được năm mẫu đất trên này, ông chủ tiệm phở bỏ phố lên núi, làm “nông dân thứ thiệt” chăm sóc vườn cây ăn trái nay đã um tùm, nào mía, xoài, chuối, mãng cầu,… Trong số đó có cây sapoche rất sai trái, ngọt lịm.

 

Cô Hương Kaufmann bên cây đu đủ chi chít trái. (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

 

Ông ngoài 70, người vợ cũng 65 tuổi, bỏ luôn áo blouse, đội chiếc nón rộng vành, ngày ngày vác cuốc đi xới đất, bón phân, tưới cây. “Tụi tôi trước là dân California đó chớ. Sau dọn qua ở Houston, Texas ở 10 năm, rồi qua Ohio thêm 10 năm nữa mới ra đảo sống. Quen ở đảo, giờ chẳng muốn vô đất liền. Nơi này là ‘số 1’ với người về hưu đó nha,” bà Hà nói.

Ông Tùng cũng thổ lộ rằng vợ chồng ông không muốn sống ở phố nữa, mà làm cái chòi rồi về đây sống cho đến cuối đời.

 

Cô Hương Kaufmann và chùm nhãn trên cây mới trồng hai năm. (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

 

“Cái chòi” của ông bà là một căn nhà hai phòng ở trên lầu, có đầy đủ tiện nghi như căn nhà dưới phố. Ông bà thích ở đảo, dù những ngày gian nan trên đảo Galang, Indonesia, sau chuyến vượt biên năm 1984 vẫn còn nguyên trong ký ức.

“Ừ, tính ra cả đời đi làm cật lực rồi, giờ về già cũng cần sống chậm lại, hưởng thụ chút xíu chứ nhỉ,” bà Hà nói, nở một nụ cười mãn nguyện. Ông Tùng bồi thêm: “Tụi này cứ sống tà tà, mỗi tuần ra biển chơi, đánh cá, chỉ làm những gì mình thích. Bốn mươi năm vất vả rồi, giờ nghỉ… xả hơi thôi.”

 

Một ngôi nhà trong khu dân cư Kunia Loa Ridge Farmland. (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

 

Tương lai hứa hẹn 

KLRF do một tổ chức phi lợi nhuận quản lý, ở đó gồm những nông dân chăm chỉ và đa dạng từ các nền kinh tế và dân tộc khác nhau. Ban Quản Lý KLRF gọi đây là một “gia đình” cùng nhau làm việc để “vượt qua những thách thức liên quan đến hoạt động nông nghiệp” trên đảo O’ahu.

KLRF cam kết đáp ứng nhu cầu của các gia đình chọn “cắm dùi” tại đây, và thực hiện các hoạt động có lợi cho cộng đồng. Có họ, đất đai nơi đây mới màu mỡ hơn, góp phần cải thiện sức khỏe, kinh tế, môi trường và an ninh lương thực thông qua việc cung cấp thực phẩm tươi sống tại địa phương, các cơ hội kinh doanh, cũng như sinh hoạt cá nhân.

Bà Betty, cô Hương, vợ chồng ông Tùng, và những gia đình Việt khác đã góp tay làm “thay màu” mảnh đất này chỉ trong vài năm trở lại đây. Họ cũng là những người chứng kiến giá trị đất tăng rất nhanh.

 

Sự sống đang hình thành ở vùng đất chết. (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

Từ $40,000/mẫu cách đây 10 năm, đến năm 2015, ông Tùng đã phải mua với giá $127,000/mẫu. Nếu không có dịch bệnh COVID-19, có lẽ đất ở đây “nóng” không thua gì đất liền, chứ không có giá $130,000/mẫu như hiện nay.

Cộng đồng người Việt ở khu dân cư mới này dù chỉ vài trăm người cũng đã làm nên điều kỳ diệu, là góp công, góp của vào quá trình khai hoang một vùng đất chết. Khi dịch bệnh qua đi, không chừng, chỉ cái Tết sang năm thôi, nơi đây sẽ còn nhiều thay đổi. Và chắc chắn chúng tôi sẽ quay trở lại, để đem về những bức hình “xanh” hơn, “mầu mỡ” hơn, và nhiều “sinh khí” hơn, là thành quả của những người con gốc Việt trên vùng đảo xa xôi này. [kn]


GIỌT LỆ KHÓC CHO QUÊ HƯƠNG (LÊ TUẤN)

 

Giọt lệ khóc cho quê hương

Em cúi xuống để rơi ngàn giọt lệ
Khóc cho đất, cho mộ đá không tên
Cho đêm về lung linh ngọn nến trắng
Tấm thẻ bài chợt lóe sáng trong đêm.

Em cúi xuống thắp nén nhang tình nghĩa
Ngọn gió chiều làn khói tỏa bay cao
Đời chiến sĩ, linh thiêng còn vọng lại
Giữ Quê hương. Hồn bất khuất tự hào.

Em cúi xuống chắp tay quỳ bái lậy
Lệ tuôn trào vị mặn thấm trên môi
Thời chinh chiến viết đầy trang Quân Sử
Sao còn nghe lòng trĩu nặng khôn nguôi.

Em cúi xuống lệ tuôn trào thương xót
Khóc cho người vì Tổ Quốc Vong Thân
Việt Nam ơi ! Lắng nghe hồn sông núi
Ngọn lửa thiêng, thắp sáng bóng chinh nhân.

AET Lê Tuấn


5 THÀNH PHẦN TRONG MỸ PHẨM NÊN TRÁNH NẾU SỞ HỮU LÀM DA KHÔ (KD)

 

5 thành phần trong mỹ phẩm nên tránh nếu sở hữu làn da khô

May 4, 2022

 

SANTA MONICA, California (NV) – Trên thị trường mỹ phẩm trang điểm hiện nay có hằng hà sa số sản phẩm dành cho mọi loại da, nhưng nếu không cẩn thận và để ý, bạn có thể chọn sai sản phẩm không phù hợp với da của mình, khiến gương mặt không đẹp ra mà còn làm xấu da, thậm chí là còn gây kích ứng, nổi mụn, đặc biệt là những ai sở hữu làn da khô.

 

Dưới đây là năm thành phần trong mỹ phẩm trang điểm mà bạn nên bỏ qua nếu da bị khô, theo trang mạng Byrdie.

 

Chọn mỹ phẩm trang điểm cũng phải phù hợp với làn da của mình để tránh bị kích ứng. (Hình: Adrienn/Pexels)

 

1. Alcohol

Theo chuyên gia da liễu Rhonda Klein, hiện đang công tác viện thẩm mỹ Modern Dermatology ở Connecticut, alcohol là thành phần rất phổ biến trong mỹ phẩm và ở các dạng khác nhau. Các thuật ngữ như SD alcohol, denatured alcohol hay isopropyl alcohol đều là những thành phần có thể khiến da bị khô.

 

2. Chất làm thơm trong mỹ phẩm

Fragrance là những chất có mùi, làm thơm mỹ phẩm và cũng là một trong những thành phần dùng rất nhiều trong làm đẹp. Tuy nhiên, nếu bạn sở hữu làn da nhạy cảm, dễ kích ứng hoặc da khô, thì nên hạn chế sử dụng sản phẩm có thêm thành phần này.

Những chất làm thơm thường là nguyên nhân chính khiến da bị kích ứng và là tiềm ẩn của căn bệnh chàm mà mọi người dễ mắc phải khi bị dị ứng. Bạn nên chọn các sản phẩm có ghi là fragrance-free cho các sản phẩm trang điểm, đặc biệt là kem nền và kem che khuyết điểm.

 

3. Paraben

Paraben được xem là chất làm sạch và là chất bảo quản các thành phần trong sản phẩm làm đẹp để kéo dài thời hạn sử dụng và tuổi thọ của chúng.

Mặc dù đây là thành phần hầu như có mặt ở khắp mọi đồ dùng bạn sử dụng hằng ngày, tuy nhiên, nó vẫn có thể là nguyên nhân gây kích ứng với ai có da khô và da nhạy cảm. Thậm chí một số chất paraben còn bị cấm trong các mỹ phẩm sản xuất ở Âu Châu. Vì vậy, bạn nên chọn các sản phẩm có thành phần tự nhiên và hữu cơ, có ghi là paraben-free.

 

Đối với kem nền và kem che khuyết điểm, bạn nên tránh thành phần glycolic acid nếu sở hữu làn da khô. (Hình: Mart Production/Pexels)

 

4. Glycolic acid

Glycolic acid là thành phần nổi bật trong các sản phẩm tẩy tế bào chết hóa học, giúp làm sạch da, giảm mụn đầu đen và chữa trị lỗ chân lông bị tắc.

Nếu da bạn quá khô, bạn vẫn có thể phải tẩy tế bào da chết để làm sạch, nhưng bạn nên cân nhắc chọn loại sản phẩm không có thành phần glycolic acid. Hoặc nếu dùng loại có glycolic acid, bạn hãy chắc chắn là sau khi tẩy tế bào chết xong, bạn nhớ bôi kem dưỡng ẩm ngay sau đó, để da được cấp ẩm và không bị mất nước.

 

5. Salicylic acid

Nếu như glycolic acid nổi bật trong các sản phẩm tẩy tế bào chết thì salicylic acid là chất không thể thiếu trong các sản phẩm chăm sóc da dầu, da nổi mụn trứng cá và da hỗn hợp.

Tuy nhiên, cho dù là sở hữu da dầu thì bạn cũng không nên dùng mỹ phẩm có salicyclic acid khi trang điểm vì nó khiến da bị khô. Những ai có da khô khi dùng salicylic acid thì da sẽ càng bị khô thêm.

“Salicylic acid chỉ nên dùng để chữa trị mụn trứng cá và khi da đổ nhờn quá nhiều chứ không nên lạm dụng sử dụng trong sản phẩm trang điểm và dưỡng da,” chuyên gia da liễu Adarsh Vijay, nhà sáng lập trung tâm thẩm mỹ Mudgil Dermatology, cho biết. (KD)