Bồ Tát Giữa Đời
Giữa dòng nhân thế chơi vơi,
Bồ Tát nhàn nhã, môi cười độ sinh.
Vô danh, ẩn khuất bóng hình,
Âm thầm gieo rắc yên bình ngàn nơi.
Từ bi ấm ánh mặt trời,
Vượt ngàn giông tố, rạng ngời niềm thương.
Nguyễn-Khắc Tiến-Tùng
Munich, mùng 2 tháng 6 năm 2016
- Có. Trong Phật giáo Đại thừa, người ta có nhắc đến khái niệm Bồ Tát nghịch hạnh (逆行菩薩), tức là những vị Bồ Tát vì phương tiện giáo hóa chúng sinh mà thị hiện những hành vi có vẻ trái với chuẩn mực thông thường, nhưng động cơ hoàn toàn xuất phát từ lòng từ bi và trí tuệ.
Tuy nhiên, đây là một khái niệm rất dễ bị hiểu sai.
Bồ Tát nghịch hạnh là gì?
Thông thường, Bồ Tát thực hành thuận hạnh: từ bi, nhẫn nhục, bố thí, trì giới, tinh tấn...
Nhưng trong một số kinh điển và truyền thuyết Đại thừa, có những vị Bồ Tát hoặc bậc giác ngộ:
- Thị hiện hình tướng khác thường.
- Dùng lời nói nghiêm khắc.
- Hành động trái với mong đợi của người đời.
- Thậm chí xuất hiện trong môi trường mà người ta cho là không thanh tịnh.
Mục đích là:
- Phá chấp cho chúng sinh.
- Cảm hóa những người khó giáo hóa bằng phương pháp thông thường.
- Dẫn dắt chúng sinh bằng phương tiện thiện xảo (upāya).
Ví dụ nổi tiếng là Duy Ma Cật trong Kinh Duy Ma Cật. Ngài là cư sĩ, sống giữa đời thường, giao tiếp với đủ hạng người nhưng vẫn thể hiện trí tuệ giải thoát sâu sắc.
Vì sao cần thận trọng?
Trong Phật giáo, không phải ai cũng có thể tự nhận mình đang thực hành "nghịch hạnh".
Các luận sư thường nhấn mạnh rằng:
- Chỉ những bậc có trí tuệ và từ bi viên mãn mới có thể dùng phương tiện nghịch hạnh.
- Người còn tham, sân, si mà bắt chước các hành vi ấy rất dễ rơi vào sai lầm.
- Không thể lấy "nghịch hạnh" làm lý do để biện minh cho hành vi bất thiện.
Nói cách khác:
Bồ Tát nghịch hạnh là dùng cái "nghịch" bên ngoài để thành tựu điều "thuận" bên trong; còn người phàm thường dùng cái "nghịch" bên ngoài và cả bên trong đều bị phiền não chi phối.
Trong văn hóa Phật giáo Á Đông
Khái niệm này thường được liên hệ với:
- Tế Điên (hình tượng dân gian nổi tiếng).
- Một số vị thiền sư "cuồng thiền" trong truyền thống Thiền tông.
- Các câu chuyện về bậc chân tu dùng phương tiện khác thường để khai ngộ đệ tử.
Tuy nhiên, các câu chuyện dân gian thường được thêm thắt, nên không phải tất cả đều được xem là giáo lý chính thống.
Tóm tắt
Bồ Tát nghịch hạnh là vị Bồ Tát dùng phương tiện giáo hóa khác thường, có vẻ trái với quy tắc thông thường nhưng xuất phát từ trí tuệ và lòng từ bi nhằm cứu độ chúng sinh. Khái niệm này nhấn mạnh "phương tiện thiện xảo", chứ không có nghĩa là cho phép làm điều bất thiện hoặc phá giới một cách tùy tiện.
********************
Bồ Tát (Sanskrit: Bodhisattva) là người phát tâm cầu giác ngộ không chỉ cho bản thân mà còn vì lợi ích của tất cả chúng sinh. Lý tưởng Bồ Tát đặc biệt được nhấn mạnh trong Phật giáo Đại thừa.
Đặc điểm của Bồ Tát
- Phát Bồ-đề tâm: nguyện thành Phật để cứu độ chúng sinh.
- Thực hành lòng từ bi và trí tuệ.
- Tu tập các hạnh lành, thường được nói đến qua Lục Ba-la-mật:
- Bố thí
- Trì giới
- Nhẫn nhục
- Tinh tấn
- Thiền định
- Trí tuệ
Một số vị Bồ Tát nổi tiếng
Quán Thế Âm Bồ Tát
- Biểu tượng của lòng từ bi cứu khổ.
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát
- Biểu tượng của trí tuệ.
Phổ Hiền Bồ Tát
- Biểu tượng của hạnh nguyện và thực hành.
Địa Tạng Vương Bồ Tát
- Nổi tiếng với đại nguyện cứu độ chúng sinh trong các cõi khổ.
Bồ Tát có phải là Phật không?
Không hoàn toàn. Theo cách hiểu phổ biến của Đại thừa:
- Phật là người đã thành tựu giác ngộ viên mãn.
- Bồ Tát đang trên con đường hướng đến Phật quả, đồng thời nguyện giúp đỡ chúng sinh.
- Một số vị Bồ Tát được tôn kính rất cao và được xem là đã đạt trình độ giác ngộ cực kỳ sâu rộng.
Theo Phật giáo nguyên thủy (Theravāda)
Khái niệm Bồ Tát cũng tồn tại, nhưng thường dùng để chỉ tiền thân của Thích Ca Mâu Ni trước khi thành Phật. Lý tưởng tu tập trọng tâm là trở thành A-la-hán, trong khi Đại thừa nhấn mạnh lý tưởng Bồ Tát.
NKT-Tùng biên soạn
No comments:
Post a Comment