Đồi Cù Của Tôi
Ngày tôi sinh ra đã có Đồi Cù. Tôi lớn lên cùng với Đồi Cù. Tôi xem Đồi Cù là một trong những nơi chốn đã hun đúc tôi thành người “tương đối” tử tế ngoài những ngôi trường tôi đã theo học để nhận được những kiến thức căn bản cùng những lời giáo huấn từ các cô thầy kính yêu của một thuở thanh bình như trong truyện cổ tích.
Đồi
Cù là món quà của tạo hóa dành tặng cho những người
hiền
hòa lịch sự của thành phố mà người ta đã dùng nhiều mỹ từ để
đặt
cho nó. Đồi Cù là một phần quá khứ trong cuộc đời của tôi. Một
quá
khứ không bao giờ quên. Không bao giờ được quên! Quên làm
sao
được! Ngay từ những ngày năm bảy tuổi – cùng thời với Dalat
còn
hoang sơ, cọp beo ung dung đi vào gần thành phố. Mỗi lần tết
đến,
sáng mồng một, tôi thường được các chị cho mặc áo quần mới
rồi
dắt cho đi dạo hồ Xuân Hương, đi cho tới Vườn Bích Câu rồi leo
lên
Đồi Cù đến bên hồ nước nhỏ có tên Cẩm Lệ (có ai đó gọi là hồ
Tổng
Lệ), băng qua chiếc cầu ván dài chừng ba thước, sau đó lại trở
về
nhà. Chỉ có thế thôi. Cho đến năm tôi mười một tuổi trở về sau,
Đồi
Cù là nơi tôi thường xuyên đặt chân tới đó.
Xin
“dông dài” một chút. Số là cuối niên học 1955 -1956 tôi thi
đậu
tiểu học, rồi thi đậu vào lớp đệ thất vào trường trung học Quang
Trung.
Trường này là hậu thân của trường trung học Phương Mai –
tên công chúa, con vua Bảo Đại. Sau khi nền Đệ Nhất Cộng Hòa được thành lập thì trường được đổi thành Quang Trung. Trường nằm ngay trung tâm thành phố, lúc đó chỉ với hai dãy lớp đối diện cách nhau cỡ chừng hơn 200 mét, chính giữa là nhà chơi rộng lớn, có cả ngọ phạn điếm. Tất cả được xây dựng trên một quả đồi được san bằng.
Mái trường màu đỏ, sân trường rất rộng chưa có lối đi, chưa tráng xi
măng
nên mỗi lần có một cơn gió nhẹ – chỉ nhẹ thôi – cũng đủ làm
tung lên đám bụi đỏ vần vũ quyện trong gió sớm gió chiều. Đó là hình ảnh ngôi trường lúc tôi theo học chỉ một năm, sau này có xây dựng thêm các lớp học, phòng óc thí nghiệm hay thư viện, đường vào lối ra…thì nó đã biến thành ngôi trường dành riêng cho nữ sinh mang tên Bùi Thị Xuân. Bọn con trai lớp lớn lớp nhỏ đều được chuyển qua trường Bảo Long - cũng mang tên con vua Bảo Đại – và được đổi thành trường trung học Trần Hưng Đạo. Viết đến đây không biết tôi mô tả trường Quang Trung vào thời đó có đúng hay không? Gần bảy mươi năm rồi làm sao nhớ hết được…
Thời
tiểu học trường làng thì tôi đi bộ đến trường. Lúc học lớp
đệ
thất thì có được chiếc xe đạp cũ để sáng sáng đạp đến trường và
chiều
chiều đạp xe về nhà vì từ nhà tôi đến trường cách xa chừng sáu
cây
số. Dân Dalat gọi nơi gia đình tôi ở là “cây số 6”. Có phải từ trung
tâm
thành phố đến khu vực gia đình tôi ở xa đến sáu cây số nên
người
ta đặt tên là “cây số 6” hay không? Điều này tôi chưa nghe ai
giải
thích kể cả những người lớn tuổi như ông bà cha mẹ của tôi. Tôi
có
đọc cuốn “Địa Phương Chí Thị Xã Đà Lạt” của ông Phạm Gia Triếp,
nguyên
là trưởng ty thông tin Đà Lạt qua nhiều thời cũng không thấy
nhắc
đến những địa danh “cây số 4, cây số 6, cây số 7, cây số 9”.
Nhân
đây cũng xin bàn đến các “cây số” này trước khi leo lên Đồi Cù.
Dân
Dalat, bất luận những ai đã định cư từ thời Bảo Đại cho
đến
mãi sau này cũng đều nghe đến các khu vực mang tên “cây số 4,
cây
số 6, cây số 7 và cây số 9”. Chỉ có bốn cây số là 4,6,7 và 9. Không
có
cây số 1,2,3,5 và 8. Tôi tự hào là một trong những người đã đi gần
khắp
Đalat, từ đông sang tây, từ bắc xuống nam. Không có thác nào
mà
tôi chưa đến, không có ngọn núi nào mà tôi chưa leo, không có
hồ
nào mà tôi chưa lội xuống, không có buôn làng nào mà tôi chưa
từng
mạo hiểm đến. Dễ hiểu. Vì tôi là một Hướng Đạo Sinh. Hướng
Đạo
Sinh Lâm Viên. Đời sống của một Hướng Đạo Sinh gắn liền với
thiên
nhiên, ai cũng biết. Núi rừng sông hồ là bạn quanh năm.
Này
nhé! Từ trung tâm thành phố các bạn đi theo đường Phan
Đình
Phùng hướng về Mả Thánh. Từ ngả ba Mả Thánh quẹo trái là
đường
La Sơn Phu Tử (tôi nhớ tên đường cũ, không biết tên đường
mới
sau này). Đi thêm khoảng 300 mét gặp đường Hai Bà Trưng, leo
lên con dốc đứng chừng 200 mét gặp đường Bạch Đằng. Người ta gọi khu vực nằm trên đường Bạch Đằng là “cây số 4”. Cũng từ ngả ba Mả Thánh, nếu quẹo phải theo đường nhựa ngang qua ấp Hà Đông, đi tiếp về phía trường trung học Trần Hưng Đạo, qua hết khu Mả Thánh đến địa phận khu phố ba, bắt đầu từ chùa Viên Quang lên đến đường
Nguyễn
Siêu (trước có tên là đường Dankia) được gọi là “cây số 6”.
Đường
Nguyễn Siêu nối vòng ở cuối đường Bạch Đằng của cây số 4.
Từ
đường Nguyễn Siêu đi tiếp lên đoạn đường dốc chừng hơn cây số
để
đến Dòng Chúa Cứu Thế, nơi đây được gọi là “cây số 7”. Từ ngả ba
Dòng Chúa Cứu Thế rẻ trái đi lên Suối Vàng (không phải đi xuống Suối Vàng). Nơi đây có con đập rất kiên cố từ thời Pháp (1942) để đưa nước vào nhà máy thủy điện Ankroet. Đi tiếp về hướng bắc sẽ gặp Suối Bạc, nơi đây có một hồ nước mênh mông. Nếu từ ngả ba Dòng Chúa Cứu Thế rẻ phải là đường đi lên Núi Bà (Langbian). Khu vực nằm dưới chân Núi Bà được gọi là “cây số 9” thuộc quận Lạc Dương của tỉnh Tuyên Đức. Tôi được coi như một loại “thổ công” của Dalat vào thời còn nhí cho mãi khi lớn lên vẫn chưa bao giờ nghe ai nhắc đến địa danh cây số 1,2,3,5, và 8.
Giờ
nói chuyện Đồi Cù. Như đã nói ở trên, năm học đệ thất tôi
có
chiếc xe đạp nên thường sau giờ tan học, cùng đám bạn cưỡi xe
chạy
vung vít trên các nẻo đường, các con dốc cao ở phố như Minh
Mạng, Duy Tân, Lê Đại Hành, Hàm Nghi…chúng tôi đứng nhoi người lên trên hai bàn đạp mà vượt lên dốc bất kể trời mưa hay nắng, nóng hay lạnh trong khi nhiều người khác phải xuống xe để dắt bộ lên dốc.
Đạp vòng quanh hồ Xuân Hương, phóng lên Đồi Cù. Xa hơn nữa là đổ dốc xuống thác Datanla, Prenn, Gougha, Pongour để chặt mấy cây
trúc
về làm ống sáo để thổi, đến Phi Nom, Tùng Nghĩa để ăn bắp đầu
mùa.
Thế rồi có một buổi sáng chủ nhật tôi một mình đạp xe dạo hồ
Xuân Hương, một bên là hồ nước trong xanh, một bên là Đồi Cù cũng một màu xanh mướt do có bàn tay chăm sóc của những người đánh golf. Khi đạp xe đến gần Vườn Bích Câu tôi thấy phía trên đồi có một nhóm trẻ em và vài người lớn đang ngồi vòng tròn vỗ tay ca hát. Do hiếu kỳ, tôi dừng lại và chõ mắt nhìn lên quan sát. Nhóm người này sau đó lại đứng lên chơi hết trò chơi này đến trò chơi khác, rồi thấy người lớn thổi còi đánh Morse tích tích te te…còn đám nhỏ thì chăm chú nghe để ghi vào giấy vào sổ. Tôi dựa xe vào gốc cây thông và lên đồi đến gần hơn nữa để xem nhóm này đang chơi trò gì. Khi đó tôi
chưa
biết Hướng Đạo là gì cả. Thấy tôi đứng xớ rớ chặp lâu nhìn vào
đám
trẻ cỡ bằng tuổi tôi đang vui chơi, một người lớn tuổi trong
nhóm
bước đến hỏi “em có muốn vào chơi với các em này không?”.
Tôi
cười cười mà không trả lời. Người lớn tuổi ấy là huynh trưởng
bèn
nắm tay tôi đưa vào nơi các em đang ngồi vỗ tay hát. Tôi ngồi
xuống
và rụt rè vỗ tay theo chứ chưa biết hát. Buổi họp tan khi mặt
trời
đứng bóng, người lớn tuổi dặn tôi: “nếu em thích thì tuần sau
đến
đây để anh giới thiệu vô Hướng Đạo…”.
Trở
về nhà và suốt một tuần tôi nôn nao mong cho đến ngày
chủ
nhật để đạp xe xuống Đồi Cù. Tôi đến rất sớm. Sương mù trên
mặt
hồ Xuân Hương còn dày đặc. Sương mai cũng bay trên những
ngọn
thông và trên những trái đồi cỏ xanh ướt đẫm sương liên tục
trải
dài khiến tôi không biết nơi đâu là tận cùng. Khoảng gần một
tiếng
đồng hồ sau tôi mới thấy các em mặc áo nâu quần short xanh,
tay
cầm gậy và sổ sách đến cùng với hai vị huynh trưởng. Buổi họp
bắt
đầu và người huynh trưởng gặp tuần trước dắt tôi vào để giới
thiệu
với các bạn trẻ là “tôi muốn xin gia nhập vào Hướng Đạo”. Tôi
được
cho vào đội Voi của thiếu đoàn Lê Lợi thuộc đạo Lâm Viên từ
đó.
Tôi
được học và được chơi cùng các bạn đồng lứa tuổi qua các
chương
trình của một Hướng Đạo tân sinh. Sau ba tháng tôi được
tuyên
hứa trong một cuộc cắm trại ở trong rừng sâu bên trong thác
Prenn.
Tôi học tiếp chương trình Hướng Đạo Hạng Nhì, Hướng Đạo
Hạng
Nhất, đạt nhiều chuyên hiệu (merit badge). Hướng Đạo Hạng
Nhất
là đẳng hiệu cao nhất của Hướng Đạo Việt Nam dành cho một
thiếu sinh. Sau khi tuyên hứa tôi được bầu làm đội phó, tiếp đến là
đội
trưởng rồi đội trưởng nhất, lúc này tôi có thể giúp các Trưởng
nhiều
công việc để trông coi đoàn. Tiếp theo tôi trở thành một huấn
luyện
viên, phụ tá cho các Trưởng rồi trở thành một huynh trưởng
sau
khi đã tham dự các khóa huấn luyện toàn quốc dành cho huynh
trưởng tại trại Huấn Luyện Quốc Gia Tùng Nguyên nằm trên đồi cạnh hồ Than Thở. Tôi được Tổng Ủy Viên Hướng Đạo Việt Nam bổ nhiệm chính thức làm huynh trưởng của thiếu đoàn Lê Lợi vào mùa hè 1964. Cuộc đời Hướng Đạo của tôi liên tục dù rằng về sau tôi đi nhiều nơi do chuyển đổi công tác.
Đồi
Cù. Thật lòng mà nói – là nơi tôi đã nhận được sự huấn
luyện
- một phương pháp giáo dục nhằm bổ túc cho phương pháp
giáo
dục của học đường và gia đình để trở thành con người “tương
đối
tử tế”. Tôi chỉ dám nói “tương đối”, không hơn thế nữa. Cả một
thời
niên thiếu của tôi đã gắn liền với những ngọn đồi thoai thoải
nằm
nghiêng mình bên hồ nước trong xanh đồng thời với núi rừng
bạt
ngàn của một thời Lâm Viên rừng núi bao quanh. Phương pháp
của
Hướng Đạo là dùng bối cảnh thiên nhiên để giáo dục thanh thiếu
niên.
Người sáng lập Phong Trào Hướng Đạo rất có lý khi dùng thiên
nhiên
làm sân chơi rộng lớn cho cho tuổi trẻ. Những bài học rút ra từ
nhiên
nhiên khiến con người cởi mở hơn, rộng lượng hơn, nhân ái
hơn,
vị tha hơn…Lòng yêu thiên nhiên, yêu cỏ cây và động vật cũng
phát
sinh từ đó. Tôi bước chân vào đời mang theo ba báu vật: sự giáo
dục
của gia đình, của nhà trường và của Phong Trào Huớng Đạo.
Cả
vài chục ngọn đồi cỏ xanh liên tục nối nhau trên Đời Cù bao
la
dẫn dắt một thời tuổi trẻ của tôi hướng theo điều thiện và lẽ
phải.
Nơi
đó tôi được các huynh trưởng dạy cho tôi biết thế nào là Trọng
Danh
Dự (điều luật thứ nhất), Lòng Trung Thành (điều luật thứ hai),
Tinh
Thần Giúp Ích (điều luật thứ ba), sự Thân Thiện và Tình Bằng
Hữu
(điều luật thứ tư), tính Khiêm Nhường và Lễ Độ (điều luật thứ
năm),
Yêu Thương các loài sinh vật (điều luật thứ sáu), đức Vâng Lời
(điều
luật thứ bảy), Vui Tươi khi gặp khó khăn (điều luật thứ tám),
Tiết
Kiệm của mình và của người (điều luật thứ chín), Trong Sạch từ
Tư
Tưởng, Lời Nói đến Việc Làm (điều luật thứ mười). Giữ và thực
hành
10 điều luật nói trên trong suốt cả cuộc đời, chứ không phải chỉ
lúc
mặc bộ đồng phục Hướng Đạo. Do đó trong lời hứa của một
Hướng
Đạo Sinh bắt đầu bằng câu: “Tôi xin lấy danh dự hứa cố gắng
hết
sức: 1/ Làm tròn bổn phận đối với Tín Ngưỡng Tâm Linh, Tổ Quốc
và
Quốc Gia tôi. 2/ Giúp Ích mọi người bất cứ lúc nào. 3/ Tuân theo
luật
Hướng Đạo.
Từ
những em Hướng Đạo Sinh cho đến các Huynh Trưởng lúc
nào
cũng phải “Cố Gắng”. Tại sao chỉ là “Cố gắng”. Đơn giản: Hướng
Đạo
là một cuộc chơi dùng bối cảnh cảnh thiên nhiên để giáo dục với
tinh
thần “tự nguyện”. Không ai bắt buộc ai. “Tự Nguyện” là một
trong
ba nguyên lý của Phong Trào Hướng Đạo. Cho nên những ai đã
tham
dự trò chơi Hướng Đạo đều phải “cố gắng hết sức mình” là như
thế.
Không bắt buộc. Không cưỡng ép. Không “bắt phải” thế này thế
nọ.
Vì vậy mà Phong Trào Hướng Đạo Thế Giới đã tồn tại và phát
triển
trong hơn một thế kỷ qua. Riêng Hướng Đạo tại Việt Nam đến
năm
2030 là tròn một thế kỷ. Đến đây tôi cũng xin mạn phép nhắc
đến
tên người sáng lập Phong Trào Hướng Đạo Việt Nam là Trưởng
Trần
Văn Khắc. Tôi cũng như tất cả Hướng Đạo Sinh tiền bối từ năm
1930
cho đến nay, gần một thế kỷ, lúc nào cũng tỏ lòng kính trọng và
biết
ơn Trưởng Trần Văn Khắc. Tôi may mắn là được gặp và sinh hoạt
chung
với Trưởng Trần Văn Khắc trong thời gian còn ở Đà Lạt.
Tôi
lớn lên cùng Đồi Cù và 10 điều luật Hướng Đạo. Khi nhìn lại
Đồi
Cù trong tâm tưởng, đối với tôi là một Đồi Cù thuần khiết màu
xanh
cỏ non, là những cụm thông quanh năm vi vu cùng nắng sớm
mưa
chiều, là một bầu trời xanh ngát được trang điểm bằng những
đụn
mây trắng lảng đảng hiện ra mang hình dáng của những thú rừng
hoặc
những loài chim hay hình dáng của những thiên thần chợt hiện
chợt
biến. Những cánh diều làm bằng giấy học trò buộc vào dây chỉ
cùng
bạn bè chạy lên đồi cao, bước xuống lũng thấp chập chùng
những
ước mơ tuổi trẻ bay cao. Quên làm sao được những buổi
chiều
vàng lang thang trên những ngọn đồi cao thấp tay cầm tập vở
mơ
mơ màng màng với những trang chữ mực xanh bỏ quên ngoài trí
nhớ.
Vẫn nhớ những buổi chiều ngồi tựa vào gốc cây thông già tay
cầm
trang sách mở mà mắt đã lim dim khép lại chừng như đang nghe
câu
“gửi gió cho mấy ngàn bay…” đâu đây. Không thiếu những buổi
trưa
hè vùng vẫy dưới làn nước xanh hồ Xuân Hương rồi bước lên
Đồi
Cù gom mớ lá thông khô nhóm lửa sưởi ấm.
Đốt
lửa trại trên Đồi Cù cũng là những hình ảnh khó quên trong
những
kỳ trại Hướng Đạo. Về khuya đứng trên đồi cao ngắm chòm
sao
Hiệp Sĩ để nhớ đến vị thánh bổn mạng của Hướng Đạo – Saint
Georges
– đã hy sinh thân mạng để cứu người khốn khó. Trời càng về
khuya
chòm sao Bắc Đẩu càng hiện rõ ở cuối bầu trời trong vắt là
chòm
sao định hướng về phương Bắc theo cách nhìn của thiên văn
địa
lý, nhưng đó chính là vị sao soi đường dẫn lối trong đêm tối để
đưa
tuổi trẻ hướng về “Nguồn Thật” và “Lẽ Phải”.
Đồi
Cù với những hình ảnh còn rất rõ nét đã trở thành những
kỷ
niệm mà tôi không bao giờ quên. Đồi Cù với tôi – như nửa phần
thể
lý, nửa phần tâm linh. Nhưng không phải riêng một mình tôi
được
hưởng đặc ân từ món quà của tạo hóa mà hầu như những
người
dân Đà Lạt “trước”đều được hưởng ân huệ đó. Đặc biệt là
những
“nam thanh nữ tú” đã từng diù nhau từng bước từng bước lên
Đồi
Cù để trao cho nhau những lời yêu thương gắn bó dưới sự chứng
giám
của trời xanh, cây cỏ và hương vị của Tình Yêu và Hạnh Phúc.
Sau
cái ngày nghiệt ngã của tháng tư 1975 Đồi Cù đã bị nhốt
trong
vòng kẽm gai gần bốn thập niên, nay người ta đã mang ra hành
quyết.
Da thịt Đồi Cù là một mảng đỏ đang bị cày xới chẳng khác nào
con tim của Đà Lạt đang loan máu.
trong vòng kẽm gai gần bốn thập niên, nay người ta đã mang ra hành
quyết. Da thịt Đồi Cù là một mảng đỏ đang bị cày xới chẳng khác nào
con tim của Đà Lạt đang loan máu."
Đọc nhiều lần, chừ đọc nữa, mỗi lần đọc, mỗi lần đau...
ĐỒI CÙ và những người sinh ra & lớn lên ở xứ Ngàn Hoa, Xứ Ngàn Thông, Xứ Sương Mù, Xứ Anh Đào... bao nhiêu mỹ từ thương mến cho cái Xứ của anh chị, của L, của nhiều người nay đã thật ít tuổi.. luôn trong tim...
.jpg)
No comments:
Post a Comment