Thursday, June 22, 2017

TUY HÒA MỘT THỜI ĐỂ NHỚ (Phạm Cao Hoàng)






Sau một thời gian xa nhà,  năm 1970 tôi quay  về  lại Tuy Hòa.
Tuy Hòa là một thành phố biển, giữa Nha Trang và Qui Nhơn, nằm bên bờ sông Đà Rằng, dưới chân núi Nhạn. Người Tuy Hòa hiền hòa, hiếu khách, đặc biệt rất yêu thơ.
Về đây tôi có dịp gần gũi với những người cầm bút của Tuy Hòa và tham gia các sinh hoạt văn học nghệ thuật của thành phố dễ thương này.
Người tôi gặp gỡ nhiều nhất là anh Trần Huiền Ân, tác giả tập thơ THUYỀN GIẤY, nổi tiếng với những bài thơ đậm đà màu sắc quê hương. Thơ của anh  đã  từng  được dùng trong sách giáo khoa dành cho học sinh bậc tiểu học do ông Bùi Văn Bảo  biên soạn. Trần Huiền Ân chơn chất, đôn hậu, nhã nhặn, và khiêm tốn. Anh có khả năng ở nhiều lĩnh vực: văn, thơ, biên khảo, và cả hội họa nữa..Một người luôn sát cánh bên Trần Huiền Ân và tôi là   Đỗ  Chu Thăng, tác giả tập thơ CHÂN CẦU CŨ. Đỗ Chu Thăng là giáo sư toán thuộc loại giỏi, nổi tiếng là một nhà giáo rất nghiêm khắc với học trò. Ngoài đời anh là một thi sĩ hiền lành, nhũn nhặn, được nhiều người quí mến và kính trọng. Sáng nào ba chúng tôi cũng gặp nhau ở bãi biển rất sớm để tắm biển, sau đó tỏa ra các trường để dạy học. Cuối tuần chúng tôi thường gặp nhau ở nhà anh Lê Công Minh, bút hiệu Lê Phương Nguyên, ở đó rất nhiều đêm thức trắng, cùng làm thơ, đọc thơ. 
Hầu như chiều nào tôi cũng gặp Phạm Ngọc Lư. Phạm Ngọc Lư gốc Huế, sau khi tốt nghiệp sư phạm được bổ nhiệm về dạy ở Tuy Hòa. Lư xuất sắc cả văn xuôi lẫn thơ, đặc biệt có tài thổi sáo và rất giỏi chữ Hán. Có một bài thơ của Phạm Ngọc Lư hồi đó tôi thuộc lòng, nghĩ rằng đây là một bài thơ hay, nhưng sau này trong hai tập thơ Lư xuất bản tôi không thấy có bài thơ này. 
KỲ HUÊ
Đêm nay trong cõi tôi về
Ngát hương xuân động Kỳ Huê ra đời
Xin vàng ươm nụ đầu môi
Thếp sơn cành lạ vẽ chồi lộc non
Đêm nay tôi mất hay còn
Gieo tình xuống cát đợi mòn dấu cây
Ơn xin rễ mọc lòng tay
Nâng niu tuổi mọn xuân đầy trong Huê
(Thơ Phạm Ngọc Lư, 1971)

Một khuôn mặt cũng rất gần gũi với tôi là Mang Viên Long, nổi tiếng với những truyện ngắn sắc sảo và tinh tế.  Anh gốc ở Bình Định, vào Tuy Hòa dạy học. Mang Viên Long sôi nổi và năng nổ. Giai đoạn ấy, trong số những cây bút ở Tuy Hòa, Mang Viên Long là người viết khỏe nhất. Đi dạy thì thôi, về tới nhà là cứ ngồi trước máy đánh chữ gõ lọc cọc. Lúc nào cũng thấy anh tất bật với việc viết lách.
Tuy Hòa là nơi sản sinh ra nhiều cây bút viết truyện ngắn xuất sắc. Môt trong những cây bút xuất sắc đó là Nguyễn Lệ Uyên.  Nguyễn Lệ  Uyên dạy học ở Gò Công, chỉ về Tuy Hòa  vào  dịp  nghỉ hè hay Tết Nguyên Đán. Nguyễn Lệ Uyên mê sách, báo, đọc nhiều, và nắm được nhiều nguồn tư liệu.
Tuy Hòa có một thi sĩ nổi tiếng rất sớm: Hoàng Đình Huy Quan, tác giả tập thơ MỞ CỬA. Lúc tuổi chưa tới hai mươi, Hoàng Đình Huy Quan đã có tên trong ban biên tập của tạp chí VĂN HỌC ở Sài Gòn. Khi tôi quay về lại Tuy Hòa thì Hoàng Đình Huy Quan đã lưu lạc vào nam bộ, thỉnh thoảng mới về gặp gỡ anh em. Thời gian này Hoàng Đình Huy Quan thành lập nhà xuất bản ĐỒNG DAO. Các tập thơ ĐỜI NHƯ MỘT KHÚC NHẠC BUỒN của Phạm Cao Hoàng, CHIẾN TRANH VIỆT NAM VÀ TÔI của Nguyễn Bắc Sơn,  NĂM NĂM DÒNG SÔNG THƠ  của  Trần Huiền Ân,  DẠO NÚI MÌNH TA của  Hà Thúc  Sinh,  CHÂN CẦU CŨ  của  Đỗ Chu Thăng,  TRÊN THẢM CỎ XANH ĐỜI của Khánh Linh, GIỮA MUÔN NGÀN LY BIỆT của Quan San… do nhà xuất bản ĐỒNG DAO ấn hành  trong những năm ấy là nhờ một phần công sức của Hoàng Đình Huy Quan.
Nhắc đến văn nghệ Tuy Hòa không thể không nhắc đến Khánh Linh, Triều Hạnh, Nguyễn Tường Văn, Phan Bá Chức, Nguyễn Sông Ba, Nguyễn Duy Tẩm. Khánh Linh và Triều Hạnh tôi gặp khá thường xuyên. Còn Nguyễn Tường Văn, Phan  Bá  Chức, Nguyễn Sông Ba và Nguyễn Duy Tẩm ở Đà Lạt, lâu lâu về nhập bọn, rất vui.
Không gian văn nghệ Tuy Hòa những năm đầu thập niên 70 vô cùng ấm cúng.  Trong  một  lần sinh hoạt chung với anh em văn nghệ Tuy Hòa, nhà văn Duyên Anh rất bất ngờ về sự ấm cúng này. Sau này, Duyên Anh có viết lại kỷ niệm lần gặp gỡ ấy  trong bút ký CŨNG GỌI LÀ MỘT CHUYẾN ĐI.
Văn nghệ Tuy Hòa có số thân hữu lên đến hàng trăm, mà hầu như lúc nào họ cũng có mặt trong những buổi sinh hoạt văn học nghệ thuật và những đêm thơ nhạc do chúng tôi tổ chức. Họ dành cho chúng tôi những tình cảm thân thương, những chia sẻ ân cần, và những khích lệ quí báu.  Bên cạnh đó, nhiều cây bút ở các địa phương khác lâu lâu ghé lại làm cho Tuy Hòa ấm áp thêm. Vùng  đất  Tuy   Hòa dạo ấy đã có dịp đón tiếp nhiều cây bút tài hoa: Trần Hoài Thư, Phạm Văn Nhàn, Lê Văn Trung, Tạ Chí Đại Trường, Đỗ Toàn, Thế Vũ, Nguyễn Âu Hồng, Nguyễn Sa Mạc, Lê Ký Thương, Nguyễn Việt Nam, Huỳnh Hữu Võ,  Nguyễn Lệ Tuân,  Tô Duy Thạch,  Lê Văn Thiện, Trần  Vạn  Giã,  Nguyên  Minh,  Võ Tấn Khanh...  Riêng Nguyên Minh và Võ Tấn Khanh sau này bám rễ và thành rể Tuy Hòa luôn.
Chúng tôi có nhiều kỷ niệm với hai quán cà phê: cà phê CÂY PHƯỢNG ở gần trường trung học Nguyễn Huệ, và cà phê NHỚ gần ga xe lửa.
Chủ nhân  quán  CÂY PHƯỢNG  là  anh Lê Tăng Mính, một người yêu thích văn chương. Sách của chúng tôi gửi ở các nhà sách bán không chạy lắm, nhưng gửi ở quán CÂY PHƯỢNG thì bán được khá nhiều.  Trong  sân quán có một cây phượng rất lớn. Các áp-phích giới thiệu sách mới xuất bản được treo trên các cành phượng. Chủ nhân quán NHỚ là cô V, nhân vật đã từng được Duyên Anh nhắc đến trong bút ký tôi đề cập ở trên. Sau này tôi gọi quán NHỚ là QUÁN CỦA NGƯỜI TÊN V.  (Cao Thoại Châu  có  một bài thơ nổi tiếng, tựa đề QUÁN CỦA NGƯỜI TÊN V(*). Tôi mượn anh Cao Thoại Châu tựa đề   này để đặt tên cho quán NHỚ ở Tuy Hòa). Mỗi một người trong  chúng  ta đều gắn bó với  một  góc  quán, một con đường nào đó . Anh Lê Tăng Mính không còn, nhưng  QUÁN CỦA NGƯỜI TÊN V.  ở   Tuy  Hòa thì vẫn còn đó. Nếu có  dịp  trở  lại  Tuy  Hòa,   một  trong những nơi tôi cần đến để tìm lại những kỷ niệm của một thời sẽ là QUÁN CỦA NGƯỜI TÊN V.
Tuy Hòa 1970-1972 là những tháng năm đầy ắp kỷ niệm trong tôi. Bước giang hồ tưởng đã dừng lại, nhưng rồi tôi lại ra đi, và lần đi này là biền biệt.  Tôi trôi giạt về Đơn Dương,  Đức Trọng,  Đà Lạt;  cho  đến  một ngày tôi phải làm  chuyến  đi  xa nhất của đời mình. Trong hành trang mang theo ngày tôi rời đất nước có những giọt sương của cao nguyên Lâm Viên, có tiếng sóng biển của Qui Nhơn, có tiếng gió biển của Phan Thiết, và có mây khói của Tuy Hòa mà một thời đã làm nhẹ bước chân tôi.
Phạm Cao Hoàng
Virginia 2009



Post a Comment