THÔNG BÁO SỐ 1

ĐẠI HỘI 9 “THUYỀN VIỄN XỨ”: THÔNG BÁO SỐ 1

(Xin bấm vào những chữ trên để xem chi tiết)

Friday, April 21, 2017

BÊN MỘT GIÒNG SÔNG (GS. Hoàng Thế Hào)

Kính thưa quý thầy cô & các anh chị,
 Thầy Hoàng Thế Hào lúc nào cũng bận rộn dạy đàn, bên cạnh đó còn chương trình “Live TV” mỗi tuần, nên chờ bài thầy dài cả cổ.  Tuần này,  thầy gởi hồi ký: “Bên Một Giòng Sông” kể lại tình cảm nhẹ nhàng cùng những phá phách, chọc ghẹo, mến thương…với bao kỷ niệm vui buồn của tuổi học trò, chắc chắn sẽ làm mọi người ngạc nhiên thích thú.
Trân trọng,
Thukỳ.


Bên một giòng sông

Đi tới đoạn đường này, tôi bắt đầu thấy gió mát, một mùi nồng thoảng rất lạ của thiên nhiên bốc lên từ một giòng nước; tai lại nghe thấy những âm thanh nhỏ rung lên từ những lay động của biết bao nhiêu
cành lá xanh tươi. Đường bắy đầu đổ dốc và chẳng bao lâu tôi đã trông thấy mặt nước ở cuối con đường. Chúng tôi đi mau gần như chạy trên đường đá rộng này mà hai bên mọc những cây bã đậu cao lớn mình đầy gai nhọn. Có đứa bạn bảo tôi:  cây bã đậu là cây ngô đồng vì cây ngô đồng không trồng mà mọc - đâu có ai mà trồng cây bã đậu trong vườn đâu! Có đứa bạn lại bảo cây ngô đồng bên Tàu mới có, chứ nước mình chỉ có cây vông để làm guốc hoặc là cây hoa gạo thôi. Tháng ba hoa gạo nở ra đỏ như những vết máu dính trên cây, cũng là lúc khí trời oi bức làm cho những con chó phát điên. Còn cái thằng bạn tên là Điểm đang đi bên cạnh tôi thì cho rằng cây ngô đồng chỉ là cây ngô đồng, không phải cây gì khác. Tốt hơn hết là dẹp cái cây ngô đồng của tôi sang một bên và nó chỉ cho tôi thấy dưới dốc có ba đứa con gái đang ngược chiều đi lên, nói cười ríu rít.


Đó là Túy, Hà và Kim Lan; ba đứa học cùng lớp tôi hôm nay mặc đồ bà ba, tay cầm nón, xách guốc, xách giỏ. Ba đứa con gái thấy chỉ có hai con trai thôi đâu có sợ gì. Hà nhăn răng cười dơ cao tay cầm guốc như muốn bổ xuống đầu tôi:
-Có biết lội không mà đòi đi tắm sông, ông nội! ma da bẻ giò bi giờ.
Hà ngồi cuối lớp bên con gái nhỏ tuổi hơn tôi nhiều mà lúc nào nó cũng làm như nó là má tôi vậy; nếu nó là con trai tôi đã vật cổ nó xuống đất rồi. Hai đứa kia không nói gì, lúng liếng mắt cười.
Độ này tôi bắt đầu để ý đến mấy đứa con gái học cùng lớp. Ba đứa này luôn luôn đi cặp mà luôn đi trễ giờ thầy Bùi. Lớp học thường đã học mười lăm phút mới thấy chúng nó lấp ló ngoài cửa . Thầy Bùi dễ tính lắm, a hèm một tiếng lớn, thế là chúng nó cười rúc rích như chuột rồi từng đứa hiên ngang đi vào. Rõ ràng là con gái đẹp thì nó không ngán ai hết, kể cả ông thầy. Tuy thế chúng đi thật sát vào bàn đầu chỗ tôi ngồi vì còn ngại cây thước khá dài của thầy có thể gõ trúng. Hà đi vào trước rồi tới Kim Lan và sau cùng là Túy. Cả ba đứa con gái mới lớn, năm trước ngực bắt đầu phồng lên, đen đen như là tụi nó có lận hai trái mầng quân bên trong, thế mà năm nay đã biến thành ba kiều nữ. Túy đi sau cùng, người mảnh mai, da trắng hồng, tóc nâu sợi nhỏ tha thướt, có khi quệt cả vào tay tôi, biết có cố ý không?
Bỗng thằng Điểm quay lại nói lớn làm tôi hết hồn:
-Túy ơi, Túy đẹp quá trời , Hảo thương Túy rồi đó.
Cả ba đứa con gái đứng phắt lại. Túy nhìn thằng Điểm rồi nhìn tôi, môi cong lên:
-Trò Hảo, trò ăn nói gì bậy bạ quá vậy, tui méc ông thanh tra cho trò biết thân.
-Tôi đâu có nói gì đâu, thằng Điểm mà!
-Trò mới nói đó, ai cũng nghe hết, có chứng Hà với Kim Lan nè.
Hà với Kim lan mỗi đứa một câu, giọng khoan khoái:
-Ừa ừa đúng đó!
-Hết đường chối cãi rồi!
Chết mẹ chưa! tôi bước đi mà lòng buồn muốn chết. Lỡ ba đứa nó kéo tới văn phòng mà nói với cha tôi thì rồi đời! Bao nhiêu niềm háo hức khi cái thằng Điểm du côn mắc dịch này rủ tôi đi tắm sông lần đầu với nó tan theo mây khói. Ra tới bờ sông tôi vẫn còn thắc mắc không hiểu sao Túy lại lộn tiếng tôi với giọng thằng Điểm, mà không lẽ hai đứa kia cũng lộn nữa sao! Nhưng tôi cứ giận thằng Điểm, tại sao lại đi kiếm chuyện với mấy đứa con gái để bây giờ thêm rắc rối. Tôi nhất định ngồi bên bờ sông coi một nguời câu cá bằng hột bắp luộc, mặc cho thằng Điểm nhào lộn dưới sông, không thèm nhờ nó tập bơi.
Liên tiếp mấy ngày hôm sau, tôi hồi hộp chờ đợi cha tôi gọi lên trị tội, nhưng chuyện đó mãi không xảy ra. Buổi chiều tôi thường đi học rất sớm, hay thơ thẩn ở khu rừng cây trước cổng trường. Đó chẳng phải là khu rừng hoang vì có những lối mòn quanh co xuống dốc mà chỗ thấp nhất là một giòng suối. Gần đó có vài ống tre cắm sâu vào một tường đồi và lúc nào cũng có nước chảy ra; người ta gọi là Giọt và đến đó tắm giặt. Phía ngoài bìa rừng có rất nhiều cây phượng, hè đến thì  nở hoa đỏ rực và lũ ve kêu ran. Cái lũ ve này hình như được chỉ huy bởi một ve nhạc trưởng. Thỉnh thoảng chúng đồng loạt im bặt, khiến không gian trống vắng làm tôi nghe được tiếng suối chảy róc rách và tiếng những đứa trẻ nô đùa dưới những giọt nước; rồi một cô ve giọng tốt độc xướng khá lâu, sau đó tất cả lại đồng loạt hòa tấu cái khúc ca mùa hè rền rĩ nỉ non. Nhưng bây giờ còn lâu mới đến hè.
Lúc trở lại lớp học, cửa hé mở, tôi thấy Túy ở trên bảng đen đang viết vẽ cái gì đó. Cũng lạ thật, vì Túy không bao giờ đi học sớm như vậy, mà đi có một mình. Trông thấy tôi, Túy tươi tỉnh hẳn, không cong cớn như bữa hôm nọ trên dốc bờ sông:
-Túy bỏ quên bài tập lý hóa ở nhà rồi, làm ơn cho Túy mượn cái xe đạp chạy về nhà chút xíu đi.
Lớp học vắng lặng, bàn ghế nghiêm trang quá, ánh nắng buổi chiều bắt đầu chiếu nghiêng qua hai cửa sổ lớn làm cái áo dài trắng của Túy bừng sáng trước bảng đen, làm cho câu nói đó một âm vang đặc biệt - vì đó cũng là lần đầu mà Túy xưng tên với tôi với một cái giọng hết sức ngọt ngào.
Đã nhiều năm chúng tôi cùng học một lớp. Chúng tôi biết rõ từng căn nhà của nhau, cha mẹ và cả anh em những đứa bạn cùng lớp: nhà thằng Thân có cây me cao lớn lắm, anh em nó không đứa nào dám leo, chỉ đứng dưới mà thọc. Nhà thằng Quán có một vườn nhãn, tới mùa nhãn chín phải lấy rọ tre bọc các chùm nhãn lại không thì lũ dơi phá hết. Đến nhà nó vào lúc nhãn chin, nó cho ăn không biết đường về. Nhà thằng Quý không có gì hết, ở ngay bên cánh đồng; muốn cầy ruộng thì đến đó mà cầy với cha nó. Cầy đã rồi thì cha nó bắt nhậu đế, hút thuốc lào, say gần chết. Còn nhà Túy ư? Ngày nào tôi chẳng đạp xe qua: một căn nhà kiểu Tây lại lợp ngói âm dương, bên toàn những cột kèo đen thui. Nhà có vưởn sau rộng lắm, không biết bao nhiêu là loại cây mọc lỉnh kỉnh trong vườn: nhãn, ổi, thị, khế, thanh long, thanh trà, bình bát, mầng quân và bao nhiêu cây sứ cây lựu nở hoa tưng bừng. Nhưng không có đứa con trai nào dám đến: ở căn giữa lúc nào cũng có cha Túy ngồi viết chữ Tầu trên cái bàn đen trước bàn thờ, tường cũng treo toàn chữ với tranh. Cha Túy là ông Nho nói chữ thánh hiền. Chúng tôi không đứa nào có được ba chữ lận lưng, sao mà dám đến.
-Vậy chứ Hảo có cho Túy mượn xe không? Túy lặp lại.
-Ừ được mà, nhưng xe của tôi có cây đồng dông, làm sao Túy đi được?
-Vậy chứ Hảo không biết chở Túy à?
Túy trả lời rất nhanh rất gọn, mắt nhìn đăm đăm khiến tôi choáng váng, ngần ngừ ấp úng. Nàng bồi thêm:
-Chỉ đi qua có một cái sân đá banh, vài ba con đường nữa là đến nhà rồi, Hảo chở không nổi sao?
Lúc ấy tôi không nhớ chuyện cũ trên dóc bờ sông, đôi mắt long lanh ấy còn hơn là một mệnh lệnh. Tôi líu ríu đi tìm cái xe đạp...

Trời ơi! Lỡ có ai quen mà trông thấy thì chắc chết, nên tôi đạp rất mau, có một Túy ngồi sau, chứ có hai cô Túy thì tôi vẫn chạy như bay.
-Chậm chậm lại đi, bộ sợ người ta thấy chở Túy sao?
Túy ngồi sau cằn nhằn khiến tôi phải bấm bụng mà đạp chậm lại.
Đoạn đường này trồng toàn cây muồn hoa vàng chen lẫn ít cây keo. Nếu đi bộ tôi hay gỡ những cục keo dính dưới gốc cây, chính là những cục keo mà khi học tiểu học, mấy đứa học trò thường hay liếm rồi chà lên giấy màu để dán khi làm thủ công. Những trái keo thì lòng khòng như trái me, xanh xanh hồng hồng mà nhẹ hửng; nếu thấp một chút là bị tôi tóm liền, ngon ơi là ngon. Hôm nay tôi cũng đi trên đường này, nhưng không được thong thả; Một cô bạn nhiều uy quyền ngồi sau lưng mà trong tôi chen lấn một cảm giác lạ lùng khó tả. Đi ngang qua trường tiểu học tôi nghe tiếng Túy nói nho nhỏ:
-Hảo còn nhớ thầy Xuân Hà không?
-Nhớ lắm chứ! Cha tôi bảo bây giờ thầy cô ở trong Sài gòn, nhà gần trường Đại học Sư phạm ,thầy vẫn dạy học.
-Hảo có nhớ cô Bạch Liên không?
-Nhớ chứ sao không! cô Bạch Liên hát hay, có bàn tay để múa đẹp như tay Phật.
Thế rồi Túy không nói gì nữa, có lẽ Túy để yên cho tôi thả hồn về dĩ vãng của những ngày nhỏ chúng tôi đi học bên nhau: Cả tỉnh chỉ có một trường tiểu học công lập, khi chúng tôi học hết lớp nhất thì mới mở trường trung học. Năm nào cũng từng ấy khuôn mặt, đứa nào cũng được lên lớp; Bẹt hạng là thằng Quý heo, vừa học vừa cầy phụ cho cha nó vẫn cứ lên lớp như thường. Đứa nào ngồi yên chỗ ấy. Mấy năm liền Túy ngồi bên trái tôi, ngay bàn đầu con gái, chỉ cách có một lối đi rất nhỏ.
Thầy Xuân Hà thường cho làm toán chạy; mười đứa đầu tiên làm xong, chạy lẹ lên nạp bài thì có điểm tốt. Cũng có khi thầy kêu một đứa lên đứng sau cái bảng quay, rồi cho cả lớp cùng làm một bài toán với đứa đứng sau bảng. Khi thầy hỏi “xong chưa”, nếu tất cả đã làm xong thì đứa sau bảng sẽ quay bài viết bằng phấn của nó cho tất cả mọi người cùng xem.
 Tới phiên tôi lên bảng, khi tôi quay cái bảng ra cho mọi người cùng xem, không biết tôi tính toán ra làm sao mà cả lớp cười lên dữ dội - cười lâu và dữ dội đến nỗi tôi về chỗ ngồi, gục đầu xuống bàn bật khóc. Chỉ có mình Túy là không cười. Tuý quay lưng đứng phắt dậy, giận dữ cau có:
-Cười gì mà cười người ta dữ vậy?!

Lớp tôi vốn thương nhau, mọi người chợt hiểu đã làm tổn thương người bạn nhỏ nên im bặt, im luôn. Cũng từ hôm đó thầy không cho làm toán trên bảng quay nữa.
Thầy Xuân Hà còn có cây đàn guitar và là người đầu tiên dạy chúng tôi học hát đàng hoàng sau cái bài không cần phải dạy mà đứa nào cũng hát được là bài quốc ca.
Cuối năm lớp nhất, sắp tới phát thưởng. Túy và mấy đứa con gái được cô Bạch Liên kéo qua lớp khác tập múa, lập tức mấy đứa con trai chúng tôi rủ nhau đi coi cọp. Trong tiếng hát ngọt ngào của cô Bạch Liên, tiếng đàn guitar êm êm giữ nhịp của thầy Xuân Hà, Túy đứng giữa đám, nổi bật trong bộ đồ Lèo với váy đen bó chặt, áo chàm, khăn hồng, uyển chuyển trong điệu múa dùng rất nhiều cử động của hai bàn tay.. . Khi buổi tập vừa xong , tôi năm đó còn bé lắm, ngơ ngẩn lờ khờ đến bên Túy hỏi:
-Bộ con gái Lèo đẹp dữ vậy sao?
Trong bộ đồ Lèo chưa kịp thay, Túy không trả lời, hai hàm răng nghiến lại, vai co lên, cổ rụt vào, nó quay đi nửa vòng cười mãi - vui lắm vì có một chú bé thật thà khen đẹp.
Bây giờ chúng tôi đang ngồi chung trên một cái xe đạp đi qua chốn cũ; ngoại trừ hàng cây có cao lớn hơn, mọi thứ khác vẫn y nguyên như xưa: cái hành lang thật dài, cái trống bịt da hai đầu treo ở ngay chỗ lớp tôi học vẫn còn đó. Mỗi ngày ông cai trường cao lều khều đánh cái trống này mấy lần. Trước khi đánh trống, sợ chúng tôi giật mình, bao giờ ông cũng gõ nhẹ vài tiếng vào tang trống. Những đứa bé ham chơi như tôi rất mê nghe hồi trống tan trường ấy. Tiếng đầu thật là mạnh, sau đó nhỏ dần và cứ thế lặp lại hai đợt nữa. Chắc ông cai trường cũng thích đánh cái hồi trống cuối cùng đó nhất, nên ông đập mạnh lắm, mạnh đến nỗi bây giờ nó vẫn còn âm vang rung động trái tim tôi. Đứng dưới cái trống đó, tôi đã hỏi người đẹp đang ngồi sau lưng câu hỏi khù khờ ngớ ngẩn.
Giờ thì tôi hát nho nhỏ cho Túy nghe bài hát năm xưa tôi đã thuộc lòng trong lúc hai tay đeo vào khung cửa sổ ngóc đầu lên nhìn:

Nhớ nước non xưa Lào
cùng tiếng ca bên rừng,
nàng khoe xiêm áo,
múa hát ca vang lừng.
Nhớ suối reo bên rừng,
cất tiếng ca đồi thông,
nhớ những cô đợi chồng ,
ngồi dệt xà rông...

Chắc là Túy cảm động lắm, nên một cái gì nằng nặng ấm áp đè lên sau vai tôi ..Vừa mắc cở lại vừa sung sướng, tôi mong cho đường dài hơn lại vừa sợ người quen trông thấy. May làm sao, vì tôi đi học quá sớm nên đoạn đường đi về nhà Túy không gặp một đứa bạn nào.
Qua hàng bông sứ, là vào tới sân. Một con chó màu trắng ra vẫy đuôi không sủa tiếng nào. Không thấy cha Túy ngồi trên cái bàn đen viết chữ, có lẽ ông đã đi nghỉ trưa, thiệt là đỡ khổ cho tôi. Năm trước có lần đến nhà Túy cùng với một lũ bạn, trai có, gái có, mà tôi không nhớ là dịp nào, có thể là ngày giỗ mẹ. Túy đi nấu chè đậu xanh đãi các bạn. Lúc ngồi chơi ở hiên nhà sau, cha Túy đi qua đi lại ngắm nghía rồi hỏi tôi chuyện học hành.
-Dạ thưa bác con đứng hạng cũng gần chót lớp.
-Vậy là thua con Túy sao?
-Dạ thua.
-Mày là con phượng chứ đâu phải con gà, sao không ráng học hành chăm chỉ hả con?
Con Hà lẻo mép liền đỡ lời cho tôi:
-Bác nói trò Hảo là con phượng thì trỏ sẽ là con phượng; con phượng đâu cần ráng học gi-ỏi đâu!
Ông Tư Hướng không nói năng gì, đi lại gần con Hà, cú đầu nó một cái.
Mùa hè năm rồi, chị Ngọc Châu của tôi về nhà kèm toán cho tôi, tôi có khá hơn chút đỉnh, nhưng cũng còn xa Túy lắm, nên tôi không muốn gặp ổng, sợ ổng lại hỏi chuyện học với hành! Bỗng tôi buột miệng nói:
-Sao không hỏi tôi cái chuyện chơi?
-Hả? cái gì? Hảo nói gì?
Túy mang ra cho tôi một ly nước trà vừa hỏi lại cái câu không nghe rõ.
-Ồ không! Túy kiếm bài tập lẹ lên rồi tôi chở về trường đi học..


Chủ nhật trời trong và đẹp làm sao khi gió thổi xào xạc mấy ngọn trúc bên nhà chị Thụy Anh. Tôi đi tìm mấy đứa bạn ở gần nhà. Thằng Điểm mắc phụ cha nó cưa gỗ đóng đinh; thấy tôi nó nhăn nhó chỉ cái lưng cha nó - cái lưng to như bộ ván gõ mà lấm chấm mồ hôi - rồi khoát tay lắc đầu. Tôi lẩm bẩm rủa: đồ Điểm lùn, cứ đóng đinh mãi làm sao cao lên được!”Tới nhà thằng Hải, chị Đạm nó bảo: “đi Phật tử rồi”Tôi lại thêm bực mình: “ra chùa thì chỉ hít khói nhang chứ mày được cái giống gì!”. Chỉ còn một thằng nữa là thằng Lang; người nhà nó nói vọng ra một câu cụt lủn: “biếc nó mô đâu!”. Có tiếng ôn nó léo nhéo:
-Chàu rày á, đứa nào tợi kiểm thằng Lang, trên tay không có cuộng sách cuộng vở, tau đập một cái chết  bà tổ.
Ôn nó không đi lại được nữa, chỉ ngồi trên giường. Ổng quên rằng cục cưng của ổng còn làm biếng học hơn tôi một bậc. Trong lớp đứa nào cũng gọi lén nó là Lang sùng. Tôi cũng đâm sùng máu, bứt một lá quỳnh của ổng ( chỉ dám bứt một lá ) đạp nghiến dưới chân. Tôi vừa buồn, vừa giận tôi, ngủ gì mà ngủ quá trời quá đất để tụi nó vuột mất tiêu.
Lang thang một hồi, tôi cũng lại thấy tôi ra phía giòng sông, ngay chỗ bến phà. Tôi đành ngồi đó chờ bạn tôi ra, mãi cũng chẳng thấy một đứa nào. Thằng Cho chắc là đá banh với trường Lasan. Thằng Phú chắc đang đạp xe đạp ở đâu đây. Còn ba cô nàng đó hay đi phà qua bên kia sông  lắm, mà sao hôm nay cũng biệt tăm. Con sông này lòng nhỏ, bờ rất cao phía thành phố, bờ bên kia thấp là cánh đồng mênh mông, nước sông chảy mạnh. Có người kỹ sư giỏi mới căng một sợi dây cáp lớn ngang giòng sông.Một cái ròng rọc có thể chạy qua lại trên sợi dây cáp đó. Người ta dùng dây nối chiếc phà với cái ròng rọc đó. Tùy theo góc độ hứng nước, cái phà hình chữ nhật dài với bao nhiêu là người và xe cộ cứ tà tà nghiêng nghiêng mà qua lại, chẳng cần máy móc chi hết. Có người bảo có ngày sợi dây cáp đứt thì phà sẽ trôi băng băng về phía mặt trời Tây. Nhưng chuyện đó chưa xảy ra, mà nếu có thì cũng còn có hai cây cầu gỗ thấp nối một cái đảo cát với hai bờ chận lại.
Lúc ấy tôi đã chán coi người ta đi phà, nên bỏ đi xuống phía đảo cát. mấy đứa con trai mà tôi nhớ mặt hình như học lớp dưới đang ở trên một cái thuyền lớn. Không biết tụi nó đã chôm từ một buôn làng nào bên bờ sông. Chúng nó vừa hò la vừa chèo chống bằng tay không! Tôi thích quá nhảy đại xuống chơi. Được một lát thì thuyền ra xa bờ, tôi mới nhớ là tôi chẳng hề biết bơi lội gì hết; hai ba đứa cứ đứng xông xổng, nều bây giờ thuyền lật thì chắc chết.
Thuyền ra giữa giòng, nước trôi băng băng mà trong vắt, tôi thấy rõ cát đá rong rêu và bắt đầu sợ. Tôi hỏi tụi nó là bơi đi đâu vậy, nhưng thằng nào cũng nhe răng cười, hổng biết đi mô! Rồi cái điều tôi lo sợ đã đến: một thằng rắn mắt đã rút cục điển nút lỗ lù ném đi từ lúc nào! nước phun lên trong thuyền và cứ thế thuyền từ từ chìm xuống. Bấy giờ từng đứa một phóng xuống sông bơi vào bờ nhanh như con rái. Cuối cùng lại, chỉ còn có mình tôi với cái thuyền lập lờ sắp chìm. Thế là tôi cùng đường, cũng phóng ào vào giòng nước chảy xiết ấy.
Tôi là đứa trẻ tỉnh thành, chưa hề biết bơi lội bao giờ nhưng tôi lanh và rất khỏe. Hình như đó là những động tác thiên nhiên ẩn giấu trong tiềm thức: tôi đã chiến đấu kịch liệt với giòng nước cuốn, bơi một hơi dài gần nửa con sông với sức mạnh của một thiếu niên cường tráng. Vì không đúng cách, nên tôi đã phung phí sức lực rất nhiều; cho đến khi bàn tay tôi đụng vào cát, tôi mới biết đã thoát chết và đứng thẳng lên, lết chân vào đảo cát. Áo quần tôi đang mặc là áo quần đi học hàng ngày đã ướt sũng và đôi dép xăng đan đã tuột khỏi chân. Tôi nhìn ra sông, không thấy con thuyền đâu nữa và những thằng nhóc kia đã tụ họp chỗ cũ, bờ bên kia. Hôm nay chúng nó đã chơi một trò chơi kinh khủng.
Tôi bước chân trần trên đảo cát trắng ấy; gần bờ nước có những bụi cây, nhung lên tới giữa đảo thì toàn là cát trắng tinh - cát ở đâu mà nhiều và đẹp đến thế kia? Tôi bắt đầu cởi hết quần áo ra phơi trên cát ; sợ gì chớ? có ai ở đây đâu. Lại một cảm giác lạ nữa khi tôi vốc cát lên người, khi tôi lắc mình chôn tôi trong cát trắng tinh này. Tôi nằm ngửa nhìn trời, chung quanh tôi sóng vỗ quay cuồng, tôi nghe được cả tiếng bọt nước vỡ khi đập vào bờ cát. Ánh chiều nghiêng nghiêng, hất lên cây cầu gỗ cong cong một màu kỳ ảo. Lúc này thật mệt mỏi nhưng dễ chịu quá, tôi chìm dần vào không gian êm ả.
Khi tôi tỉnh dậy, hoàng hôn đã bảng lảng bên sông. Phía Tây nơi con sông chảy về đó đỏ rực như một giòng lửa lay động; cây cầu trông càng đẹp lạ lùng hơn trong màu lửa đỏ trên một nền xanh đậm, thấp thoáng bên sông đã có ánh đèn. Một người đàn ông Thượng mình mẩy trần trụi với độc cái khố đi lảo đảo lắc lư trên cầu, khi nghiêng bên này khi ngả bên kia; có lúc tưởng anh ta rớt xuống sông rồi, nhưng anh ta vẫn không sao cả.
Tôi mặc quần áo vào rồi leo lên cây cầu gỗ đi về nhà. Không còn đôi xăng đan, nên cây cầu gỗ lâu năm thật là nguy hiểm với nhiều dằm gỗ và đinh cũ. Khi đi tới tôi, anh Thượng đứng lại chìa tay ra, đôi mắt đỏ ngầu vô hồn. Tôi không bắt tay anh ta mà bắt được cái mùi rượu cần nồng nặc thả ra từ cái miệng đã cà hết răng cửa. Đi hết cây cầu đã khó khăn, bây giờ lại tới con đường đá dốc. Ngay chỗ này đây, tuần trước con Hà đã dọa tôi : ma da bẻ giò. Đỡ quá hôm nay không có con ma nào hết.
Trời đã tối nhá nhem, chỉ riêng con đường buôn bán mới có đèn điện, tôi lò mò khập khễnh đi trong bóng đêm. 
Những cây phuợng êm đềm lả lướt lúc ban ngày, nay vuơn những tay ra như dọa nạt tôi, nhưng tôi có sợ gì tụi nó đâu. Những cây bã đậu như những người khổng lồ cúi xuống hỏi : lại mày nữa! sao chân què rồi? Mãi rồi tôi cũng lết được tới nhà Túy rồi ngồi bệt trên cỏ bên lề đường mà xoa bóp bàn chân đau đớn. Tôi cũng chẳng hiểu tại sao tôi lại chọn nhà Túy làm chỗ nghỉ chân, mà không phải là một chỗ nào khác.
Túy đang làm bài, học bài gì đó bên ánh sáng của một cây đèn dầu lớn. Da mặt trắng hồng lại càng rực rỡ hơn. Tôi nhìn thấy cuốn bài tập luận văn màu xanh của tôi để trên bàn, tôi không hiểu sao hôm qua Túy cứ đòi mượn cho được. Bỗng có tiếng chó sủa, chắc là tìếng con chó nhỏ; tôi thấy Túy bước ra cửa ngó quanh, gọi con chó vào rồi tiếp tục làm bài ; có lúc  cầm cái gương lên soi; tôi thấy hai cô Túy nhìn nhau. Có lúc Túy lúc lắc cái gương, quay gương ra cửa nơi phía tôi đang ngồi, hai con mắt mở lớn nhìn thẳng vào tôi. Bờ cỏ chỗ tôi đang ngồi khá cao nhưng tối lắm, Túy chẳng nhìn thấy gì đâu, nên tôi cứ đăm đăm nhìn lại. Đó là lần đầu tiên tôi dám nhìn kỹ đôi mắt nàng như thế. Nhưng tôi bỗng giật mình vì thấy Túy cười với tôi - một nụ cười rạng rỡ như muốn nói “Túy biết Hảo đang ngồi ngoài đường đó mà!” nhưng nụ cười chợt tắt, Túy đặt gương xuống viết bài tiếp. Tôi bối rối nửa muốn lên tiếng nửa lại ngồi yên. Rồi tôi nấn ná ngồi thêm để nghe tiếng côn trùng rên rỉ, lâu lâu có tiếng trẻ khóc và nghe tiếng tim mình đập thịch thịch.

Hôm nay giờ thầy Bùi mà không thấy ba cô Kiều đi học trễ. Thầy Bùi  dạy Việt văn, nói giọng Quảng, tóc muối tiêu, hớt kiểu bàn chải, trong khi những đứa con trai chúng tôi đều để tóc dài. Thầy nói nhà thầy ở đường Hoàng tử Cảnh, Nha Trang, phải lưu lạc đến chỗ khỉ ho cò gáy này gõ đầu trẻ. Tôi biết thầy là anh của một ông thi sĩ khùng khùng mà làm thơ hay lắm. Thầy có khuôn mặt với hai con mắt giống y nhà thi sĩ lớn đó – hai con mắt sâu, tròn to hó. Vậy mà tiểu sử của ông thi sĩ mát dây với bao nhiêu là người viết không có nhắc tới thầy, mới lạ chứ?! Thầy cũng dễ tính lắm, nhưng khi trả bài luận văn là lúc thầy bươi móc những lỗi lầm ác ôn của lũ chúng tôi ra. Nhiều đứa con trai không biết cất mặt vô cái hộc bàn nào cho đỡ mắc cở; nhiều đứa con gái tốc vạt áo dài lên che đầu kín mít.
Bây giờ thầy trả bài luận: tả ngày Tết ở trong nhà . Thầy nói đứa nào cũng đã ăn tết hơn một chục lần rồi, không có lý do gì mà không biết làm. Thầy có vẻ khoái đề tài này lắm, nên đứa nào làm không đủ bốn trang giấy vở thì tự động đi cấm túc ngày chủ nhật làm tiếp, khỏi khiếu nại lôi thôi gì hết.
Chúng tôi thường làm luận đề luân lý hay văn chương. Luận đề văn chương nhàm chán lắm: quanh đi quẩn lại mấy đứa con nít chúng tôi phải bình thơ của mấy ông già khú đế, có ông đã mất từ thế kỷ trước mà từ tư tưởng đến đời sống khác xa chúng tôi, thế mà cứ phải khen lấy khen để. Luận đề luân lý lại càng tai hại hơn cho tôi. Có hôm thầy bắt bình giảng câu: “ Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”Gìờ ra chơi tôi thưa với thầy rằng không biết ông Nguyễn Bá Học có dám bơi qua sông như thằng Điểm hay là một mình vào núi như con không mà sao ổng nói nghe dễ ăn quá. Thầy cười khà khà bảo: Bây đi kiếm ổng mà thách đố đi, chứ thầy không biết trả lời sao!
-Thầy ơi! ổng chết lâu rồi làm sao mà tìm lại, tất nhiên là con hiểu ổng muốn nói gì ,nhưng con chỉ muốn nói rằng các người lớn nói gì thì phải làm được, phải nói cho thật, đừng xúi bậy trẻ con.
Có khi lại là câu nói của một ông ba Tầu tên Vương Dương Minh: “người không có chí như thuyền không lái, như ngựa không cương, trôi giạt lông bông không ra thế nào cả.”Ngẫm đi ngẫm lại, tôi đúng là cái loại người bị các ông ấy nói móc họng, hỏi làm sao tôi nuốt cho trôi bài luận. Giống như người làm quốc sự, bị phe bên kia bắt được, nhốt trong tù bắt làm kiểm điểm những lỗi lầm, có khác gì chửi cha mình. Thế cho nên những bài luận luân lý của tôi đã không được điểm cao, còn bị thầy phê là gàn bướng.
Nay năm sắp hết, Tết đã gần kề, thầy Bùi nổi hứng cho làm bài luận tả ngày Tết ở trong nhà nên tôi cũng thấy dễ thở, tôi viết ào ào. Trong hai giờ trả bài tập, không có đứa nào được thầy khen, chỉ toàn lãnh búa. Tôi đợi mãi không thấy quyển vở màu xanh của tôi, hay là thầy đánh mất rồi. Cuối cùng thầy nói:
-Chỉ có hai bài đường được là bài của cô nàng say với bài của thằng Bắc kỳ di cư. Nhưng hai bài lại giống y nhau. Sao lạ vậy hè...Rồi thầy la lớn:
-Đứa nào cọp dê đứa nào, khai ra cho mau.
-Con không có (Túy trả lời rất nhanh)
-Con cũng không có (tôi sượng sùng lặp lại)
Thầy tròn mắt dòm qua dòm lại:
-Hai đứa bây không có thì bộ thầy đui sao hả? Để thầy đọc từng bài cho cả lớp nghe nè!
Thế rồi thầy a hèm lên một tiếng rồi bắt đầu đọc bản án kinh khủng của hai đứa tôi:
Tôi là thằng Bắc kỳ di cư nhưng tôi yêu quê hương miền Nam, nghĩa là từ Quảng Trị trở xuống, nên tôi thích dùng tiếng miền Nam. Đề tài thầy cho là tả cảnh sum họp gia đình trong ngày Tết, nhưng ngày Tết thì phải về quê về nhà thì mới có ý nghĩa, làm sao tôi tả được Tết trong Nam, trong khi nhà ở thường là nhà thuê chật hẹp hay ở ké các cơ quan chính phủ. Thế nên ôi đã tả ngày Tết ở căn nhà Hà Nội, nơi tôi sống tuổi ấu thơ, nơi có đủ anh chị em, chú bác cô dì cậu mợ.
Bài luận của tôi bắt đầu với những tràng pháo nổ. Cửa mở ra, khói pháo xông vào cùng một lúc với mấy người bạn của cha tôi. Trên tay các bác ấy đều có phong bao đỏ thắm, tiếng cười nói xôn xao cùng những lời chúc Tết đậm đà tình nghĩa. Tôi bé mà khôn vặt, cứ luẩn quẩn ở phòng khách, nấp dưới một cành đào lớn, bên mấy giò thuỷ tiên thơm ngát mà từ từ thu những tình nghĩa đậm đà ấy đầy túi.Trên bàn thờ tổ tiên khói hương nghi ngút với bộ đèn nến sáng choang, bao nhiêu là bưởi, cam, quít, với quả hồng. Con gà vàng óng mỏ ngậm bông hồng đặt bên cạnh những khoanh giò lụa trắng tinh, một đôi bánh chưng xanh vuông vức nằm kề lọ hoa huệ bằng sứ men lam, cùng với bánh mứt tưng bừng. Nhà trong chí chóe với bài bạc: nào xóc đĩa cho lũ nhóc tì, tam cúc cho mấy choai choai, còn già lão hơn thì sà vào mạt chược, tổ tôm. Cha tôi trịnh trọng trong cái áo the – mà mỗi năm ông chỉ mặc một lần – đang khấn vái trước bàn thờ. Mẹ tôi , chắc cũng giống bà mẹ ông Lưu Trọng Lư “nét cười đen nhánh sau tay áo”. Bà không nhuộm răng đen , nhưng hai con mắt đen lóng lánh  tất tả thu dọn chào mời , khi xếp mâm ngũ quả, khi châm nén hương vòng. Hôm ấy bà thật vui, thật đẹp trong áo dài vàng mỡ gà, đôi mắt tinh anh, môi cười cắn chỉ dưới cái khăn nhung đen tóc vấn.
Thỉnh thoảng có người đến gõ cửa xin đọc lời chúc Tết. Họ là những ngưới nghèo trong y phục, nhưng tươi cười lanh lợi và vô cùng giàu có trong lời nói:
                          Các cô các cậu như tiên
                 Cậu cậu mợ mợ bình yên một nhà
Mẹ tôi cũng ân cần chúc Tết họ và vui vẻ trao một cái phong bao.
Tả ngày Tết đang đầm ấm vui tươi như thế, tôi lại phang vào đó cái kết luận thật là buồn; có lẽ vì thế mà bài luận mới chỉ được thầy coi là đường được: Cậu tôi làm quận trưởng Võ Giàng, cậu còn trẻ măng, làm việc cho dân quên ăn quên ngủ, không biết ăn hối lộ nên được nhiều người quý mến. Gần Tết năm ngoái, không dùng công xa ,súng ống , cậu đạp xe lên tỉnh, nửa đường bị hai thằng gánh cỏ chận lại, chúng rút súng dấu trong gánh bắn chết cậu, lại còn chặt đứt đầu, trên ngực cắm một lưỡi dao với bản án trừng trị Việt gian phản động.
Tôi đứng khuất trong góc nhà, nhớ thương người cậu ruột đẹp trai và lương thiện, nhìn mẹ tôi vui tươi trong gia đình đầm ấm mà không dám nhắc: mẹ ơi, Tết này, em trai của mẹ vẫn không về...

Giờ thì cả lớp lắng nghe bài của Túy. Ngoại trừ nhập đề với kết luận là có khác, thầy đọc tới đâu là tụi bạn cũng la làng. Bao nhiêu là cái miệng ngoác ra cười cười nói nói khiến thầy phải đập bàn mới tạm yên. Túy úp mặt xuống cạnh bàn, hai tay vòng lên che đầu, đôi vai rung rung. Tôi nghĩ là Túy lại khóc như tôi bốn năm trước. Nổi điên lên tôi định quay lại sừng sộ bằng cái câu của Túy “cười gì mà cười người ta dữ vậy?”Nhưng tôi chợt nhận ra: môi Túy hé mở, cái răng nanh trăng trắng rung lên, đúng là Túy đang cười. Thế là tôi vỡ lẽ ra ngay. Túy ơi, sao ác quá vậy; bài luận đó là bài của thằng Bắc kỳ, đọc lên ai mà chẳng biết. Hai cô bạn than là Kim Lan với Hà còn lăn đùng ra mà cười, sao Túy cứ chép y chang?
Thầy Bùi hết ngó tôi lại ngó Túy, hai con mắt tròn láu lỉnh, miệng cười cười phán một câu xanh rờn:
-Bây giờ thì mượn đỡ bài vở, mai mốt mượn tới tiền bạc rồi nhà cửa xài chung cũng không biết chừng!
Có nhiều đứa cười ré lên, hai vai Túy càng rung động mạnh, riêng tôi ngu quá là ngu, mãi mới hiểu thầy nói cái gì!
Những ngày sau đó bọn con trai vẫn êm, vẫn bình thường đối xử với tôi, nhưng bọn con gái thì không; tất cả lũ chúng nó gọi ngay tôi là ông Túy. Đứa xấc xược gọi giật giọng:
-Ê, ông Túy..
Đứa làm bộ lễ phép:
-Thưa ông Túy đi học..
Đứa láu cá nhất hạng là con Hà, chắp hai tay, cúi đầu nhái tiếng Bắc kỳ của tôi, giọng quê đặc:
-Con nạy ông Túy ạ!
Đáng lẽ phải gọi Túy là bà Hảo mới đúng, sao chúng nó lại cứ nhè tôi mà chọc ghẹo? tụi con gái chơi phe đảng quá! ngày nào tôi cũng phải đi học, biết trốn chỗ nào!. Trong khi đó cô nàng say cứ tỉnh bơ; một bàn tay che nửa mặt để thầy không trông thấy, lâu lâu đưa sang một con mắt lén cười trên cái đau khổ này!
Qua Tết chị Ngọc Châu gửi thư về cho tôi: em phải cố học lên nhé. Cậu là ông đứng đầu tỉnh về việc học đấy. Nếu em thi trượt lần này thì cậu còn mặt mũi nào mà khiển trách mấy ông giáo lười. Chị nói tôi đâm lo, thấy đã trễ quá rồi, thế là tôi càng rét run lên.
Cái chơi thì tôi thật là tài, chẳng cần bái sư, mà không phải là có nhiều người đánh đàn, ca hát vẽ vời hơn tôi đâu. Đụng tới học thì tôi thấy đầu nó đặc như cục chì. Ngày Tết, lửa trại không có tôi đứng ra tổ chức thì hỏng bét, nhưng ngày thường phải kiên nhẫn lắm tôi mới tàm tạm quơ quào được ít bài toán hình học đại số.

 

Hết kỳ đệ nhị lục cá nguyệt là chúng tôi sửa soạn đi thi. Trường thi ở tận một tỉnh khác cách xa tới hai trăm cây số. Đứa nào con nhà khá giả thì đi máy bay hàng không VN. Đứa nào nghèo thì đi xe đò. dù sao chúng tôi cũng rủ nhau đi từng nhóm. Chúng tôi đến trước vài ngày, gặp nhau trên đường phố tỉnh ấy thì vui vẻ lắm, gọi nhau ơi ới cười nói vang trời..
Năm đó lớp tôi có mười hai đứa thi đậu, không có tôi, mặc dù rất sợ cha tôi buồn, tôi đã hết sức cố gắng để được trung bình mọi môn. Bảy đứa con trai và năm đứa con gái thi đậu, Túy đậu bình thứ. Có nhà thi sĩ họ Trần thi trượt nhiều lần đã thở ra một câu ai oán: Đệ nhất buồn là cái hỏng thi. Nỗi buồn của tôi lại còn cao hơn nỗi buồn của nhà thi sĩ ấy tới mấy lần : tôi làm chị Ngọc Châu tôi buồn, cha tôi mất mặt và tôi biết còn có một người con gái buồn thê thảm hơn nữa! Thế là tôi đóng cửa ở lì trong nhà với nỗi buồn đến xanh xao mặt mày.
Một hôm tôi có việc bắt buộc phải đạp xe trên một con đường, tôi thấy bộ ba Kiều nữ đi ở một con đường cắt góc vuông với con đường tôi đang chạy. Họ gọi tôi ơi ới, tiếng gọi của Túy lớn hơn, tôi nghe rõ giọng thiết tha, nhưng tôi tủi nhục quá cứ cắm đầu chạy miết. Tôi biết chắc lúc đó Hà sẽ không chọc ghẹo tôi nữa; nó sẽ giữ xe đạp của tôi lại hỏi chuyện tương lai: “bây giờ trường đã hết lớp học rồi, Hảo sẽ đi đâu học, sẽ làm gì?” không chừng nó sẽ mời tất cả ra quán ăn nhà nó để đền cái tội bao nhiêu năm nay nó chọc ghẹo tôi. Còn Kim Lan nữa chứ, lúc nào nó cũng chững chạc đàng hoàng, không chừng nó sẽ khuyên tôi phải để ý đến bạn thân của nó một chút: có đi đâu cũng phải viết thư về cho Túy, không thì Túy sẽ héo khô như cành hoa dưới nắng. Thế mà tôi cứ cắm đầu chạy, thế mà tôi cứ lầm lũi đi, thế mà tôi cứ khăng khăng giã từ! Thấy tôi như vậy , buồn rầu cha tôi cũng xin đổi đi tỉnh khác.
Tôi đi như gã mộng du với hình ảnh ngôi trường chập chờn mờ ảo, hình bóng cô Túy yêu kiều ẩn hiện trên giòng sông thơ mộng nước chảy ngược về hướng mặt trời chìều.
Hoàng Thế Hào                                                                                                        
  (Còn tiếp)


“Biên cương nẻo cũ ai về

Có nghe tê tái khúc hành quân xa…”
Xin đón đọc phần 2 chuyện tình máu lửa kỳ tới.
Post a Comment