Friday, March 31, 2017

XUÂN VỀ (thơ Diệp Thế Hùng) - CÁCH LÀM THƠ ĐƯỜNG






THƠ ĐƯỜNG: THẤT NGÔN BÁT CÚ, THẤT NGÔN TỨ TUYỆT
Diệp Thế Hùng.
Thơ Đường có nguồn gốc rất xa, bắt đầu từ thế kỷ thứ bảy ở Trung Quốc với những thể thơ khác nhau.  Trong bài này, tôi chỉ để cập đến những  thể thơ Đường thông dụng ở Việt Nam.  Hai thể thơ Đường phổ thông nhất là Thất Ngôn Bát Cú (7 chữ, 8 câu) và Thất Ngôn Tứ Tuyệt (7 chữ, 4 câu).   
A.   THẤT NGÔN BÁT CÚ:
Bốn yếu tố trong một bài thơ Thất Ngôn Bát Cú là âm điệu (bằng trắc), vần, cách trình bày ý thơ và luật đối xứng:

   1.  Luật âm điệu (bằng trắc):
1 T 3 B 5 T 7
1 B 3 T 5 B 7
1 B 3 T 5 B 7
1 T 3 B 5 T 7
1 T 3 B 5 T 7
1 B 3 T 5 B 7
1 B 3 T 5 B 7
1 T 3 B 5 T 7
Luật âm điệu này gọi là “thể Trắc” (chữ thứ hai của câu thứ nhất). Nếu các bạn đổi Trắc ra Bằng và ngược lại, thì các bạn có “thể Bằng”.

Thí dụ thơ thể Trắc:

Buồn Thu (thơ Hàn Mặc Tử)

Ấp úng không ra được nửa lời
Tình thu bi thiết lắm thu ơi
Vội vàng cánh nhạn bay đi trớt
Hiu hắt hơi may thoảng lại rồi
Nằm gắng đã không thành mộng được
Ngâm tràn cho đỡ chút buồn thôi
Ngàn trùng sương tỏa, cây e lạnh
Chỉ có thông kia chịu với trời.

Thí dụ thơ thể Bằng:

Thức Khuya (thơ Hàn Mặc Tử)

Non sông bốn mặt ngủ mơ màng
Thức chỉ mình ta dạ chẳng an
Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối
Gió thu lọt cửa cọ mài chăn
Khóc giùm thân thế hoa rơi lệ
Buồn giúp công danh dế dạo đàn
Trở dậy nôm na vài điệu cũ
Năm canh tâm sự vẫn chưa tàn.

       2. Luật vần: 
Chữ cuối của các câu 1, 2, 4, 6 và 8 phải cùng vần với nhau (chữ cùng màu). Các bạn nhìn hai cái thí dụ trên đây sẽ thấy rõ. 
Chú ý: Vần phải là âm bằng, những chữ cuối của câu 3, 5 và 7 phải là âm trắc. 
3. Luật trình bày ý thơ : 
Hai câu đầu là nhập đề, hai câu tiếp là miêu tả, hai câu 5 và 6 là suy luận, hai câu cuối là kết luận
4. Luật đối xứng :
Câu 3 và 4 phải đối xứng : danh từ với danh từ, động từ với động từ, …
Câu 5 va 6 cũng phải đối xứng như thế.
Các bạn có thể nhìn thấy luật đối xứng này trong hai thí dụ trên đây.

5. Cách đọc thơ: ngắt nhịp 2/2/3 hay 4/3

B.   THẤT NGÔN TỨ TUYỆT:
Luật bằng trắc cũng giống như bốn câu đầu của Thất Ngôn Bát Cú trên đây.

Thể Trắc:
1 T 3 B 5 T 7
1 B 3 T 5 B 7
1 B 3 T 5 B 7
1 T 3 B 5 T 7

Thể Bằng: đổi Trắc thành Bằng và ngược lại. 

Luật vần : chữ cuối của câu 1, 2 và 4 phải cũng vần, cùng âm bằng. Chữ cuối của câu thứ ba không vần nhưng phải là âm ngược lại.
Chú ý: Luật bằng trắc có thể tóm lược như sau « nhất tam ngũ bất luận, Nhị tứ lục phân minh” tức là những chữ 1, 3 và 5 có thể chọn âm, nhưng những chữ 2, 4 và 6 là phải theo luật trên đây.

Chú ý : 1) Các bạn thấy là luật âm truyền trên hết bài thơ. Nếu bạn làm thơ theo luật Bằng, phải tiếp tục theo luật âm trên đây cho tới câu cuối. Các bạn không thể đổi luật âm trong một bài thơ. Bởi vậy, tôi khuyên là kiểm soát luật bằng trắc trong toàn bài thơ, không trên một vài câu.
       2) Âm bằng của tiếng Việt có hai trường hợp: không dấu và dấu huyền. Âm trắc có bốn dấu khác nhau (những dấu còn lại). Khi làm thơ, mặc dù là cùng âm trắc (hay bằng) nhưng mỗi dấu cho một âm điệu khác nhau một chút.
3) Từ lúc thơ mới bắt đầu xuất hiện (những năm 1930), nhiều thi sĩ đã bỏ đi luật đối xứng vì luật này hạn chế khắc khe trong cách diễn tả những cảm xúc.  Đôi khi vì luật đối xứng mà thơ trở thành không hay vì bị quá gò bó.
Hai bài thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt nổi tiếng :
(hy vọng là các bạn còn nhớ chữ Nho)

Nam quốc sơn hà (Lý Thuờng Kiệt, chống xâm lược nhà Tống, năm 981)

Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

Đề Đô Thành Nam Trang (Thôi Hộ, Trung Quốc, thế kỷ thứ 8)

Khứ niên kim nhật thử môn trung
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong.
Diệp Thế Hùng

Post a Comment