THÔNG BÁO SỐ 1

ĐẠI HỘI 9 “THUYỀN VIỄN XỨ”: THÔNG BÁO SỐ 1

(Xin bấm vào những chữ trên để xem chi tiết)

Thursday, March 8, 2018

CÁI CHẾT OAN KHUẤT CỦA NHẠC SĨ MINH KỲ (Phạm Tín An Ninh)

Cái chết oan khuất của Nhạc sĩ Minh Kỳ

Cái chết oan khuất của Nhạc sĩ Minh Kỳ

Phạm Tín An Ninh
“Nha Trang là miền quê hương cát trắng
Có những đêm nghe vọng lại, ầm ầm tiếng sóng xa đưa
Nha Trang cánh đồng bao la bát ngát
Hương quê dâng lên ngào ngạt, hòa cùng sức sống yên vui
Ai ơi, người về cho ta nhắn với
Nha Trang quê hương dịu hiền, ngàn đời lòng tôi mến yêu”
Ai đã sinh ra và lớn lên ở Nha Trang, hoặc đã từng ghé lại đây
đôi lần, đều không quên bài hát dễ thương này, mà cả một
thời gian gần hai thập niên, đài phát thanh Nha Trang đã
dùng làm nhạc hiệu mở đầu.
Cuối tháng 3/1975, Nha Trang bị nhận chìm trong làn sóng
đỏ. Người Nha Trang đã cùng chịu chung số phận. Kẻ bị giết,
người bị tù đày, gia đình, bè bạn, thầy trò, chia ly tan tác.
Số phận của nhạc sĩ Minh Kỳ, tác giả bài hát này (cùng nhiều
bản nhạc về Nha Trang khác nữa) cũng đã gắn liền với định
mệnh đau thương của thành phố mà ông đã được sinh ra,
hết lòng yêu thương và đã gởi trọn lòng mình qua những
dòng nhạc thiết tha trìu mến đó. Ông đã bị giết. Cái chết thê
thảm và oan khuất của ông có lẽ được ít người Nha Trang,
dù còn ở trên quê nhà, hay tha phương khắp chốn biết đến
Người viết bài này, có cái cơ duyên được ở chung cùng một
trại tù với ông, và cũng đã được tâm sự cùng ông một vài
ngày trước khi ông chết.

Đầu tháng 3/1975, sau khi Ban Mê Thuột mất, những đơn vị
từng sống chết với Cao nguyên có lệnh triệt thoái. Tôi theo
đơn vị, chỉ còn một phần tư quân số, lần lượt “di tản chiến
thuật” vào Cam Ranh, rồi Vũng Tàu để tái tổ chức, trước khi
tham dự những trận đánh cuối cùng “cô đơn và buồn tẻ” ở
những địa danh xa lạ: Cần Giuộc, Bến Lức, thuộc tỉnh Long
An, ngăn bước chân địch quân đang ồ ạt kéo về vây hãm Sài
Gòn.

Ngày 28/4/1975, tôi và cả vợ con, theo lời hẹn của người bạn
chí thân, là SQ Hải Quân, có mặt tại Bến Bạch Đằng.
Nhưng đến giờ chót, trước sự ngỡ ngàng và tức giận của
người bạn có lòng, tôi quyết định không cùng vợ chồng anh
ấy xuống tàu di tản. Có lẽ anh không hiểu được là tôi cũng
đã khổ tâm biết dường nào để có cái quyết định “sống chết”
ấy, mặc dù tôi biết trước là rồi tôi cũng phải trả một cái giá,
chắc không nhỏ. Tôi không đành lòng bỏ lại những đồng
đội đã theo tôi từ những quê quán miền Trung, mà giờ đây
đã trở nên xa tít mịt mờ trong tay giặc, và nhất là cha tôi,
người cha đã làm gà trống nuôi con từ lúc tôi mới lên ba,
mà tôi được tin là ông đã bị bắt và đang bị giam giữ ở đâu
đó ngoài Nha-Trang. Tôi không thể xa ông trong hoàn cảnh
khốn cùng này.
Điều đáng ân hận nhất là, dù ở lại để chấp nhận mọi điều,
nhưng tôi cũng không bao giờ có cơ hội gặp lại cha tôi.
Ông đã chết trong trại cải tạo Đá Bàn, cuối tháng 6/1976,
và đúng ngay vào cái đêm tôi bị chở bằng xe “bịt bùng” từ
trại tù An Dưỡng Biên Hòa ra bến Tân Cảng để xuống tàu
Sông Hương ra Bắc. Mãi gần năm năm sau tôi mới nhận
được tin buồn.

Trại tù An Dưỡng Biên Hòa, cũng chính là nơi tôi đã gặp
nhạc sĩ Minh Kỳ, và đã tâm tình cùng ông một ngày trước
khi ông chết..
Tôi trình diện tại Trường Đại Học Kiến Trúc, bị đưa lên nhốt
tại trại tù binh Tam Hiệp. Một tháng sau được chuyển đến
trại tù An Dưỡng Biên Hòa, nằm bên cạnh phi trường quân
sự Biên Hòa. Trại An Dưỡng này, trước là một khu quân sự,
về sau đuợc chỉnh trang lại để tiếp nhận những quân nhân tù
binh của ta được miền Bắc trao trả theo hiệp định Paris. Họ
được nghỉ ngơi, bồi dưỡng cả sức khỏe lẫn tinh thần ở trại
An Dưỡng này trước khi trở về đơn vị cũ và gia đình.
Đến trại này, tôi gặp những anh em ở đây từ trước cùng một
số mới đuợc chuyển từ các trại khác tới. Gồm đủ các quân
binh chủng, kể cả những sĩ quan biệt phái về các Bộ, và
Cảnh Sát. Trong số này có nhạc sĩ Minh Kỳ. Tôi ở Nhà 1,
còn anh Minh Kỳ ở Nhà 3 (?), cách nhau khu nhà bếp
(gọi là hậu cần).
Cũng như những người Nha Trang khác, lớn lên vào những
năm giữa thập niên 50, đầu thập niên 60, tôi thuộc lòng
những bài hát Nha Trang của nhạc sĩ Minh Kỳ, nhưng chưa
hề biết tên thật và cũng chưa được hân hạnh gặp ông. Trong
Nhà 1, tôi nằm bên cạnh hai anh bạn tù lớn tuổi hơn tôi.
Một anh từ Trường Chỉ Huy Tham Mưu, một anh làm ở Nha
Quân Pháp.
Hai anh này rất tốt bụng và vui tính, có quen biết nhạc sĩ
Minh Kỳ. Biết tôi là dân Nha Trang, nên có lần anh đã giới
thiệu tôi với anh Minh Kỳ.
Nhạc sĩ Minh Kỳ lớn tuổi hơn tôi nhiều, nên tôi gọi ông
bằng Anh và xưng em.. Có lẽ bản tính của anh vốn thầm lặng,
ít nói, và đặc biệt trong hoàn cảnh như vừa trải qua cơn ác
mộng, chưa biết ngày mai sẽ ra sao này, anh lại càng ít nói
hơn. Gặp anh vài ba lần, tôi chỉ nói lên lòng hâm mộ của
tôi về những bài hát Nha Trang, mà với tôi bây giờ nó lại là
những kỷ niệm vô giá. Anh thường chỉ trả lời tôi bằng một
nụ cười buồn.

Một đêm, cuối tháng 8/1975 (31/08/75?), vào khoảng 09:30
tối, cả trại tù đang chìm trong bóng đêm với cả ngàn người
tù đang nằm thao thức, bởi tâm tư còn nặng trĩu lo âu, đang
chờ đợi những điều bất trắc nào đó sẽ đến với số phận mình,
bỗng một tiếng nổ long trời kèm theo những tiếng la thất
thanh, và rồi tiếng còi báo động, tiếng chát chúa trên loa
phóng thanh, lệnh cho tất cả “cải tạo viên” nằm yên tại vị trí,
kẻ nào bước ra khỏi nhà sẽ bị bắn tại chỗ.
Khi đám tù chúng tôi chưa hết hoang mang, thì tiếng xích
sắt xe tăng T 54 tràn vào trại rít lên từng chặp, chia nhau bao
vây từng căn nhà. Hằng loạt bộ đội, súng gắn lưỡi lê, mặt
tên nào cũng đằng đằng sát khí túa vào từng nhà, kéo cơ
bẩm lên đạn, quát tháo chúng tôi đứng dậy ngay tại chỗ,
hai tay để trên đầu. Tôi có cảm giác là chúng tôi sắp bị xử tử…

Chúng tôi đứng bất động như vậy cho đến gần 10 giờ trưa.
Nhìn qua khe cửa, tôi thấy mấy anh em tù ở nhà 3 khiêng
một số người bị thương lên bệnh xá.
Cả ngày sau, tất cả tù đều không được ra khỏi nhà, ngoại trừ
đi ra cầu tiêu và ở đó cũng có đầy lính gác. Sau đó, đúng
vào ngày 2 tháng 9, Quốc khánh của VC, tất cả chúng tôi
được đưa lên hội trường. Ngồi chễm chệ trên dãy bàn trước
mặt chúng tôi là những “thủ trưởng” không mang quân hàm,
nên chúng tôi cũng chẳng biết họ là ai. Chúng tôi bị “nghiêm
khắc” cảnh cáo là “có bọn phản động trong các anh đã giấu
diếm vũ khí, mang lựu đạn Mỹ vào để nhằm phá hoại thành
quả kách mệnh”(!). Sau đó chúng tôi làm “bản tự khai tội ác”
và bắt đầu bài học số 1, “Đế Quốc Mỹ là kẻ thù của nhân
dân ta”.
Khi ấy chúng tôi mới biết tiếng nổ tối hôm ấy đã xảy ra tại
Nhà 3, làm chết và bị thương khá nhiều. Mọi dấu tích đã
được thu dọn sạch sẽ, như chưa hề có việc gì xảy ra.
Có điều cái “sự cố” thảm khốc ấy, không phải như lời “lên
lớp” hù dọa của mấy ông thủ trưởng, bởi một điều rất dễ
hiểu là ngay từ lúc vào trại cho đến bây giờ, đã qua hàng
trăm lần kiểm soát, vả lại hành trang mang theo của mỗi
người tù đâu có cái gì, ngoài hai bộ áo quần, cái khăn lau
mặt và bàn chải đánh răng. Tiền bạc và tư trang khác đã
được “kách mạng” giữ hộ ngay sau khi nhập trại. Vậy thì
một trái lựu đạn có phép màu nào lọt vào trong trại. Điều
quan trọng hơn, là nếu người tù nào dám liều mạng mang
được lựu đạn vào trại thì cũng chỉ nhằm mục đích giết kẻ
thù chứ sao lại giết chết bao nhiêu bè bạn của mình?
Những câu hỏi đó đã có sự trả lời chính xác ngay sau đó.
Một số bạn tù ở Nhà 3 và Nhà kế bên kể lại như sau:
Nhà 3 (chứa khoảng 80 tù nhân, đa số là SQ Cảnh Sát) nằm
đối diện ngay trước Khu Trực Ban và Nhà Vệ Binh của Trại,
chỉ cách nhau chừng hơn năm mét và một hàng rào kẽm gai.
Khi ấy tổ của nhạc sĩ Minh Kỳ đang họp để phân công nấu
bếp vào ngày mai, thì một quả lựu đạn được quăng vào vách
tôn ngay phía sau làm 3 người chết tại chỗ và khoảng 8
người bị thương. Nhạc sĩ Minh Kỳ bị thương rất nặng, được
anh em tù khiêng lên bệnh xá cùng với những anh em bị
thương khác. Ông bị thương ở ngực, bụng và cổ rất nặng.
Biết mình sắp chết nên trăng trối với những bạn tù:
– Tụi mày về nói với vợ tao ráng nuôi con tao, chắc tao
không sống được.
Sau đó máu ở ngực và cổ chảy ra lênh láng. Ông vừa la
vừa rên:
– Sao chân lạnh quá!
– Lạnh quá! Sao bụng tao lạnh quá! Sao ngực tao lạnh quá!
Ông chết từ từ, chết từ chân đến bụng rồi đến ngực cho đến
lúc tắt thở.
Một cái chết mà chính ông cảm nhận được, biết được nó
đến với mình từng phút từng giây.
Sáng sớm hôm sau, anh em bạn tù, với sự giám sát của
toán vệ binh VC, đem chôn các bạn tù vắn số của mình trên
một mảnh rừng bên ngoài vòng đai phi trường quân sự
Biên Hòa.
Ai cũng biết là trái lựu đạn giết chết nhạc sĩ Minh Kỳ cùng
những người bạn tù khác, là do chính bọn VC quăng từ khu
trực ban của Trại phía bên kia hàng rào.
(Có một số Sĩ Quan ngành đạn dược còn cho là tiếng nổ ấy
có thể là tiếng nổ của đạn B40 hay B41, có sức tàn phá
còn hơn cả lựu đạn).
Và cũng sau ngày ấy, chúng tôi phải chịu một trò chơi trả
thù ác độc từ phía những người chiến thắng. Mỗi ngày chia
nhau đi gỡ các bãi mìn trong hàng rào phi trường quân sự
Biên Hòa.
Họ đã bày ra cái trò giết người giấu tay ở Nhà 3, để rồi lại
lấy đó làm lý do giết tiếp những người còn lại bằng cái trò
chơi đẫm máu “gỡ mìn” này.
Những bãi mìn này do Công Binh của ta thiết lập chằng chịt
dọc theo hệ thống phòng thủ phi trường. Bây giờ, không
có sơ đồ những bãi mìn, chúng tôi lại là những người không
chuyên môn về mìn bẫy, có nhiều anh em giữ các chức vụ
tham mưu, hay đuợc biệt phái về các bộ khác, chưa hề thấy
lại quả mìn sau ngày rời khỏi quân trường. Vậy mà bây giờ
phải tham dự cái trò chơi bất nhân này. Ngày nào cũng có
mìn phát nổ, người chết, vài người mất tay, mất chân, nhưng
vẫn không làm dao động được tấm lòng của những người
“cách mạng!”.
Và cũng chính nhờ được cắt cử đi đào huyệt chôn một người
bạn tù chết mìn, sớm trả “nợ máu” sau ngày miền Nam
“giải phóng” này, đám chúng tôi mới phát hiện được bốn
ngôi mộ mới đã nằm sẳn tại “nghĩa trang” vô danh trong
một mảnh rừng hoang. Trước mỗi ngôi mộ đuợc đắp đất
sơ sài đó có cái bia làm bằng một mảnh gổ nhỏ. Bọn chúng
tôi lén đọc tên trên từng tấm bia viết bằng sơn đỏ, trong đó
có tên Vĩnh My (Vĩnh Mỹ?). Đó chính là tên trong khai sinh
của nhạc sĩ Minh Kỳ (Nguyễn Phúc Vĩnh Mỹ). Dưới sự canh
gác nghiêm ngặt của đám vệ binh, tôi chẳng biết làm gì khác
hơn là khi đi ngang trước mộ anh để trở về trại, chắp hai tay
trước ngực và cúi đầu tưởng niệm anh cùng những bạn bè
xấu số đã chết tức tưởi cùng anh.
Lòng tôi nhói lên đau đớn như vừa bị một nhát chém hư vô
nào đó. Trong tôi vừa mới mất thêm một điều gì, mà với tôi
nó trở thành thiêng liêng hơn là kỷ niệm. Nhiều đêm sau đó
tôi trằn trọc cả đêm không ngủ. Dư âm những bài hát
NhaTrang của anh lúc nào cũng văng vẳng bên tai tôi.
Tâm tư lúc nào cũng mơ màng đến thành phố Nha Trang,
đến ngôi trường Võ Tánh, nhớ da diết những kỷ niệm ấu thơ,
của những ngày đi học, và hình dung đến từng khuôn mặt bè
bạn thân quen… Cũng mới đây thôi, mà bây giờ tưởng
chừng như đã là một quá khứ thật xa xăm, mơ hồ như kiếp
trước.
Ba mươi năm chiến tranh trên quê hương đã đem lại biết bao
điều bi thảm. Vậy mà sau khi chiến tranh chấm dứt lại còn
nhiều bi thảm hơn. Cái chết của nhạc sĩ Minh Kỳ cũng chỉ
là một trong hàng vạn, hàng triệu điều oan khiên bi thảm đó.
Nhưng chúng ta xót xa và nhớ đến nhạc sĩ Minh Kỳ, bởi
chính vì ông là một nghệ sĩ, một người đã sống và cống hiến
cho đời bằng chính trái tim mình. Đặc biệt với những người
Nha Trang và những người yêu Nha Trang, đã mang ơn ông
vì ông đã cho chúng ta những dòng nhạc biểu tượng của
quê nhà, mà chúng ta sẽ mang theo dư âm tiếng hát cho đến
suốt cuộc đời.
Với tôi, những đau đớn này cứ tưởng chỉ chôn chặt trong
lòng, không ngờ sau khi xem chương trình nhạc Lê-Dinh
trên Thúy Nga Paris trước đây, trong đó nhạc sĩ Lê-Dinh
có nhắc tới cái chết của nhạc sĩ Minh Kỳ, và mới đây là
chương trình Huyền Thoại Lê Minh Bằng trên Asia, đã làm
tôi nhớ thật nhiều đến cái chết của ông và ngồi xuống viết lại
những dòng này.
Xin được thay một nén hương lòng đốt lên cho một người
đồng hương, đồng tù, bỏ bạn bè ra đi bằng một cái chết thảm
thương, oan khuất… Cũng để được nói lên lòng tiếc thương
một nhạc sĩ tài hoa đã làm Nha Trang sống mãi trong lòng
người. Và nếu được phép, xin gởi một lời chia buồn thật
muộn màng nhưng với trọn tấm lòng đến gia đình ông
..

Bắc Âu, một ngày không có mặt trời

Phạm Tín An Ninh
Post a Comment