DÒNG TÓC BÊN ĐỜI
Đỗ Bình
Làn khói từ chiếc ống pippe lan tỏa thơm nồng khắp căn phòng nhỏ.
Sợi khói cuộn vòng trong khoảng không biến ảo thành nhiều hình trừu tượng khác
nhau, có sợi bay vào mái tóc ngả màu sương của ông Lê Thanh như áng mây trắng bồng
bềnh, trông dáng ông ngồi trên chiếc ghế giống bức tượng một nghệ sĩ. Ông Lê
Thanh có thói quen ngồi hàng giờ im lặng như một chiếc bóng, đôi mắt khép lại để
suy tưởng đã lộ rõ khóe mắt những đường nét, những nếp gấp thời gian biểu hiện
trên khôn mặt đầy nét phong trần. Ít người thấu hiểu trên khuôn mặt đó lại chất
chứa một tâm hồn đầy nhân ái, lòng hy sinh và tính vị tha. Ông tất đa cảm, hay buồn
vu vơ vì những tác động nội tâm nên gởi gấm tâm trạng qua viết lách, do đó đã
đeo đuổi nghiệp dĩ văn chương. Ông viết tiểu thuyết diễm tình văn phong thật
bay bướm lả lướt, các nhân vật trong truyện được ông dàn dựng đầy kịch tính, sướt
mướt, đa tình, thế mà ở ngoài đời ông lại lận đận về đường tình ái nên vẫn còn
độc thân! Thuở còn trẻ, ông rất đào hoa được nhiều người đẹp ngưỡng mộ vì đã phục
vụ trong một binh chủng oai hùng, và là một y sĩ giỏi gan dạ từng xông pha nơi
chiến trường. Thuở đó ông rất tự tin, yêu đời, ham vui, không muốn bị ràng buộc
nên đã không thích lập gia đình sớm. Đến khi Miền Nam mất ông đâm ra thất vọng
chẳng còn thiết gì đến việc lập gia đình. Ông cũng như toàn dân Miền Nam đành
nhắm mắt buông xuôi theo vận nước đẩy đưa, và kết cục ông cùng chung số phận với
bao chiến hữu khác xách gói vào nhà tù!
Ở trong trại tù, một hôm ông nói với mấy người bạn tù:
« -Bọn lưu manh chính trị đã thành công trong việc khai thác
lòng thành của những kẻ say mê 'tà thuyết' để dẫm lên xương máu của người dân
vô tội! Bạo lực dù có mạnh đến đâu thì cũng
chỉ chiếm được đất chứ nào chinh phục được lòng người ? Ở một đất
nước mà những người giỏi đều bị bắt nhốt tù hết thì làm sao đất nước đó phát
triển?!»
Trong chính sách «cải tạo» của chính quyền Cộng Sản về việc giam cầm những sĩ quan, những nhân viên cao cấp trong chế độ cũ là «vô thời hạn», nghĩa là không có ấn định ngày được trả tự do. Có những tù nhân ở tù không lâu, vì nhu cầu thiếu chuyên viên kỹ thuật, nhà nước Cộng Sản buộc lòng phải thả một số ít chuyên viên kỹ thuật về sớm. Là bác sĩ, Lê Thanh thuộc diện nầy, nhưng do tính tình thẳng thắn, mà thường xuyên lại phải nghe những điều trái tai giảng dạy từ cán bộ quản giáo nên ông thường hay lên tiếng «sửa sai», chỉnh lại những lời của quản giáo. Điều đó đã khiến ông bị ghép tội chống đối, châm biếm chế độ, bởi thế ông không được thả về mà còn bị nướng gần chục cuốn lịch trải qua nhiều trại tù từ Nam ra Bắc.
Khi đươc thả ông vượt biên ngay mà không chờ đi theo diện H.O
sang Mỹ. Ông thích đi Pháp vì ngày trước ông đã học y khoa bên nầy, hơn nữa
trong lòng ông vẫn còn mối hận đối với một số ít chính khách Mỹ, vì quyền lợi
riêng tư đã phản bội quân đội Việt Nam Cộng Hòa, những người bạn từng sát cánh
với người Mỹ chiến đấu vì lý tưởng tự do. Ông nghĩ : «Trên giải đất quê hương Việt Nam người Mỹ đã đổ quá nhiều xương máu. Họ
đến mang theo niềm tin cho sự tự do, như một tia sáng lóe lên trong đêm tối… rồi
tắt ngấm! Sự bội tín đã bỏ lại sau lưng một thảm họa, một bầu trời đêm đen của
Miền Nam! Họ ra đi nhưng trên quê hương Việt Nam vẫn còn những vết hằn sâu kín,
những nỗi niềm ủ dột khiến những dòng nước mắt chảy mãi chưa khô!».
Thuở mới học xong ở Paris về nước ông có
yêu một người con gái và cùng nàng thề non hẹn bể nhưng cuộc tình đắm đuối và
thơ mộng đó kéo dài không lâu thì dang dở. Chàng tự trách mình có một phần lỗi trong sự tan vỡ vì ngày đó còn
thích bay nhảy không muốn lập gia đình sớm bị ràng buộc trách nhiệm nên chẳng
chịu ngỏ lời xin cầu hôn! Chàng viện dẫn là sắp trưng tập vào lính, đợi ra trường
có chỗ ổn định mới nghĩ tới việc lập gia đình. Chàng không thể vì chút tình riêng mà thiếu trách nhiệm của người
trai thời chiến, do đó chàng đã thành khẩn xin nàng thông cảm mà chờ đợi.
Cũng như bao thanh niên trong thời chiến,
chàng bị trưng tập vào quân đội. Biến cố Tết Mậu Thân là động cơ thúc đẩy chàng
xin ra làm y sĩ cho một đơn vị tác chiến, mặc dầu khi ra trường chàng đã có lệnh
bổ nhiệm về phục vụ tại một Quân Y viện thành phố. Dù biết chiến trường đầy nguy hiểm, nhưng chàng
muốn đem chút sở học săn sóc và cứu chữa những thương binh ngoài mặt trận. Họ
là những người cùng lứa tuổi với chàng đang hiên ngang bước vào cõi chết, những
người đã xem nhẹ bản thân mình để giữ an lành cho bao kẻ khác, trong số đó có
xương máu của rất nhiều bạn bè thời thơ ấu cùng phố, cùng lớp với chàng đã hy
sinh để chàng được an nhiên du học Pháp.
Cuộc tình «Anh tiền tuyến Em hậu phương»
đẹp như một bài thơ, một ca khúc cũng chẳng kéo dài được lâu! Bố mẹ của nàng
không muốn con gái phải trở thành góa phụ trẻ vì làm vợ một người lính trận.
Ông Bà đã vội vã chấp nhận lời cầu hôn của một thương gia giàu có, trí thức gốc
Chợ Lớn, tuy khá tuổi nhưng có quốc tịch Hồng Kông nên không phải đi lính. Bị bố
mẹ cưỡng bách đoạn tình, nàng khóc lóc van xin bố mẹ, và cự tuyệt cuộc hôn nhân ngang trái nầy, nhưng bố mẹ vẫn quyết liệt
bắt nàng phải theo lệnh gia đình. Nàng chơi vơi trong bể tình, trong lúc tâm hồn
đang đau buồn.
Nàng chợt nghĩ đến câu nói của Đại văn
hào người Anh là William Shakesapear:
«Không có một
chân tình nào mà không trải qua sóng gió.»
Để bảo vệ tấm chân tình, nên chạy đến
tìm chàng mong cùng chàng thoát ly gia đình tìm phương trời xa ẩn náu để hưởng
hạnh phúc. Nhưng đó chỉ là ý nghĩ quá đơn giản khi mà khắp nơi đang mịt mờ
khói lửa chiến tranh thì ẩn náu nơi đâu để có thể sống riêng hạnh phúc? Nàng
may mắn sinh trưởng trong một gia đình giàu có, ngoài việc ăn học và một tình
yêu đầu đời đầy thơ mộng nên chưa có kinh nghiệm đời, cứ tưởng con tim muốn là
được! Tiếng gọi của con tim đã khiến nàng quên đi danh dự của gia đình mình và
thế lực bên gia đình người chồng tương lai, họ nào chịu để yên? Còn gia đình
chàng cũng đâu chấp nhận cậu con trai quí của mình đi cướp vợ tương lại của kẻ
khác làm xấu hổ gia phong?
Tình yêu vẫn khắc trong tim nhưng lời
nàng hứa là sẽ đợi chờ chàng đã bay theo gió! Do áp lực của gia đình quá mạnh,
vì chữ hiếu nàng đã bóp nát trái tim mình mà đành phụ tình chàng! Nàng chợt nhớ đến câu thơ của Thi hào
Nguyễn Du mà nghe lòng chua xót!:
«Nợ tình biết trả cho ai,
Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan.»
Ngày nàng lên xe hoa chàng hoàn toàn không hay biết, vì thời điểm
đó chàng đang hành quân ở vùng Phu Lơ Cam Lộ, Quảng Trị. Ở đây mặt trận đang khốc
liệt, đơn vị chàng ngày đêm chịu hàng ngàn trái pháo đủ loại trên ngọn đồi
không cao quá 400 mét. Đạn pháo rát quá khiến trực thăng tải thương không xuống
được bãi đáp, xác những người lính gói trong poncho bày la liệt, mùi tử khí nồng
nặc! Rừng đêm sương xuống càng giá lạnh, gió núi thổi rì rào nghe não nề, nỗi
chết vờn quanh. Thỉnh thoảng những trái pháo rớt gần xé màn đêm, chớp sáng
loáng trên những chiếc poncho chập chờn như những oan hồn ẩn hiện. Nhiều lúc tiếng
mảnh pháo rớt cạnh sườn núi nghe rợn người, tuy có mỏi mệt nhưng chàng không
nao núng dù chàng đã không ngủ mấy ngày liền vì phải lo cho những thương binh.
Sáng nay, tiếng súng tạm ngưng vì đêm qua địch đã bị đẩy lùi. Chàng thầm nghĩ:
«Thế là mình còn sống thêm một ngày sau những tuần lễ mưa pháo đạn hãi
hùng…mình có thể lấy phép thường niên về Sài Gòn đưa em dạo phố…».
Chàng bước ra ngoài hầm trú ẩn hít một
hơi thật mạnh, bỗng chàng dừng lại ở phía giao thông hào nhìn thấy những xác
binh sĩ vừa chết trận đêm qua chưa kịp gói đang co quắp. Chàng thở dài than thầm:
«Chẳng biết đến bao giờ cuộc
chiến nầy mới chấm dứt? Ở đây nỗi chết rình rập, chiến trường quả là mồ chôn
các chiến sĩ! Ôi, chiến thắng nào mà không có máu và nước mắt !».
Chàng nhớ lại những ngày ở Pháp sắp về nước:"Hồi đó phong
trào phản chiến khắp nơi đang âm ỉ sắp bùng lên, những người hô hào đòi phản
chiến họ chẳng biết gì về chiến tranh, họ chạy theo mode làm ra người trí thức
đòi quyền sống cho nhân sinh. Họ là những người đã bị chủ nghĩa Cộng Sản làm mê
hoặc qua nhãn hiệu “hòa bình,” nhưng thật ra họ sợ chiến tranh tước đoạt đi những
quyền lợi của bản thân, họ không muốn hy sinh dù nhân danh bất cứ thứ gì.
"
Tiến về phía hàng rào nơi anh em lính đang chuyển những xác của đồng đội mà
lòng chàng trào dâng tê tái, và thầm nghĩ:
«Phải
chăng chiến tranh là sự chém giết lẫn nhau của những người không quen biết để
cho những người đã từng quen biết nhau đang ngồi chiếc ghế lãnh đạo ở Sài Gòn,
Hà Nội hưởng lợi? Trước hiểm họa của Cộng Sản thì dù cho có phải mất mát, hy
sinh hơn. Cuộc chiến một mất một còn với Cộng Sản trong lúc này là cần thiết và
chính đáng, chàng bằng lòng làm kẻ hy sinh cho lý tưởng tự do, chứ không phải
vì những người ấy!».
Những chiếc trực thăng tải thương xuống tấp nập, trong đó có những thực
phẩm, quân trang, đạn dược và thư tín. Người lính mang đến cho chàng một xấp
báo chí và mấy lá thư. Chàng vui sướng khi nhận được thư nhà và mở ra. Nhìn những
hàng chữ trên thiệp hồng, chàng thấy choáng váng và buột miện than:
«Trời ơi, nàng đã đi lấy
chồng!»
Chàng đau khổ, hồn thờ thẫn! Ý định nghỉ phép về Sài Gòn vụt mất! Từ đó chàng
trở nên ít nói, ít cười và buông thả đời mình theo số mệnh. Mỗi lần về phép Sài
Gòn chàng thường mượn men rượu, khói thuốc và đàn bà để quên tình! Trong men
say, chàng nói với bạn bè:
-«Đàn bà thì người nào thề thốt cũng hay cả…nhưng chẳng ai chung
tình? Họ chỉ biết… tiền thôi!».
Chàng
cười ngặt nghẽo rồi gục trên vai người bạn, thiếp đi.
Rồi biến cố tháng tư năm 1975 ụp xuống Miền Nam và đã cướp của chàng tất cả, trong đó có cuộc tình buồn! Sau khi tù ra chàng vượt biên đến Pháp tị nạn. Nhờ bạn bè cũ chàng biết tin nàng đã cùng gia đình di tản sang Hồng Kông trước năm 75 và đang định cư sống hạnh phúc ở Canada. Chồng nàng tuổi đã cao nhưng vẫn trông coi một hiệu buôn lớn, còn hai đứa con nàng đã thành tài. Mãi lo chăm sóc gia đình và phụ giúp chồng điều hành công ty, mãi đến mấy năm sau nàng mới biết tin chàng ở Pháp, nàng cho chồng biết sẽ qua Pháp thăm chàng và rủ ông đi chơi thăm Paris, nhưng vì bận việc công ty ông không thể đi được. Nàng đáp máy bay, cùng đi có người con trai út đã xin nghỉ việc ngắn ngày để đưa mẹ thăm Paris.
Paris chiều nay rực nắng vàng, thỉnh thoảng có cơn gió se lạnh. Lê Thanh được một
người bạn cũ gọi phôn cho biết nàng đã đến Paris, mục đích là thăm ông và hẹn địa
điểm và ngày hội ngộ. Hơn hai mươi năm không gặp lại, giờ nghe tin nàng xuất hiện
lòng ông nghe như rạo rực của thời tuổi trẻ, cảm giác nao nao như buổi hẹn hò
ban đầu, và muốn có đôi cánh để bay đến nàng ngay. Ông ngất ngây nghĩ đến những
kỷ niệm xưa, những hình ảnh cũ như những đoạn phim hiện trong tâm trí. Bỗng ông
khựng lại vì thấy đôi mắt đẹp của nàng có thời làm ông say đắm, ánh mắt vẫn
thánh thiện và ẩn chứa nỗi buồn. Ông chợt thở dài! Trong đôi mắt đẹp đó có cả
màu gian dối mà sao ông không nhận ra! Ông giật mình vì lòng tự ái đã làm mờ lý
trí nên cảm thấy mình khắc nghiệt với mối tình xưa! Ông định bỏ ý định gặp
nàng, nhưng chợt nhớ câu châm ngôn của Nhà văn Nga Nicolai Alexandrovitsh Dobloljubov, thuộc thế kỷ 19 mà
thấy lòng được nhẹ nhõm:
« Khi ta đánh mất tình yêu của một người phụ nữ thì chỉ có quyền
trách cứ bản thân đã không biết giữ tình yêu đó.»
Ông cảm thấy thẹn và tự trách mình có một phần lỗi trong sự tan vỡ mối tình năm
xưa rồi lấy xe đến điểm hẹn. Trước khi bước xuống xe ông chỉnh lại chiếc
cracatte và đi đến chỗ hẹn. Con đường hẹn gặp hôm nay trở nên thơ mộng hơn ngày
thường, mặc dù con đường vẫn thế, vẫn đón bước chân quen của Lê Thanh từ khi
còn học Y Khoa thuở xưa.Con đường đẹp như bức tranh, hai hàng cây dọc con đường lá vàng bay như đàn bướm, lối đi đầy những
chiếc lá như dát vàng. Mùa thu Paris thơ mộng, cảnh sắc rực rỡ làm tâm hồn người
lâng lâng nhẹ bổng theo từng chiếc bay. Nàng đứng đó, mấy chục năm không gặp
nàng vẫn như xưa, vẫn mảnh mai trong chiếc áo lụa vàng. Vẫn đôi mắt buồn xa vắng
long lanh đẫm lệ. Môi nàng bỗng nhỏe nụ cười hé hàm răng đều và trắng. Nàng
ngây ngất như đang sống lại thuở tình với năm xưa và gọi tên chàng. Nàng thỏ thẻ:
-«Xin anh tha lỗi cho em…,suốt mấy chục năm nay em sống như kẻ mất
hồn vì luôn nghĩ em là người đã phụ tình anh!…Em sống chỉ vì con em nhưng tâm hồn
em đã gởi theo anh từ dạo đó…Chồng em biết nhưng không hề can dự đến chuyện
riêng tư của em…và em vẫn giữ trọn đạo
làm vợ, làm mẹ cho đến ngày nay!»
Chàng nhìn nàng trìu mến nói:
-«Anh nào dám trách em!...Chuyện ngày đó chúng mình dang dở, nếu
có trách…là trách anh »
Nàng mở đôi mắt buồn hỏi:
« Tại sao ngày đó anh không dám cùng em thoát ly gia đình
đi tìm một phương trời mới hạnh phúc?»
Chàng bùi ngùi :
« Anh thú thật anh không đủ can đảm để vượt qua các lề thói
luân lý, nếu chúng ta sống với ngoài sự chấp thuận của gia đình sẽ tạo một dư
luận tai tiếng….Và còn nữa. Biết sao được đời lính của anh, lấy nhau rồi biết
đâu em sẽ thành góa phụ lúc đó em sẽ một mình hứng chịu thị phi của cả xã hội
và hai gia đình. Ngày đó anh vẫn hát cho em nghe ca khúc Ru Con Tình Cũ của Nhạc sĩ Đinh Trầm Ca.»
“Ba năm qua em trở thành thiếu phụ, ngồi ru
con như ru tình sầu, xin một đời thôi tiếc thương nhau, xin một đời ngủ yên dĩ
vãng.
Ba năm qua em trở thành thiếu phụ, ngồi ru con ru quên phận buồn, kỷ niệm nào ghi
dấu trên tay, cho lòng này giải những cơn đau...”
Chàng thành khẩn:
«Thú thật ngày đó anh còn trẻ mới ở Pháp về thích được tự do bay
nhảy chưa có ý thức sâu xa về hạnh phúc!»
Mắt đẫm lệ, nàng hỏi:
-«Chắc bây
giờ anh hiểu thế nào là hạnh phúc?!»
Chàng nhìn nàng thiết tha và dẫn chứng qua câu nói của Nhà triết
học, nhà tư tưởng người Pháp là Jean Jacques Rousseau:
-«Muốn hiểu thế nào là hạnh phúc phải biết sống cho kẻ khác,
nghĩa là phải biết yêu.»
Chàng ngước lên ánh mắt xa vời nhìn những
áng mây bay ở cuối chân trời, chàng hít mạnh không khí, và nói tiếp:
«Bây giờ
không những anh hiểu... mà còn thấm em ạ! Em xem đám mây trắng lờ lững cuối trời,
nó đẹp quá em nhỉ? Hạnh phúc thì cũng chỉ là áng mây, thứ điểm trang cho bầu
trời, nó muôn sắc nhờ ánh mắt trời, nó bồng bềnh chỉ là hơi nước tụ lại nên
mong manh sương khói cuối cùng rồi một thoáng cũng tan biến!»
Nàng rầu mặt buồn bã hỏi:
-«Mấy chục
năm gặp lại, anh có vẻ bi quan quá ?!»
Chàng nhún vai trả lời:
-«Chẳng phải bi quan đâu em!Đây chỉ là kinh nghiệm sống mà anh
đã trải qua…chiến tranh, tù đày và biệt xứ đã dạy anh hiểu thế nào là chân giá
trị của sự hạnh phúc! Có bao giờ em nghĩ hạnh phúc chỉ có thật trong giấc mơ? Anh
đã từng ôm những ước mơ lớn nhưng chỉ là giấc mơ hư! Và anh cũng có những ước
mơ nhỏ dù đó là được củ khoai nóng những lúc đói trong tù!»
Nàng nhìn chàng thương xót, nàng nghĩ :
«Có lẽ những
năm tù đày khốn khổ đã cướp mất tính hồn nhiên yêu đời của chàng?!».
Mắt nàng tha thiết nói :
-« Em muốn giúp anh một số vốn để anh dời phòng mạch về
Trung Tâm Ngưới Á Châu? »
Chàng chua chát cười:
-« Xin cảm ơn lòng tốt của em. Tình yêu là thứ cao qúy nhất
mà anh chẳng giữ được, tiền bạc cho lắm xuôi tay cũng thành sương khói! Vả lại
anh chỉ là thày thuốc của các bệnh nhân chứ không quan trọng hóa nghề bác sĩ.
Nghề bác sĩ chỉ có giá trị khi có ích lợi cho người bệnh, nghề bác sĩ không phải
dể tạo danh vọng hay tiền tài!»
Biết mình lỡ lời, nhưng nàng vẫn cảm thấy
nghèn nghẹn vì lòng tốt của mình đã bị hiểu lầm nên nàng cố dằn tự ái …và chuyển
câu chuyện. Nàng không muốn bao năm chờ đợi, giờ tìm được nhau để rồi sẽ vĩnh
viễn mất nhau!:
-« Em dạo này già rồi nên nói năng vô duyên, nhiều lúc còn
hay quên nữa anh ạ!»
Chàng ngắm nàng ánh mắt trìu mến, và tha
thiết nói:
-«Không phải thế đâu
em! Giọng em còn trong, thanh âm ngọt ngào...và nhất là em còn trẻ đẹp lắm!…Nhan
sắc nầy vẫn còn quyến rũ với đời cỡ mười, mười lăm năm nữa!»
Như một phép lạ, nàng bỗng cảm mình trở
lại tuổi đôi mươi, tâm hồn đầy hưng phấn, sự ấm áp của tình yêu thuở ban đầu.
Những giọt nưóc mắt sung sướng đã trào ra, nàng khép vội bờ mi nhưng nước mắt vẫn
ứa đầy! Nàng yên lặng tận hưởng khoảnh khắc hạnh phúc mà tưởng chừng không bao
giờ gặp lại cái giây phút mà nàng đã đợi chờ suốt mấy chục năm. Nàng biết thời
gian vẫn chưa làm dung nhan nàng phai tàn, nhưng lại không tự tin khi dứng trước
mặt chàng! Nàng rất hồi hộp và lo sợ, sợ khi gặp lại chàng sẽ chê già. Nàng run run thỏ thẻ:
-«Em…vẫn còn…yêu anh !»
Chàng
cảm thấy đôi mắt cay, nhưng cố nén xúc động và giữ khoảng cách:
-«Anh cũng thế!»
Nàng
quá xúc động bật khóc nức nở:
-«Tại sao anh không lập gia đình?»
Chàng
thở dài trầm giọng:
-«Trái tim anh một nửa cho quê hương và một
nửa cho em, tất cả đã xa khỏi tầm tay thì anh còn thiết tha gì nữa mà lập gia
đình?!»
Hàng
cây bên đường hình như thấu cảm cho mối tình ngang trái nên khẽ reo lên trong
gió và buông đầy lá vàng. Nàng nức nở khóc và ngã vào cánh tay chàng. Nàng khóc
ướt đẫm vạt áo chàng, nàng ôm chặt chàng và quên mất ngoại cảnh. Chàng cứ để
cho nàng khóc…Khóc cho bõ nhớ nhung, cho cuộc tình vơi đi những muộn phiền đã
chồng chất bao tháng ngày!
Chàng
ôm chặt nàng như sợ mất, và thầm nghĩ
-«Tình ơi ta vì em và yêu em, ta khôngmuốn
em lầm lỗi đánh mất sự tinh khiết !»
Chàng
không muốn mình trở thành kẻ phạm tội làm khổ đời nàng thêm một lần nữa nên mạnh
dạn buông nàng ra khỏi cánh tay và trân trọng tha thiết nói:
-«Anh biết suốt mấy chục năm em âm thầm
đau khổ, nhưng em vẫn là người vợ tốt, người mẹ hiền. Anh hy vọng rằng em cứ giữ
mãi đạo nghĩa đó. …Tấm lòng của em dành cho anh,...anh xin ghi khắc. Và dù mai
nầy ở bất cứ phương trời nào anh vẫn nhớ em, xin em hãy giữ lại cuộc tình, và
trân trọng nó để tình ta mãi đẹp như bài thơ anh đã viết tặng em!»
Nàng
như tỉnh giấc mơ vội lau nước mắt, môi nhỏe nụ cười buồn:
-«Biết được lòng anh, em cảm thấy tình yêu
của mình đầy ý nghĩa... đâu cần phải sống chung mới là hạnh phúc...Em đã hiểu
được cái hạnh phúc đích thực trong ý nghĩ anh....Dù anh chỉ cho em có nửa trái
tim, còn em cho anh cả tâm hồn nhưng cả hai chúng ta đều chung một hạnh phúc !»
Hai
người nắm chặt tay nhau đồng cười to lên vì đã hòa tâm ý, và từ đó họ không còn
gặp nhau nữa nhưng tình vẫn bên nhau. Trên con đường lái xe trở về nhà lòng
chàng tràn đầy niềm vui vì:“Tiền tài, danh vọng tất cả chỉ
là hư ảo, duy chỉ có tình yêu là sự thật.”
Đỗ Bình
No comments:
Post a Comment